Danh mục: Hoạt động chung

  • Sinh viên ngành Công nghệ sinh học, Trường Đại học Thuỷ lợi được nhận học bổng Vallet

    Sinh viên ngành Công nghệ sinh học, Trường Đại học Thuỷ lợi được nhận học bổng Vallet

    Học bổng Vallet được thành lập với sự tự nguyện đóng góp của GS. Odon Vallet làm việc tại Đại học Sorbonne, Cộng hòa Pháp. Đây là quỹ học bổng phi chính phủ lớn, được trao liên tục trong suốt hơn hai thập kỉ qua, với mục đích khuyến khích những học sinh, sinh viên và học viên sau đại học có tài năng, thành tích xuất sắc trong học tập và nghiên cứu. Học bổng đã đồng hành cùng các hoạt động phát triển khoa học – giáo dục của Tổ chức khoa học Gặp gỡ Việt Nam (Rencontres du Vietnam), do GS. Trần Thanh Vân và phu nhân là GS. Lê Kim Ngọc thành lập, để trao tặng học bổng cho học sinh, sinh viên ưu tú tại Việt Nam. .

    Năm nay, ngành Công nghệ sinh học  – Trường Đại học Thuỷ lợi có em Trần Hải Đăng, sinh viên lớp 62SH là một trong 15 sinh viên miền Bắc đã vinh dự được nhận học bổng Vallet giành cho lĩnh vực Sinh học và Khoa học trái đất, môi trường. Để nhận học bổng này, em Đăng đã có quá trình học tập và phấn đấu rèn luyện không ngừng và đạt được những thành tích xuất sắc trong học tập, nghiên cứu khoa học. 

    SV Trần Hải Đăng (Thứ 2 từ phải sang) nhận học bổng Vallet do GS. Trần Thanh Vân và TS. Esperan Padonou – Giám đốc Quỹ học bổng Vallet trao

    Giấy chứng nhận học bổng Vallet trao cho SV Trần Hải Đăng

    Sinh viên Trần Hải Đăng là một trong những sinh viên xuất sắc của ngành Công nghệ sinh học, với thành tích GPA toàn khoá 3.64, nhiều kì nhận học bổng khuyến khích học tập cho sinh viên xuất sắc, giỏi, Giải nhất nghiên cứu khoa học sinh viên cấp khoa năm 2024, lớp trưởng lớp 62SH. Ngay sau hoàn thành chương trình đào tạo, sinh viên Đăng đã trúng tuyển vào chương đào tạo thạc sĩ liên kết giữa trường Đại học EBERHARD KARLS, TÜBINGEN, Cộng hòa liên bang Đức với Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Trường Đại học Y dược – Đại học Thái Nguyên, đồng thời được tuyển dụng vào nhóm nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm nghiên cứu Y học Việt Đức (Hợp tác giữa Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Đại học Tübingen). Thành tích này của em Đăng là một minh chứng cho kết quả đào tạo và rèn luyện tốt của sinh viên ngành công nghệ sinh học nói riêng và sinh viên trường Đại học Thuỷ lợi.

    SV Trần Hải Đăng nhận bằng tốt nghiệp loại Xuất sắc và giấy khen toàn khoá học do PGS.TS Nguyễn Hữu Huế – Chủ tịch Hội Đồng trường và GS.TS Nguyễn Trung Việt – Phó Hiệu trưởng trao trong Lễ trao bằng tốt nghiệp tháng 9-2024

    Tin, bài: BM CNSH

    Ảnh: SV Trần Hải Đăng cung cấp

  • Trường Đại học Thủy lợi tiếp đón đoàn đại biểu đến từ Đại học Dương Minh Giao Thông (Đài Loan)

    Trường Đại học Thủy lợi tiếp đón đoàn đại biểu đến từ Đại học Dương Minh Giao Thông (Đài Loan)

    Đoàn đại biểu của NYCU gồm các thành phần tới từ Trường Kỹ thuật là GS. Albert T. Yeung, Giám đốc Hợp tác quốc tế, GS. Meng-Chia Weng và Trợ lý giáo sư Minh-Tu Cao từ Khoa Kỹ thuật Xây dựng.

    Về phía Trường Đại học Thủy Lợi, tham dự buổi làm việc có PGS. TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng, cùng đại diện Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế và Khoa Công trình.

    Buổi họp mở đầu bằng phần phát biểu chào mừng từ Trường Đại học Thủy lợi. Phó Hiệu trưởng Nguyễn Cảnh Thái bày tỏ niềm vui khi được đón tiếp đoàn đại biểu từ NYCU và mở ra những cơ hội hợp tác mới giữa hai bên.

    Đại diện cho NYCU, GS. Albert T. Yeung cũng đã có lời cảm ơn với sự tiếp đón cả nhà trường và có bài giới thiệu khái quát về NYCU.

    Đại học Quốc lập Dương Minh Giao Thông là trường đại học quốc lập nổi tiếng tại Đài Loan, được thành lập năm 2021 thông qua việc sáp nhập giữa Đại học Quốc gia Dương Minh và Đại học Quốc gia Giao Thông. NYCU có 19 trường thành viên và 74 trung tâm nghiên cứu với hơn 20 nghìn sinh viên theo học. Về đào tạo, trường nổi bật với sự kết hợp giữa thế mạnh trong nghiên cứu y sinh của Đại học Dương Minh và nghiên cứu điện tử, truyền thông của Đại học Giao Thông, tạo nên một môi trường học thuật đa dạng và liên ngành.

    NYCU hiện xếp hạng 217 trên thế giới theo bảng xếp hạng QS World University Rankings 2024, và là trường đại học đứng thứ hai tại Đài Loan. Trường có thế mạnh đặc biệt trong các lĩnh vực như kỹ thuật xây dựng, khoa học vật liệu, công nghệ môi trường, và đặc biệt là công nghệ bán dẫn.

    Các giáo sư từ NYCU cùng với các thầy cô của ĐHTL đã cùng thảo luận về các chương trình thực tập, trao đổi sinh viên và các học bổng dành cho sinh viên quốc tế. Hai bên đã trao đổi ý kiến về nhiều lĩnh vực hợp tác tiềm năng và thống nhất tiếp tục làm việc chi tiết để hướng tới ký kết biên bản ghi nhớ (MoU) nhằm hiện thực hóa các nội dung đã thảo luận.

    Kết thúc buổi làm việc, đại diện hai trường đã cùng nhau chụp ảnh và trao quà lưu niệm, bày tỏ sự kỳ vọng vào những thành quả hợp tác trong tương lai.

    Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế

    Ảnh: Phòng Chính trị và Công tác Sinh viên

  • Cuộc họp Hội đồng Trường đầu năm mới: Định hướng và phát triển

    Cuộc họp Hội đồng Trường đầu năm mới: Định hướng và phát triển

    PGS.TS Nguyễn Hữu Huế – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Trường điều hành phiên họp

    Nhân dịp đầu năm, PGS.TS Nguyễn Hữu Huế đã gửi lời chúc mừng năm mới và trao lì xì may mắn đến các thành viên Hội đồng Trường. Đây không chỉ là lời chúc tốt đẹp mà còn thể hiện sự đoàn kết, động viên tinh thần làm việc tích cực trong năm mới.

    Tổ thư ký tổng hợp phiếu theo quy định

    Tại cuộc họp, Hội đồng Trường đã thực hiện quy trình xin ý kiến về việc bổ nhiệm chức danh Hiệu trưởng theo đúng quy định. Đồng thời, nhiều nội dung quan trọng liên quan đến hoạt động chung của Nhà trường cũng được đưa ra thảo luận. Các thành viên Hội đồng Trường đã tích cực đóng góp ý kiến, tập trung vào các vấn đề cốt lõi nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện của Trường Đại học Thủy lợi.

    PGS.TS Nguyễn Hữu Huế phát biểu

    Phát biểu tại cuộc họp, PGS.TS Nguyễn Hữu Huế nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thích nghi với các xu thế mới của xã hội và chính phủ. Chủ tịch Hội đồng trường đặc biệt lưu ý đến các lĩnh vực tài chính, hành chính và nâng cao trình độ ngoại ngữ của đội ngũ giảng viên để đáp ứng xu hướng hội nhập quốc tế. Những định hướng này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị thế và chất lượng đào tạo của Nhà trường.

    Thành viên Hội đồng Trường đóng góp ý kiến

    Kết thúc phiên họp, thay mặt lãnh đạo Nhà trường, đại diện Hội đồng Trường đã gửi lời chúc mừng năm mới đến toàn thể cán bộ, giảng viên và gia đình, mong một năm mới an khang, thịnh vượng và nhiều thành công. Cuộc họp đầu xuân 2025 được đánh giá là đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo tiền đề vững chắc cho các hoạt động tiếp theo của Trường trong năm mới.

    Bình Dương

  • NCS Đinh Hoàng Quân bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp trường

    NCS Đinh Hoàng Quân bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp trường

    NCS Đinh Hoàng Quân bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Trường

    NCS Đinh Hoàng Quân bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Trường ngành Kỹ thuật xây dựng công trình thủy dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thanh Bằng và PGS.TS. Nguyễn Hữu Huế.

    Luận án được đánh giá có nhiều đóng góp mới như: (1) Thiết lập được công thức tính toán xác định các vật liệu chế tạo và mô hình mạng nơ ron nhân tạo dự đoán độ sụt, cường độ nén ở tuổi 28 ngày, trên cơ sở đó thiết kế được thành phần bê tông chất kết dính kiềm hoạt hóa tro bay – xỉ lò cao phù hợp với điều kiện Việt Nam. (2) Đề xuất giải pháp kéo dài thời gian đông kết của chất kết dính kiềm hoạt hóa tro bay – xỉ lò cao nhằm kéo dài thời gian thi công mà vẫn đảm bảo cường độ và giá thành hợp lý. Kết quả nghiên cứu được ứng dụng thành công trên thực tế tại một đoạn mái kè biển ở Hải Hậu – Nam Định.

    Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ của NCS

    NGND.GS.TS Lê Kim Truyền – Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi – Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận án của NCS cũng là người hướng dẫn đồ án tốt nghiệp ngành Công trình thủy của NCS ở bậc Đại học

    Đề tài cho thấy tính cấp thiết khi biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Với cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” năm 2050, Việt Nam đối mặt với thách thức lớn khi lượng khí nhà kính tăng từ 150.9 triệu tấn CO2 năm 2000 lên 563.8 triệu tấn năm 2020. Ngành xi măng chiếm 8.6% tổng phát thải quốc gia và gây hại môi trường trong quá trình sản xuất. Lượng tro bay từ nhà máy nhiệt điện và xỉ lò cao từ nhà máy luyện kim cũng tăng nhanh, đe dọa môi trường nếu không xử lý hiệu quả. Việc sử dụng chất kết dính kiềm hoạt hóa từ tro bay và xỉ lò cao thay thế một phần xi măng truyền thống có ý nghĩa lớn giúp giảm phát thải nhà kính và tận dụng vật liệu thải công nghiệp.

    Với đường bờ biển dài chịu tác động của biến đổi khí hậu, xây dựng công trình bảo vệ bờ biển bền vững là cần thiết. Chất kết dính kiềm hoạt hóa tro bay – xỉ lò cao có khả năng chống xâm thực trong môi trường biển nhưng chưa được ứng dụng rộng rãi do thiếu quy định, thời gian đông kết ngắn và chi phí cao.

    Luận án tiến sĩ của NCS cũng chỉ ra nhiều ý nghĩa khoa học, đặc biệt là ý nghĩa thực tiễn khi đánh giá được hiệu quả môi trường của Chất kết dính kiềm hoạt hóa tro bay – xỉ lò cao, tái chế tro bay và xỉ lò cao, góp phần giảm phát thải khí nhà kính. Đề xuất được phương pháp chế tạo BT Chất kết dính kiềm hoạt hóa tro bay – xỉ lò cao cân bằng giữa yêu cầu kinh tế và kỹ thuật, ứng dụng thành công cho một đoạn kè biển, góp phần đưa loại vật liệu mới này tiếp cận với thị trường xây dựng.

    GS.TS Nguyễn Trung Việt, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi chúc mừng NCS đã nỗ lực trong học tập, nghiên cứu và trong công tác chuyên môn tại Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng, Khoa Công trình để có được kết quả như ngày hôm nay

    Bạn bè, đồng nghiệp chúc mừng NCS bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp trường

    NCS Đinh Hoàng Quân hiện là Giảng viên chính Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng, Khoa Công trình, Trường Đại học Thủy lợi. NCS cũng là cựu sinh viên của Trường Đại học Thủy lợi, tốt nghiệp năm 2006; hoàn thành chương trình học bậc Thạc sĩ tại Viện Khoa học Ứng dụng quốc gia Rennes, CH Pháp. Năm 2024, NCS cũng hoàn thành chương trình đào tạo văn bằng 2 ngành Công nghệ thông tin tại Trường Đại học Thủy lợi.

    Theo dõi luận án tiến sĩ của NCS Đinh Hoàng Quân: TẠI ĐÂY

    Ảnh: CLB Báo chí và Truyền thông

  • Trường Đại học Thủy lợi khai Xuân rộn ràng, sẵn sàng cho năm mới

    Trường Đại học Thủy lợi khai Xuân rộn ràng, sẵn sàng cho năm mới

    Mở đầu ngày làm việc đầu năm, Nhà trường tổ chức buổi gặp mặt và chúc Tết tới toàn thể cán bộ, giảng viên tại Hội trường T45. Tại đây, các đại biểu cùng nhìn lại 10 dấu ấn quan trọng trong sự phát triển của Trường năm 2024 trên nhiều lĩnh vực như đào tạo, nghiên cứu khoa học, tuyển sinh, quản trị Nhà trường và những thành tích nổi bật của giảng viên, sinh viên… Những thành tích này là minh chứng cho sự nỗ lực không ngừng của toàn thể cán bộ, giảng viên và sinh viên, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Nhà trường trong hệ thống giáo dục đại học tại Việt Nam.

    Phát biểu tại buổi gặp mặt, GS.TS Trịnh Minh Thụ, Hiệu trưởng Nhà trường, biểu dương những nỗ lực và thành tích đạt được trong năm qua, đồng thời gửi lời chúc mừng năm mới đến toàn thể cán bộ, giảng viên, sinh viên. Thầy nhấn mạnh năm 2025 sẽ là thời điểm quan trọng với những bước đột phá trong việc hoàn thiện cơ sở vật chất, đặc biệt là cải tạo và nâng cấp hệ thống phòng thí nghiệm phục vụ công tác đào tạo. Ngoài ra, Nhà trường cũng tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu, hướng tới hội nhập sâu rộng với nền giáo dục khu vực và thế giới.

    Hiệu trưởng cũng đề cập đến thách thức của Nhà trường khi tiến tới tự chủ đại học từ năm 2026. Đây là cơ hội để Nhà trường khẳng định năng lực quản trị, nâng cao chất lượng đào tạo nhưng cũng đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ, chiến lược phát triển bền vững và sự nỗ lực không ngừng của toàn thể cán bộ, giảng viên, sinh viên. Để đạt được mục tiêu này, Nhà trường sẽ tập trung vào phát triển đội ngũ nhân sự chất lượng cao, mở rộng hợp tác doanh nghiệp và ứng dụng công nghệ trong giảng dạy.

    Trong không khí đầu Xuân, lãnh đạo Nhà trường đã gửi phong bao lì xì may mắn đến cán bộ, giảng viên, mong một năm mới thuận lợi và thành công. Đây là nét đẹp truyền thống, thể hiện sự quan tâm, chúc mừng năm mới của Nhà trước đến cán bộ, giảng viên Nhà trường. Cùng thời điểm, tại các Khoa, Trung tâm, sinh viên cũng đến chúc Tết thầy cô, tạo nên không khí ấm áp, đoàn kết, khởi đầu một năm học mới đầy hứng khởi.

    Bên cạnh hoạt động chúc Tết, các lớp học cũng nhanh chóng trở lại nhịp độ bình thường. Giảng viên và sinh viên bắt đầu những tiết học đầu tiên của năm mới với tinh thần sôi nổi, quyết tâm đạt kết quả cao trong học tập và nghiên cứu. Không chỉ dừng lại ở những bài giảng trên giảng đường, Nhà trường tiếp tục khuyến khích các hoạt động học thuật, nghiên cứu khoa học và thực hành để nâng cao chất lượng đào tạo.

    Trước đó, vào ngày mùng 6 Tết, toàn bộ cán bộ, viên chức khối phục vụ đã trở lại làm việc theo kế hoạch, đảm bảo công tác vận hành Nhà trường diễn ra liên tục và hiệu quả ngay từ những ngày đầu năm. Các phòng ban chức năng cũng nhanh chóng triển khai kế hoạch công tác năm 2025, sẵn sàng thực hiện các mục tiêu chiến lược, góp phần đưa Trường Đại học Thủy Lợi tiếp tục phát triển vững mạnh.

    ​

    Bình Dương, Ảnh: CLB Báo chí và Truyền thông TLU

  • Nghiên cứu thực trạng phát thải của một số chất hữu cơ độc hại trong thành phần khí thải lò đốt rác sinh hoạt quy mô nhỏ

    Nghiên cứu thực trạng phát thải của một số chất hữu cơ độc hại trong thành phần khí thải lò đốt rác sinh hoạt quy mô nhỏ

    ​Toàn cảnh buổi bảo vệ của NCS

    Hiện nay, vấn đề ô nhiễm chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam ngày càng trở nên trầm trọng với khối lượng ngày một tăng và thành phần phức tạp. Nguyên nhân là do sự gia tăng dân số cộng với sự lãng phí tài nguyên trong thói quen sinh hoạt. Để xử lý nguồn phát sinh chất thải rắn này, nhiều địa phương đã chọn giải pháp là đầu tư lò đốt chất thải rắn sinh hoạt cỡ nhỏ. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia môi trường, giải pháp này tuy đạt được lợi ích trước mắt nhưng lâu dài sẽ để lại nhiều hậu quả.

    Hơn nữa, xu hướng xây dựng đại trà lò đốt với công suất nhỏ để xử lý chất thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tại các vùng nông thôn đang được quan tâm đầu tư. Điều này đã dẫn đến tình trạng khó kiểm soát về mặt công nghệ đốt và các loại chất thải thứ cấp. Vĩnh Phúc và Nam Định là các tỉnh có tốc độ tăng dân số, phát triển công nghiệp, nông nghiệp và thương mại du lịch khá cao so với các tỉnh khác thuộc đồng bằng sông Hồng. Trong những năm gần đây Vĩnh Phúc, Nam Định rất chú trọng trong việc đầu tư hệ thống lò đốt chất thải rắn sinh hoạt quy mô nhỏ cho các địa phương trên địa bàn nhằm giảm thiểu lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh. Tuy nhiên, hầu
    hết hệ thống lò đốt chất thải rắn sinh hoạt này chưa đáp ứng được các yêu cầu về kĩ thuật, điều này đã gây ra ô nhiễm môi trường thứ cấp và làm ảnh hướng đến sức khỏe và đời sống của người dân khu vực. 

    Trước những vấn đề tồn tại trên nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Nghiên cứu thực trạng phát thải của một số chất hữu độc hại trong thành phần khí thải lò đốt chất thải rắn sinh hoạt quy mô nhỏ” để nghiên cứu trong khuôn khổ luận án tiến sĩ.

    NCS Nguyễn Tiến Dũng bảo vệ luận án tiến sĩ cấp trường

    Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Tiến Dũng có nhiều điểm mới, cụ thể:

    (1) Luận án đã xây dựng được một bộ hệ số phát thải một số chất hữu cơ độc hại trong khí thải lò đốt chất thải rắn sinh hoạt quy mô nhỏ tại khu vực nghiên cứu. Bộ hệ số phát thải bao gồm 2 nhóm chất là những tác nhân chính gây ô nhiễm không khí và có độc tính, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe con người: (1) 16 PAHs trên không khí; (2) 04 BTEX trên không khí.

    (2) Luận án đã bước đầu đánh giá được rủi ro môi trường của nhóm chất PAH và BTEX đến công nhân vận hành lò đốt chất thải rắn chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu.

    (3) Luận án đã xác định được tỷ lệ PAH và BTEX đặc trưng để nhận dạng nguồn phát thải đốt chất thải rắn sinh hoạt.

    Hội đồng đánh giá luận án của NCS Nguyễn Tiến Dũng

    ​

    Luận án tiến sĩ của NCS được hội đồng đánh giá tốt với nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Đó là đánh giá được mức độ ô nhiễm các chất BTEX và PAHs trong khí thải và không khí xung quanh khu vực đốt rác thải sinh hoạt bằng lò đốt công suất nhỏ. Đánh giá rủi ro phơi nhiễm của nhóm BTEX và PAHs. Công bố hệ số phát thải của 04 chất họ BTEX và 16 chất PAHs trong khí thải lò đốt rác thải sinh hoạt quy mô nhỏ.

    Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài đã xây dựng được một bộ hệ số phát thải (16 PAHs và 04 BTEX) trong khí thải lò đốt chất thải rắn sinh hoạt quy mô nhỏ tại khu vực nghiên cứu. Bước đầu đã đánh giá được ô nhiễm của nhóm chất BTEX và PAHs trong khí thải và không khí xung quanh khu vực đốt rác thải sinh hoạt bằng lò đốt công suất nhỏ và rủi ro đến sức khỏe của công nhân vận hành lò đốt.

    BV – Ảnh: Vũ Tiến Thành

  • Rạng rỡ Việt Nam

    Rạng rỡ Việt Nam

    ​

    Một mùa Xuân mới đang về, mang theo niềm hân hoan, sức sống mới trên khắp mọi miền của Tổ quốc. Mùa xuân này càng trở nên ý nghĩa hơn khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2025) như một mốc son chói lọi để cả nước bước vào một chặng đường phát triển mới, hướng tới một tương lai rạng ngời.

    Trong suốt 95 Xuân qua, Đảng ta – đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam – đã lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn gian nan, thử thách, làm nên những thắng lợi, thành tựu vĩ đại, ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử vẻ vang của dân tộc.

    Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt và với một sứ mệnh đặc biệt. Từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta và áp đặt ách thống trị tàn bạo, khiến dân tộc ta chịu cảnh nô lệ, lầm than. Với truyền thống yêu nước và tinh thần không chịu khuất phục, nhân dân ta đã vùng lên đấu tranh liên tục và mạnh mẽ bằng nhiều con đường với nhiều khuynh hướng khác nhau, từ phong trào Cần Vương đến khởi nghĩa Yên Thế, từ các phong trào Đông Du, Đông kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến khởi nghĩa Yên Bái… Nhân dân ta đã đấu tranh vô cùng anh dũng và chịu nhiều hy sinh, nhưng đều không thành công vì thiếu một đường lối đúng đắn, chưa tập hợp và phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, thiếu một phương pháp đấu tranh thích hợp và nhất là chưa có được một tổ chức lãnh đạo, một chính đảng đáp ứng được yêu cầu của  dân tộc và của thời đại.

    Cùng lúc đó, trên thế giới, sự phát triển của phong trào công nhân cùng thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một chân trời mới, thắp sáng hy vọng cho các dân tộc bị áp bức, bóc lột, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giành độc lập trên khắp các châu lục.

    Trước yêu cầu của lịch sử và với một khát vọng cháy bỏng về giải phóng dân tộc, người thanh niên yêu nước nồng nàn Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đi khắp các châu lục, qua gần 30 quốc gia, hàng trăm thành phố, vượt qua muôn vàn gian khổ, chông gai và làm rất nhiều nghề để kiếm sống, để học những “sàng khôn” của nhân loại. Chính hành trình này đã giúp Người thanh niên Việt Nam hiểu rõ cội nguồn những khổ đau của các tầng lớp nhân dân lao động là ở sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản đế quốc và hình thành nên ý thức giai cấp rõ rệt. Với quyết tâm hướng tới: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, Nguyễn Tất Thành đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin một cách tự nhiên, như một tất yếu lịch sử và đã tìm thấy ở đó những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

    Trước yêu cầu lịch sử và dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin,  người thanh niên Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành nhiều hoạt động, dày công chuẩn bị cả về tư tưởng, lý luận và con người cho sự ra đời của một tổ chức chính trị tiên phong lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam thông qua các tác phẩm như Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường Kách Mệnh (1927), đào tạo cán bộ cách mạng và thúc đẩy phong trào đấu tranh trong nước.

    Ngày 03/02/1930, tại Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc), dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã diễn ra, thống nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một quyết định có ý nghĩa lịch sử trọng đại, quy tụ các tổ chức cộng sản Việt Nam thành một lực lượng duy nhất, có đường lối cách mạng rõ ràng, thống nhất. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã xác định con đường cơ bản của cách mạng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc. Sự kiện lịch sử này đã chấm dứt cuộc khủng hoảng đường lối và tổ chức của cách mạng Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nước ta – kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

    Từ khi thành lập, với đường lối đúng đắn, với phương pháp thích hợp và sáng tạo, với năng lực tổ chức thực tiễn và sự chiến đấu ngoan cường, hy sinh anh dũng của nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên, và sự tin yêu, đùm bọc, hết lòng che chở, bảo vệ của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước giành được những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử và thời đại.

    Chỉ trong vòng 15 năm sau khi ra đời, Đảng ta đã không ngừng phát triển và lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, thành lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào ngày 02/09/1945, xoá bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam, mở ra chương mới của lịch sử dân tộc. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và cuộc sống của chính mình.

    Ngay sau thành công của Cách mạng Tháng Tám, đất nước ta phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách; cùng một lúc phải đương đầu với “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta kiên cường bảo vệ và xây dựng chính quyền non trẻ, đồng thời tích cực chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Với đường lối đúng đắn, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù trong chín năm kháng chiến gian khổ và anh dũng, đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954) về hòa bình ở Đông Dương.

    Trong suốt hơn hai mươi năm sau đó, đất nước ta bị chia cắt và chưa có hoà bình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với một ý chí sắt đá và quyết tâm không gì có thể lay chuyển, nhân dân ta đã vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, thực hiện cuộc kháng chiến vĩ đại, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, viết nên một trong những trang sử hào hùng nhất của dân tộc, một sự kiện có tầm vóc quốc tế và có tính thời đại sâu sắc. Đây là sự hiện thực hóa của tầm nhìn và quyết tâm mà Đảng ta đã đưa ra từ Đại hội III (tháng 9/1960): “Nước Việt Nam ta là một, dân tộc Việt Nam ta là một. Nhất định nước ta sẽ được thống nhất trên cơ sở độc lập và dân chủ, nhất định dân tộc sẽ được đoàn tụ trong hòa bình, tự do và hạnh phúc. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng ý chí thống nhất Tổ quốc của nhân dân cả nước ta quyết không bao giờ lay chuyển và cuối cùng chúng ta nhất định sẽ giành được thắng lợi”.

    Trong lúc phải khẩn trương khắc phục những hậu quả vô cùng nặng nề do chiến tranh để lại, đất nước ta lại tiếp tục phải đương đầu với những thử thách mới. Đảng tiếp tục lãnh đạo toàn quân và toàn dân ta vừa ra sức khôi phục kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống của người dân, vừa kiên cường chiến đấu giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và không gian sinh tồn của dân tộc. Đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế cao cả đối với nhân dân Campuchia.

    Trước những yêu cầu mới trong phát triển đất nước, để khắc phục những bất cập của cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp dẫn tới khủng hoảng kinh tế-xã hội những năm sau chiến tranh, trên cơ sở tổng kết sáng kiến, sáng tạo trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và sự thực thi của cả hệ thống chính trị và nhân dân, Đảng ta đã đề ra và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới ra đời đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn quá trình xây dựng nền kinh tế, nền quốc phòng, an ninh, công tác đối ngoại của đất nước, thể hiện bản lĩnh vững vàng, tư duy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của đất nước.

    Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã vượt qua mọi khó khăn, vươn tới những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây, cô lập, đến nay Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đã đạt trên 470 tỉ USD, đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93 % (theo chuẩn đa chiều) so với mức 60% năm 1986. Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học – công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng nâng cao. Cục diện đối ngoại không ngừng được mở rộng; vị thế, uy tín của đất nước không ngừng được lan tỏa, có những đóng góp tích cực vào giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu, đã thực hiện nhiều nhiệm vụ trong vai trò thành viên ASEAN, Liên hợp quốc và các tổ chức, thể chế quốc tế khác được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

    Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam suốt 95 năm qua bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định hàng đầu, cùng sự hy sinh, chiến đấu, lao động sáng tạo của toàn dân, toàn quân dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Trong những thời điểm khó khăn, thử thách, Đảng ta đã thể hiện rõ bản lĩnh, tinh thần đoàn kết, là một khối thống nhất về ý chí và hành động, từ đó lãnh đạo, chỉ đạo cả hệ thống chính trị nỗ lực cố gắng đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện trên các lĩnh vực. Đồng thời, thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, vững mạnh, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân. Thực tiễn đó đã khẳng định: ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ năng lực, bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm và uy tín để lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

    Nhìn lại chặng đường 95 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn vô hạn và thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – vị lãnh tụ thiên tài, người Anh hùng giải phóng dân tộc, người đã khai sáng con đường cách mạng, làm rạng danh non sông ta, đất nước ta. Chúng ta cũng thành kính tưởng nhớ các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng, các anh hùng liệt sĩ, đồng bào, đồng chí đã chiến đấu kiên cường và hy sinh quên mình trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc và ấm no của nhân dân.

    Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công lao của những người có công với nước, các gia đình liệt sĩ, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động, các thương binh, bệnh binh, các đồng chí từng bị giam cầm trong nhà tù của thực dân, đế quốc, các chiến sĩ đã chiến đấu trên mọi mặt trận và thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, các cựu chiến bình và những người miệt mài lao động, sáng tạo làm ra của cải vật chất cho xã hội. Chúng ta cũng luôn biết ơn các đồng chí, bạn bè quốc tế đã luôn đồng hành, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây, cũng như tiếp tục hợp tác, hỗ trợ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày nay.

    Nhìn lại lịch sử, truyền thống vẻ vang và đầy tự hào của Đảng trong 95 năm qua, chúng ta càng thấy rõ hơn trách nhiệm của thế hệ lãnh đạo và đảng viên hôm nay trong tiến trình lịch sử của dân tộc. Sứ mệnh của Đảng hiện nay là phải lãnh đạo, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu; bảo đảm mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới, vì hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Ưu tiên hàng đầu là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao.

    Để tiếp tục gánh vác trọng trách đó của lịch sử, Đảng phải không ngừng lớn mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu và sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Đảng phải luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, phát huy dân chủ trong nội bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, trong sạch, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, Đảng phải không ngừng hoàn thiện lý luận, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, tạo nền tảng vững chắc để lãnh đạo đất nước phát triển nhanh và bền vững. Trước những yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và những thách thức từ tình hình thế giới, công tác xây dựng Đảng càng cần được quan tâm, đổi mới và thực hiện quyết liệt hơn nữa, tập trung vào các nhóm vấn đề trọng tâm sau đây:

    Một là, tiếp tục kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Đảng ta ra đời với sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu đấu tranh giành độc lập, đến khi trở thành Đảng cầm quyền, Đảng luôn kiên định mục tiêu giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng không tồn tại vì lợi ích riêng mà hoạt động vì quyền lợi của toàn dân. Quyền lực lãnh đạo của Đảng không phải tự thân mà có, mà do nhân dân trao quyền, là sự ủy thác của nhân dân. Đảng không có mục đích nào khác là đấu tranh vì lợi ích của nhân dân, quốc gia và dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Chính vì vậy, Đảng phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu cao nhất, giữ vững bản chất cách mạng và vai trò tiên phong của mình. Trong bối cảnh hiện nay, Đảng càng phải kiên định nền tảng tư tưởng của mình, tiếp tục vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn, bảo vệ vững chắc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, Đảng phải không ngừng đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để tiếp tục dẫn dắt dân tộc trên con đường phát triển trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    Hai là, không ngừng hoàn thiện hệ thống lý luận của Đảng. Nền tảng lý luận vững chắc là kim chỉ nam cho hành động của Đảng, quyết định sự đúng đắn trong đường lối lãnh đạo và chiến lược phát triển đất nước. Trải qua hơn 95 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng đã đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm, từng bước phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về quốc phòng, an ninh và đối ngoại cùng nhiều lĩnh vực quan trọng khác. Việc hoàn thiện nền tảng lý luận là yêu cầu cấp thiết để Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước trong bối cảnh thế giới hôm nay đang diễn ra những biến chuyển sâu sắc trên tất cả các mặt của đời sống. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, thực tiễn luôn đặt ra những vấn đề mới, đòi hỏi Đảng phải không ngừng tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận.

    Công tác tổng kết thực tiễn cần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá chính xác kết quả đạt được, thẳng thắn, khách quan chỉ ra những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm và nguyên nhân; nhận diện rõ những điểm nghẽn, nút thắt đang kìm hãm sự phát triển của đất nước, từ đó đề xuất các giải pháp đột phá, tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình phát triển trong thời gian tới. Công tác nghiên cứu cũng cần chỉ rõ hơn đâu là cơ hội lớn cần tận dụng, đâu là thách thức lớn cần vượt qua, những yếu tố mới của thực tiễn cần bổ sung là gì. Sự thẳng thắn, khách quan, khoa học, trung thực, kiên định và thận trọng là cần thiết để tránh sai lầm, duy ý chí. Các vấn đề này cần được làm rõ trong quá trình xây dựng các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Đây không chỉ là công việc của cơ quan chuyên môn của Đảng mà còn đòi hỏi sự tham gia của toàn hệ thống chính trị, đội ngũ trí thức, các cơ quan nghiên cứu lý luận và từng cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước.

    Ba là, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại, phát triển của Đảng. Cần không ngừng củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của từng tổ chức Đảng; xây dựng tổ chức cơ sở Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, làm nòng cốt trong hệ thống chính trị và gắn bó mật thiết với nhân dân. Đồng thời, cần tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát để giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí cần được tiếp tục triển khai quyết liệt, đồng bộ, toàn diện, bài bản, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, góp phần làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng. Cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu các cấp ủy đảng cần đề cao trách nhiệm nêu gương, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, kịp thời giải quyết những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội. Đồng thời, cần phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, bảo đảm Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo trung thành với lợi ích của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân.

    Bốn là, quyết tâm củng cố tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, khắc phục tình trạng cồng kềnh, chồng chéo. Trong nhiều kỳ đại hội gần đây, các văn kiện đại hội đều nhấn mạnh các nhiệm vụ cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Đảng cũng đã liên tục ban hành nhiều Nghị quyết, Kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt, việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa đồng bộ, tổng thể, chưa gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại… Chính vì vậy, cho đến nay tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ công tác giữa nhiều cơ quan, bộ phận chưa thật rõ ràng, còn trùng lắp, chồng chéo; phân định trách nhiệm, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, hợp lý, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót hoặc không đầu tư thích đáng. So với những thay đổi to lớn của đất nước sau 40 năm đổi mới, sự phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và những thành tựu khoa học công nghệ, tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta cơ bản vẫn theo mô hình được thiết kế từ hàng chục năm trước, nhiều vấn đề không còn phù hợp với điều kiện mới là trái với quy luật phát triển; tạo ra tình trạng “Nói không đi đôi với làm”. Vì vậy, công tác trọng tâm trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới là xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

    Năm là, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp. Trước yêu cầu phát triển và hội nhập ngày càng cao, đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, phải đáp ứng những tiêu chuẩn quan trọng: có bản lĩnh chính trị vững vàng; có đạo đức trong sáng, tinh thần trách nhiệm cao, thực sự gương mẫu, liêm chính, tận tụy phục vụ nhân dân, không vụ lợi cá nhân, không tham nhũng, tiêu cực; có tư duy đổi mới, sáng tạo; biết nắm bắt cơ hội, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, không né tránh, trì trệ, thụ động trước những vấn đề mới phát sinh; có năng lực thực tiễn, khả năng lãnh đạo, quản lý. Để làm được điều này, cần đổi mới mạnh mẽ tư duy trong công tác cán bộ. Các quy trình về công tác cán bộ phải trở thành cơ chế để lựa chọn người tốt nhất, người xứng đáng nhất, chứ không phải là cơ chế để hợp thức hóa việc tuyển chọn, bổ nhiệm, đề bạt người không đảm bảo tiêu chuẩn, không thực sự tiêu biểu, không thực sự vì dân. Ngoài việc minh bạch hóa quy trình bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ và tăng cường kiểm tra, giám sát, cần xây dựng cơ chế phát hiện, bảo vệ và trọng dụng người tài, đồng thời có cơ chế xử lý trách nhiệm rõ ràng, trong đó ai giới thiệu, bổ nhiệm cán bộ sai tiêu chuẩn, thiếu phẩm chất, yếu năng lực thì phải chịu trách nhiệm. Đồng thời, cần kiên quyết chống chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm trong công tác quy hoạch, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ.

    Sáu là, tăng cường công tác ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng. Các tiến bộ về công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội. Việc ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ vào công tác xây dựng Đảng không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là một bước đột phá nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong tình hình mới. Công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo sẽ góp phần hiện đại hóa công tác quản lý đảng viên, điều hành tổ chức Đảng. Việc xây dựng hệ thống quản lý đảng viên trên nền tảng số giúp tăng cường tính minh bạch, chính xác và hiệu quả trong quản lý hồ sơ, quá trình công tác, đánh giá, phân loại đảng viên. Điều này giúp các cấp ủy nắm bắt chính xác tình hình đội ngũ, từ đó có cơ chế đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển hợp lý, khắc phục tình trạng quan liêu, thiếu thực tiễn. Công nghệ số cũng giúp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng. Các nền tảng số, mạng xã hội có thể được sử dụng để tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng đến đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân một cách nhanh chóng, sinh động, hiệu quả. Các công nghệ mới cũng giúp nâng cao năng lực phát hiện sớm các vấn đề nổi cộm, phân tích, dự báo, đề xuất giải pháp phù hợp. Công nghệ số cung cấp dữ liệu chính xác, khách quan, giúp các cấp ủy đưa ra quyết định đúng đắn, dựa trên những phân tích khoa học thay vì cảm tính.

    Bảy là, nhiệm vụ trọng tâm cấp bách trong năm 2025 của các cấp ủy đảng, từng chi bộ, mỗi đảng viên tập trung sức lực, trí tuệ cùng nhân dân phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đã được nêu trong các Nghị quyết của các cấp ủy Đảng, đặc biệt chú trọng các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội; tổ chức tiến hành đại hội đại biểu Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trong đó chú trọng đóng góp ý kiến vào nội dung văn kiện của Đảng;  giới thiệu và lựa chọn những người thật tiêu biểu, vì nước, vì dân tham gia vào hệ thống chính trị các cấp; tạo không khí thật sự dân chủ, đoàn kết, hăng say lao động sản xuất, xây dựng, phát triển quê hương đất nước trong mọi tầng lớp nhân dân.

    Nhìn lại 95 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng, chúng ta có quyền tự hào và hoàn toàn tin tưởng vào tương lai rạng rỡ của Đảng và của dân tộc. Năm 1945, khi lãnh đạo toàn dân thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta chỉ có gần 5.000 đảng viên, nhưng với đường lối đúng đắn, tinh thần kiên trung, ý chí quật cường và lòng yêu nước, Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi vẻ vang, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đến năm 1960, khi đất nước bước vào giai đoạn kháng chiến trường kỳ chống Mỹ cứu nước, số lượng đảng viên đã tăng lên khoảng 500.000 người, trở thành hạt nhân dẫn dắt toàn dân tộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước. Ngày nay, với hơn 5,4 triệu đảng viên, lực lượng của chúng ta không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đủ sức gánh vác trọng trách đưa đất nước tiến lên trong thời kỳ mới. Mỗi đảng viên chính là biểu tượng của niềm tin, trí tuệ và ý chí đoàn kết của cả dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ tiếp tục hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình. Vững tin vào sức mạnh của Đảng và sự đoàn kết của toàn dân tộc, chúng ta khẳng định: Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta sẽ đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới, xây dựng một tương lai huy hoàng, rạng rỡ cho dân tộc Việt Nam.

    Nguồn: 

    https://vtv.vn/chinh-tri/rang-ro-viet-nam-20250131110616295.htm?fbclid=IwY2xjawINC5dleHRuA2FlbQIxMQABHW0ucyrprnKGK5QBR5dFXKpmZg-2g7eqNlV1fLhUFd2cjzxIm2lALFJ5jw_aem_keCy0m17VcLeXvilV7KaQQ

  • NCS Nguyễn Phan Việt bảo vệ Luận án Tiến sĩ cấp trường

    NCS Nguyễn Phan Việt bảo vệ Luận án Tiến sĩ cấp trường

    NCS Nguyễn Phan Việt hiện đang công tác tại Khoa Tự động và Phương tiện kỹ thuật PC, CC, CN, CH, Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy. Trước đó, ông đã hoàn thành chương trình đại học và thạc sĩ tại Trường Đại học Thủy Lợi, với tấm bằng tốt nghiệp đại học năm 2009 và thạc sĩ năm 2014. Với nền tảng học vấn vững chắc và sự đam mê nghiên cứu, NCS Nguyễn Phan Việt đã không ngừng nỗ lực để tiếp tục con đường học thuật và đạt được những thành công trong sự nghiệp nghiên cứu.

    Đề tài luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Phan Việt tập trung vào vấn đề môi trường và sự ảnh hưởng của việc sử dụng nước tưới ô nhiễm trong các khu vực trồng lúa. Đề tài  “Nghiên cứu ảnh hưởng của nước tưới ô nhiễm đến hàm lượng Nitơ (N) và Phốt pho (P) trong nước ngầm tầng nông khu vực trồng lúa, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.” Đây là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh Nguồn nước ngầm huyện Gia Lâm hiện tại vẫn được sử dụng cho cấp nước sinh hoạt trong nhiều hộ gia đình. Do nguồn nước máy chưa ổn định dẫn đến không đủ lưu lượng, một phần do tập quán của người dân vẫn khai thác và sử dụng các giếng thông qua hệ thống bể lọc cát phục vụ cho sinh hoạt.

    Đề tài luận án được thực hiện trong khuôn khổ ngành Kỹ thuật cấp thoát nước (Mã số 9580213) và được sự hướng dẫn khoa học của hai chuyên gia trong ngành: TS. Đinh Thị Lan Phương và TS. Nguyễn Thị Ngọc Dinh, những người đã đồng hành và hỗ trợ NCS Nguyễn Phan Việt trong suốt quá trình nghiên cứu.

    Trong buổi lễ bảo vệ, ngoài sự hiện diện của các thành viên Hội đồng đánh giá luận án, còn có sự tham gia của GS.TS Nguyễn Trung Việt, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy Lợi. Tại đây, GS Nguyễn Trung Việt đã phát biểu chúc mừng NCS Nguyễn Phan Việt về những thành tựu đạt được, đồng thời bày tỏ sự tự hào về cựu sinh viên đã không ngừng phấn đấu và khẳng định được năng lực trong công tác nghiên cứu khoa học. GS Việt nhấn mạnh rằng, NCS Nguyễn Phan Việt là một cựu sinh viên công tác trong môi trường Phòng cháy chữa cháy cho thấy sự thành công trong công tác đào tạo, nghiên cứu và phát triển tại Trường Đại học Thủy lợi, đồng thời góp phần nâng cao uy tín của nhà trường trong xã hội.

    Nước ngầm chiếm khoảng 30% lượng nước ngọt toàn cầu. Đây đang là nguồn nước được khai thác phục vụ cho khoảng 2 tỉ người cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất. Ở nhiều nơi, tỷ lệ sử dụng nước ngầm có thể lên tới 100% cho mục đích sinh hoạt, tưới tiêu và công nghiệp. Cho đến nay trên toàn cầu đã có khoảng 60% các khu vực bị ô nhiễm N trong nước ngầm, tình trạng ô nhiễm thường xảy ra ở các vùng nông nghiệp. Nguyên nhân sử dụng nước tưới ô nhiễm và áp dụng phân bón quá mức khuyến cáo, sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người nếu khai thác và sử dụng trực tiếp nguồn nước đó. Do đó, bảo vệ nguồn nước ngầm để phục vụ cho kinh tế, dân sinh là nhiệm vụ hết sức cấp bách.

    Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong những năm gần đây nguồn nước ngầm huyện Gia Lâm đang có dấu hiệu ô nhiễm N và chưa có dấu hiệu ô nhiễm P. Nguyên nhân là do ô nhiễm nước bề mặt và các hệ thống nước tưới.

    Điển hình nước trên hệ thống Bắc Hưng Hải có hàm lượng N và P cao hơn QCVN 08-MT:2015/BTNMT từ 2,48 – 4,15 lần [3]; hệ thống thủy lợi Bắc Đuống giai đoạn 2019 – 2021 có hàm lượng N vượt QCVN 08-MT:2015 BTNMT từ 36,3% – 100% .

    Nguồn nước ngầm huyện Gia Lâm hiện tại vẫn được sử dụng cho cấp nước sinh hoạt trong nhiều hộ gia đình. Do nguồn nước máy chưa ổn định dẫn đến không đủ lưu lượng, một phần do tập quán của người dân vẫn khai thác và sử dụng các giếng thông qua hệ thống bể lọc cát phục vụ cho sinh hoạt. Do đó, làm rõ tác động của nước tưới ô nhiễm đến N và P tới nước ngầm tầng nông huyện Gia Lâm là hết sức cấp thiết.

    Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình khoa học nào công bố các nghiên cứu về ảnh hưởng của nước tưới ô nhiễm đến N và P trong nước ngầm tầng nông huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Trong đó, tồn tại cần được làm rõ là sự tích hợp giữa chế độ phân bón khuyến cáo và nước tưới ô nhiễm có làm gia tăng hàm lượng N, P trong nước ngầm tầng nông không. Do đó, luận án ‘‘Nghiên cứu ảnh hưởng của nước tưới ô nhiễm đến hàm lượng nitơ (N) và phốt pho (P) trong nước ngầm tầng nông khu vực trồng lúa huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội“ được thực hiện. Kết quả của luận án cung cấp cơ sở khoa học về quản lý phân bón và kiểm soát, xử lý ô nhiễm nước tưới để bảo vệ nguồn nước ngầm phục vụ cho mục đích khai thác và đảm bảo chất lượng cho người sử dụng.

    Chi tiết luận án TẠI ĐÂY

    Bình Dương

  • Trường Đại học Thủy lợi tiếp đón các đoàn đại biểu đến từ CSIRO, Đại học Griffith (Australia) và Đại học Chulalongkorn (Thái Lan).

    Trường Đại học Thủy lợi tiếp đón các đoàn đại biểu đến từ CSIRO, Đại học Griffith (Australia) và Đại học Chulalongkorn (Thái Lan).

    Tham dự buổi làm việc, phía đối tác quốc tế gồm các chuyên gia trong đa dạng lĩnh vực là GS. Tim Malthus và TS. Nguyễn Duy đến từ CSIRO, với chuyên môn về viễn thám, IoT và mô hình hóa chất lượng nước. Đại học Griffith có sự góp mặt của GS. Kelvin O’Halloran và PGS. Edoardo Bertone, những chuyên gia nổi bật trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước và năng lượng. Đại diện từ Đại học Chulalongkorn, GS. Penjai Sompongchaiyakul, là chuyên gia uy tín về hóa học biển và ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, còn có sự tham gia của TS. Thái Mai Thành từ VinUni, chuyên gia trong lĩnh vực robot và khoa học dữ liệu, và ông Hoàng Dũng, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần tư vấn và tích hợp Công nghệ D&L cùng các phóng viên từ Báo Tiền Phong và Báo Nông thôn Ngày nay.

    Về phía Trường Đại học Thủy lợi, đại diện Ban Giám hiệu Nhà trường có GS. Nguyễn Trung Việt, Phó Hiệu trưởng, cùng đại diện Phòng Khoa học Công nghệ và hợp tác Quốc tế cùng các Khoa Hóa và Môi trường, Khoa Công trình, Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước, Khoa Kinh tế và Quản lý.

    Buổi họp mở đầu với bài phát biểu chào mừng từ GS. Nguyễn Trung Việt cảm ơn tới các đối tác đã dành thời gian tới thăm và làm việc cùng Trường ĐHTL và bày tỏ niềm vui khi hai bên có cơ hội trao đổi chuyên và các nghiên cứu đã và đang triển khai.

    Đại diện CSIRO, GS. Tim Malthus cũng gửi lời cảm ơn tới nhà trường và giới thiệu về tổ chức của mình. CSIRO là tổ chức nghiên cứu khoa học hàng đầu thuộc chính phủ Úc, nổi tiếng với các phát minh quan trọng như công nghệ Wi-Fi, cải tiến trong nông nghiệp, và các giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu.

    GS. Kelvin O’Halloran chia sẻ về Đại học Griffith. Đây là trường thuộc top 2% các trường đại học hàng đầu thế giới, tập trung vào các vấn đề xã hội và môi trường, với thế mạnh về nghiên cứu châu Á, khoa học môi trường và phát triển bền vững.

    Trong khi đó, Đại học Chulalongkorn với đại diện tham dự là GS. Penjai Sompongchaiyakul hiện là trường đại học danh tiếng số một tại Thái Lan, cung cấp đào tạo đa ngành và được xếp hạng cao trên thế giới về về việc sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp (theo bảng xếp hạng QS).

    Tiếp nối chương trình, các chuyên gia đến từ các bên cùng nhau trình bày và thảo luận về các nghiên cứu đã và đang tiến hành. Mở đầu là phần trình bày của GS. Penjai Sompongchaiyakul về vấn đề chất lượng nước tại Thái Lan. Lần lượt tiếp nối sau đó là bài chia sẻ của PGS. TS. Lê Văn Chính về dự án KC 14, nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng nước của các hệ thống thuỷ lợi. PGS. Edoardo Bertone với nội dung về dự án DFAT tại Thái Lan, bài nghiên cứu về hệ thống mô hình đánh giá và dự báo sự thay đổi hình thái tại các vùng ven biển miền Trung Việt Nam của PGS. TS. Đinh Nhật Quang, GS. Tim Malthus từ CSIRO mang đến những ứng dụng công nghệ tiên tiến từ các thiết bị AquaWatch và HydraSpectra. Cuối cùng, là bài phát biểu PGS. TS. Lê Hải Trung về Living Lab.

    Ngoài phiên trao đổi thảo luận chính thức, các đoàn đại biểu đã tham quan phòng thí nghiệm Kỹ thuật Hóa học tại trường, quan sát các nghiên cứu ứng dụng thực tế tại khu vực thí nghiệm.

    Kết thúc buổi họp, các bên thống nhất mong muốn thúc đẩy hợp tác, hướng tới những bước phát triển mới trong các lĩnh vực nghiên cứu chung, mở ra các triển vọng trong tương lai.

    Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế

    Ảnh: Phòng Chính trị và Công tác Sinh viên