Danh mục: Tin tức & thông báo

  • Chương trình giảng bài của chuyên gia đến từ nước Úc.

    Chương trình giảng bài của chuyên gia đến từ nước Úc.

    Chiều ngày 15/11/2010, PGS.TS. Trịnh Minh Thụ – Phó Hiệu trưởng Nhà trường đã dẫn đầu đoàn đại diện các thầy cô giáo và các bạn sinh viên đến tiếp vấn với đoàn chuyên gia người Úc. Cuộc hội thảo đã được bắt đầu cùng với sự tham dự của các thầy cô giáo bộ môn Sinh hóa môi trường và sinh viên hai lớp 50NK, 51NK. Mở đầu cuộc hội thảo, ThS.Pham Hồng Nga – Trưởng phòng Hợp tác quốc tế giới thiệu về các chuyên gia người Úc đến từ đại học Flinders. Đại học Flinders là một trường đại học uy tín chất lượng với sự nghiên cứu chuyên sâu về ngành sinh hóa môi trường. Môi trường giảng dạy và các trang thiết bị hiện đại sẽ rất phù hợp với những ai quan tâm đến việc học Masters và nghiên cứu sinh tại ngôi trường này, bạn có thể ghé thăm website sau: www.flinders.edu.au.


     







    PGS.TS Trịnh Minh Thụ – Phó Hiệu Nhà trường tiếp đón đoàn.


     Tiếp đó, bài giảng của giáo sư Andy Ball về lĩnh vực công nghệ sinh hóa môi trường trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng trong kinh doanh ở Úc. Kĩ thuật công nghệ hóa sinh là một ngành tiềm năng lớn. Lĩnh vực này ứng dụng rất hiệu quả trong nông nghiệp, công nghiệp , y tế và môi trường, trong đó phải kể đến công nghệ xử lý nước thải và làm sạch môi trường được giáo sư giới thiệu chi tiết những giải pháp và kết quả đạt được khi tiến hành thí nghiệm của trường đại học Flinders ở miền Nam nước Úc đã thành công tốt đẹp với mức chi phí phù hợp sẽ là ứng dụng hữu ích ở các nước đang phát triển như Maylaysia, Campuchia , Việt Nam… Đặc biệt Flinders University có sự liên kết giữa công ty và nhà trường để có thể ứng dụng những công nghệ mới vào thực tế.  Đây sẽ là môi trường học tập, nghiên cứu lý tưởng cho các bạn sinh viên quan tâm đến chuyên ngành này.


     







    Các GS đang truyền đạt kiến thức trên lớp học…


     






    …và giải đáp những thắc mắc của sinh viên.


    Kết thúc bài giảng, sự hào hứng của các thầy cô giáo lẫn các bạn sinh viên là những câu hỏi thú vị xung quanh những kĩ thuật mới và ứng dụng của nó được giáo sư giới thiệu như Tankclean làm sạch dầu , những công nghệ sạch xử lý rác thải tối ưu hay tiềm năng của công nghệ này khi áp dụng vào Việt Nam sẽ ra sao… Tóm lại, với sự hợp tác giữa hai trường đại học Thủy lợi và trường đai học Flinders chúng ta hy vọng sẽ  có thêm sự hợp tác mang tầm quốc tế giữa hai trường và với các chuyên gia về lĩnh vực môi trường để đại học Thủy Lợi ngày càng có nhiều bước tiến vững mạnh hơn. Cuộc hội thảo đã kết thúc thành công tốt đẹp!


    Khương Minh Nguyệt.

  • Hội nghị cấp ủy đầu năm học 2010-2011

    Hội nghị cấp ủy đầu năm học 2010-2011

    Sáng ngày 26/10/2010 Hội nghị cấp ủy đầu năm học 2010-2011 đã được diễn ra dưới sự chủ trì của GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy Trường. Đây là Hội nghị được tổ chức lần thứ 2 trong năm 2010 nhằm phổ biến, triển khai nhiều nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2010-2011. Tới tham dự Hội nghị có các đ/c Đảng ủy viên Trường, Trưởng, phó và ủy viên các Ban của Đảng ủy, Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm và các ủy viên của Ủy ban kiểm tra Đảng ủy, các đ/c Đảng ủy viên các Đảng bộ bộ phận cùng toàn thể các đ/c trong Ban chi ủy của các chi bộ.










    Hội nghị cấp uỷ đầu năm học diễn ra dưới sự chủ trì của GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng uỷ Nhà trường

    Với mục đích giúp cho các đ/c tham dự Hội nghị nắm được tình hình chung của Đảng bộ và nhà trường trên các mặt hoạt động, Hội nghị đã được nghe đ/c Phó Bí thư Đảng ủy Dương Thanh Lượng trình bày “Báo cáo kiểm điểm công tác của Đảng bộ Trường từ đầu năm đến nay tháng 10/2010”, trong đó đánh giá những mặt công tác chính đã thực hiện như làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong đảng viên, giảng viên, cán bộ, nhân viên và sinh viên trước ĐH Đảng các cấp; đã triển khai thực hiện đúng kế hoạch của Đảng ủy cấp trên về tổ chức ĐH Đảng bộ Trường tiến tới ĐH Đảng bộ Khối các trường ĐH, CĐ lần thứ nhất và ĐH Đảng toàn quốc lần thứ XI; đã triển khai chương trình hành động của Trường về đổi mới quản lý giáo dục ĐH giai đoạn 2010-2012 của Bộ GD&ĐT; tiến hành rà soát, đánh giá tình hình thực hiện và kết quả đào tạo theo học chế tín chỉ, công tác giáo trình được đẩy mạnh, cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo từng bước được mở rộng,…Báo cáo đã nhấn mạnh những kết quả đạt được trong công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên mới. Qua 3 đợt, Đảng ủy đã kết nạp được 89 đảng viên mới, góp phần tăng cường thêm lực lượng đảng viên trẻ cho Đảng bộ… Đồng thời, đ/c Phó Bí thư cũng nhấn mạnh những công việc trọng tâm trong 3 tháng còn lại của năm như tiếp tục làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong toàn Đảng bộ và nhà trường, đẩy mạnh việc tổng kết giai đoạn chuyển đổi 2006-2010 và xây dựng kế hoạch chiến lược chi tiết giai đoạn 2011-2015; hoàn thành các dự án khoa học công nghệ theo đúng tiến độ và chất lượng; làm tốt công tác phát triển đội ngũ, triển khai côn tác đánh giá chất lượng đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng … Ngoài ra những giải pháp chủ yếu để triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học 2010-2011 cũng đã được đ/c Phó Bí thư nhấn mạnh thông qua phổ biến, quán triệt những nội dung trong “Nghị quyết về việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm học 2010-2011” của Đảng ủy.


    Với đặc điểm của năm học 2010-2011 là năm học kết thúc giai đoạn chuyển đổi của chiến lược phát triển Trường giai đoạn 2006-2010 và cũng là năm đầu tiên xây dựng kế hoạch chiến lược chi tiết, triển khai thực hiện chiến lược giai đoạn tiếp theo (2011-2015), Hội nghị đã được nghe đ/c Phạm Ngọc Quý – Phó Hiệu trưởng, thay mặt Ban Giám hiệu báo cáo tới Hội nghị việc triển khai thực hiện Kế hoạch tổng kết thực hiện chiến lược giai đoạn chuyển đổi (2006-2010) và xây dựng kế hoạch chiến lược giai đoạn 2 (2011-2015). Đ/c Phó Hiệu trưởng lưu ý đây là 1 trong những nhiệm vụ rất quan trọng từ nay đến cuối năm 2010 nên đề nghị các đ/c cấp ủy quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện cụ thể tại đơn vị.


    Ngoài ra, các đ/c tham gia cấp ủy còn được cung cấp những thông tin đầy đủ và cụ thể về các mặt công tác Đảng trong năm học thông qua nghe các đ/c đại diện cho Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận, Ủy ban kiểm tra của Đảng ủy phổ biến chương trình công tác của Ban, Ủy ban mình. Từ đó xác định trách nhiệm của chi ủy, đảng ủy bộ phận trong việc phối hợp với các Ban và Ủy ban của Đảng ủy để triển khai thực hiện có hiệu quả những mặt công tác.


    Một nội dung mới trong Hội nghị lần này là các đ/c tham dự Hội nghị được nghe đ/c Vũ Minh Cát thay mặt Ban chỉ đạo thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trình bày Báo cáo tổng kết 4 năm thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” sau khi đã tiếp thu ý kiến góp ý từ Hội nghị các chi bộ. Báo cáo đã tổng kết đánh giá về công tác chỉ đạo thực hiện cuộc vận động của Đảng ủy, của Ban chỉ đạo; về công tác triển khai thực hiện cuộc vận động trong toàn đảng bộ và nhà trường dưới những hình thức và bằng nhiều phương pháp khác nhau; về tác động của cuộc vận động đối với công tác xây dựng Đảng và thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ trong gần 4 năm qua. Qua thực tiễn lãnh đạo triển khai thực hiện cuộc vận động và với những kết quả đạt được, trong Báo cáo đã rút ra một số bài học chủ yếu và đưa ra những đề xuất, kiến nghị. Để tôn vinh những tập thể và cá nhân học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong gần 4 năm qua, Đảng ủy đã quyết định khen thưởng 20 tập thể (trong đó có 19 chi bộ và 1 đơn vị) và 57 cá nhân (trong đó có 53 đảng viên và 4 quần chúng) có thành tích xuất sắc trong thực hiện cuộc vận động giai đoạn 2007-2010. Đồng thời đề  nghị Đảng ủy Khối các trường ĐH, CĐ Hà nội biểu dương, khen thưởng 4 tập thể và 17 cá nhân.


    Tiếp đó là lễ công bố quyết định và khen thưởng 20 tập thể, đơn vị và 57 cá nhân tiêu biểu trong cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gưong đạo đức Hồ Chí Minh










    Khen thưởng các tập thể tiêu biểu trong thực hiện Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh


    Sau khi nghe các báo cáo và chương trình hành động của các Ban Đảng, đồng chí Phạm Ngọc Quý – BTĐU, Phó Hiệu trưởng Nhà trường đã tổng kết nêu bật tinh thần chung của năm học 2010 – 2011:Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng bộ và của Nhà trường để triển khai đánh giá kết quả của Chiến lược phát triển Nhà trường giai đoạn Chuyển đổi 2006 – 2010 và lập kế hoạch chi tiết cho giai đoạn Phát triển 2011 – 2015, đồng thời triển khai các nhiệm vụ thường xuyên của Đảng bộ , xây dưng Đảng bộ vững mạnh tiến tới ĐH Đảng bộ Trường lần thứ 26.


    Hội nghị Cấp uỷ năm học 2010 – 2011 đã kết thúc thành công tốt đẹp trong buổi sáng cùng ngày.


     


    Hồng Vĩnh

  • 12 gương mặt chung kết Nữ sinh thanh lịch đại học Thuỷ lợi 2010

    12 gương mặt chung kết Nữ sinh thanh lịch đại học Thuỷ lợi 2010

    1.SBD 001 Chử Thị Thùy Linh


    Lớp: 50MT


    Chiều cao:1m68


    Sở trường : Nấu ăn, hát, thuyết trình trước đám đông


     








    2.SBD 002 Nguyễn Thị Kim Nhân


    Lớp:51N1


    Chiều cao: 1m65


    Sở trường:Múa, làm đồ handmade


     








    3.SBD:003 Ngô Thúy Hằng


    Lớp:51QT


    Chiều cao:1m72


    Sở trường:Làm đồ handmade, bơi lội, vẽ tranh


     








    4.SBD 004 Nguyễn Thị Hồng Oanh


    Lớp: 51B1


    Chiều cao: 1m60


    Sở trường: Hát, múa, đánh cờ, nấu ăn, làm MC


     








    5.SBD 005 Lê Thị  Thảo


    Lớp: 50QT


    Chiều cao: 1m62


    Sở trường: Đọc sách, nấu ăn, thiết kế thời trang


     








    6.SBD 006 Vũ Thị Quỳnh


    Lớp: 51N2


    Chièu cao: 1m70


    Sở trường: Thiết kế thời trang, bóng chuyền, cầu lông


     








    7.SBD 007 Hoàng Thị Nga


    Lớp:52C3


    Chiều cao:1m63


    Sở trường: Ca hát, giao tiếp tốt,thuyết trình trước đám đông


     








    8. SBD 008 Vũ Thị Yến


    Lớp: 50QT


    Chiều cao: 1m65


    Sở trường:Thể thao, ca hát


     








    9. SBD 009 Phùng Thị Trang


    Lớp:52Đ1


    Chiều cao:1m63


    Sở trường:Cắm hoa,ca hát


     








    10. SBD 010 Phạm Thị Hương


    Lớp: 52M2


    Chiều cao:1m70


    Sở trường: Ca hát, thuyết trình trước đám đông


     








    11. SBD 011 Hoàng Yến


    Lớp: 51TH1


    Chiều cao: 1m58


    Sở trường:Dance sport, nhảy hiện đại, cắm hoa, nấu ăn


     










    12.SBD 012 Trần Minh Hằng


    Lớp: 51V


    Chiều cao: 1m61


    Sở trường: Ca hát, nấu ăn


     







  • Tin về Hội nghị Đại biểu cán bộ viên chức và tổng kết năm học 2009 – 2010

    Tin về Hội nghị Đại biểu cán bộ viên chức và tổng kết năm học 2009 – 2010







     


    Hội nghị Đại biểu cán bộ viên chức và tổng kết năm học 2009 – 2010 Trường Đại học Thuỷ lợi đã sôi nổi diễn ra tại Hội trường T45 vào sáng 24/9/2010. Tham dự có đại diện Đảng uỷ, Ban giám hiệu, Hội đồng trường, Công đoàn, Đoàn TNCS HCM cùng các Đại biểu từ các đơn vị trong Nhà trường.


    Báo cáo tổng kết năm học 2009 – 2010, GS.TS Phạm Ngọc Quý – BTĐU, Phó Hiệu trưởng Nhà trường nhấn mạnh, năm học vừa qua, toàn trường đã cơ bản hoàn thành tốt các nhiệm vụ theo Nghị quyết của Đảng uỷ trường và phương hướng nhiệm vụ Nghị quyết Hội nghị cán bộ công chức năm học 2008 – 2009 đã đề ra, tạo tiền để cho năm học mới toàn thể CBVC và SV Trường Đại học Thuỷ lợi  phấn khởi tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, vươn lên phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ đề ra; tiếp đó là các phương hướng nhiệm vụ chính cần tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện năm hoc 2010 – 2011


    Hội nghị đã được nghe các báo cáo: Đánh giá các hoạt động của Trường theo Nghị quyết Hội nghị CB,VC năm học 2009 – 2010, Báo cáo tổng hợp tóm tắt các ý kiến đóng góp của các đơn vị và Báo cáo Công tác của Thanh tra nhân dân năm học 2009 – 2010.


    Có 76 ý kiến đóng góp của các đơn vị trên các mặt công tác: chính trị, tư tưởng, tổ chức cán bộ, đào tạo, quản lý sinh viên, nghiên cứu khoa học, khung chương trình, giáo trình, tài liệu, tài chính, cơ sở vật chất và đời sống, thanh tra kiểm tra… đã được lãnh đạo nhà trường ghi nhận. Những ý kiến đóng góp đó cùng với những ý kiến thảo luận trực tiếp tại Hội nghị của các tập thể, cá nhân thể hiện việc thực hiện quy chế dân chủ, công khai trong nhà trường, đồng thời, cũng thể hiện tinh thần trách nhiệm của lãnh đạo và tập thể cán bộ, giáo viên trong việc xây dựng và phát triển Trường, hướng tới mục tiêu thực hiện tốt kế hoạch công tác năm học 2010 – 2011.


    Hội nghị Đại biểu Cán bộ viên chức và Tổng kết năm học 2009 – 2010 đã thành công tốt đẹp và bế mạc trong buổi sáng cùng ngày với 100% đại biểu nhất trí thông qua Nghị quyết Hội nghị.


     


    Tin & Ảnh: Hà Linh Ngọc

  • Thăng Long – Hà Nội những chặng đường lịch sử

    Kỳ 1: THĂNG LONG – HÀ NỘI, NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ


    1.       Thời kỳ tiền Thăng Long


    Thời Hùng Vương, kinh đô đặt ở Văn Lang, vùng đất Thăng Long – Hà Nội lúc đó là một làng quê. Khoảng thế kỷ III trước Công nguyên, Thục Phán (An Dương Vương) thay thế vua Hùng dựng nước Âu Lạc, dời đô xuống miền Cổ Loa. Kinh đô Cổ Loa đi vào lịch sử với tư cách là kinh thành, thị thành, quân thành, trung tâm đầu não chính trị, kinh tế của nước Âu Lạc. Năm 179 trước Công nguyên, nước Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính. Kể từ đó, Âu lạc rơi vào ách thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc kéo dài ngàn năm, vùng đất Thăng Long – Hà Nội trở thành đại bản doanh của chính quyền đô hộ. Nửa sau thế kỷ VIII, Kinh lược sứ nhà Đường là Trương Bá Nghi tổ chức đắp La Thành. Năm 865 – 866, Tiết độ sứ Cao Biền cho đắp đê thành Đại La. Đặc trưng thành Đại La thời Bắc thuộc là quan, quân, dân chúng ở trong một vòng đê ngoài, mang tính chất quân sự, thiếu quy mô sinh hoạt kinh tế, văn hoá của các tầng lớp nhân dân.


    Trong hơn mười thế kỷ Bắc thuộc, nhân dân Thăng Long – Hà Nội luôn bất khuất, quật cường khởi nghĩa chống quân xâm lược. Năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở Hát Môn đập tan ách đô hộ của nhà Hán, xây dựng kinh đô ở Mê Linh, khôi phục nhà nước độc lập. Năm 542 – 544, Lý Bí hào trưởng Thái Bình (vùng Sơn Tây cũ), dấy binh đánh đuổi giặc Lương, lên ngôi hoàng đế hiệu Lý Nam Đế, chọn đất dựng chùa “Khai Quốc”, đóng đô ở vùng đất thuộc Thăng Long – Hà Nội (ngày nay), đặt quốc hiệu của nước là Vạn Xuân. Khoảng năm 766 – 779, Phùng Hưng thủ lĩnh vùng Đường Lâm khởi binh kéo đại quân từ vùng núi Ba Vì về bao vây thành Đại La, lật đổ ách đô hộ nhà Đường, xây dựng chính quyền độc lập tới năm 791. Năm 905, Khúc Thừa Dụ, hào trưởng đất Hồng Châu nổi dậy chiếm giữ phủ thành Đại La, tự lập làm Tiết độ sứ, xoá bỏ chính quyền đô hộ. Năm 931, hào trưởng Dương Đình Nghệ tiến quân từ Ái Châu (Thanh Hoá) ra Bắc, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi thành Đại La, khôi phục nền tự chủ từ năm 931 đến năm 937 – cũng thời gian này Ngô Quyền xưng vương đóng đô ở Cổ Loa. Năm 938, vua Nam Hán sai con là Hoằng Thao sang xâm lược nước ta, dưới sự chỉ huy đầy mưu lược với trận địa ở cửa sông Bạch Đằng đã đánh tan quân Nam Hán xâm lược chấm dứt ách đô hộ của phong kiến phương Bắc xây dựng nền độc lập tự chủ cho đất nước.


    Thời tiền Thăng Long các bậc đế vương của nước ta, như: An Dương Vương, Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Ngô Quyền đã chọn đất thuộc vùng Thăng Long – Hà Nội để đóng đô, xây dựng nền độc lập.


    2. Thăng Long thời Lý (1010 – 1225)


    Năm 1010, ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, đổi tên thành Đại La là thành Thăng Long. Chọn Thăng Long làm kinh đô, Lý Công Uẩn đã đứng trên “chủ thuyết phát triển” và cái nhìn toàn cục của quốc gia để chọn lấy một dải đất đắc địa bậc nhất của nước Đại Cồ Việt xây dựng trung tâm đầu não về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thể hiện cao độ ý chí độc lập, tự cường dân tộc.


    Thời Lý kinh đô Thăng Long được xây dựng theo kiến trúc “Tam trùng thành quách” 3 vòng thành lồng nhau. Vòng thành ngoài gọi là thành Đại La. Vòng thành giữa gọi là Hoàng Thành, nơi có các cung điện hoàng gia và nơi thiết triều của vua. Kinh thành được bao bọc bởi một toà thành bằng đất phát triển từ đê của 3 con sông: sông Hồng ở phía Đông, sông Tô ở phía Bắc và phía Tây, sông Kim Ngưu ở phía Nam. Nét nổi bật của kinh thành Thăng Long thời Lý là tận dụng tối đa những điều kiện tự nhiên và tạo ra sự hài hoà với kiến trúc nhân tạo. Dấu ấn Thăng Long thời kỳ này còn được lưu lại ở nhiều công trình kiến trúc đặc sắc, như: đền Đồng Cổ xây dựng năm 1028, chùa Diên Hựu (chùa Một Cột -1049), tháp Báo Thiên (1057). Trong công trình “Thăng Long tứ trấn”, nhà lý xây dựng hoàn chỉnh ba trấn là: quán Trấn Vũ, đền Bạch Mã, đền Voi Phục…. Năm 1070, nhà Lý lập Văn Miếu; năm 1075, mở khoa thi Nho học đầu tiên; năm 1076, tuyển những văn quan có học vào tu nghiệp ở Quốc Tử Giám. Trong công cuộc phục hưng nền độc lập nhà Lý đã đặt viên gạch đầu tiên để xây dựng nền tảng sự nghiệp văn hoá, giáo dục, đặt nền tảng cho nền giáo dục đại học và nhiều ngành khoa học của nước nhà, mở ra kỷ nguyên văn minh Đại Việt. Vào giai đoạn thịnh đạt của nhà Lý, kinh đô Thăng Long đã thực sự trở thành một trung tâm chính trị – kinh tế, văn hoá lớn nhất và tiêu biểu cho cả nước.


    3. Thăng Long thời Trần (1226 – 1400)


    Sau 215 năm cầm quyền, triều Lý lâm vào tình trạng suy yếu, không giữ được binh quyền. Năm 1226, nhà Trần thay thế nhà Lý chấm dứt tình trạng loạn ly, thiết lập lại trật tự chính trị – xã hội. Nhà Trần có nhiều chính sách thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tăng cường sức mạnh quốc phòng. Nhìn tổng thể kiến trúc cung đình Thăng Long thời Trần không bề thế như thời Lý. Quy mô kinh thành Thăng Long cơ bản vẫn giữ ranh giới cũ. Năm 1230, nhà Trần sửa chữa thành Đại La và các cung thất, hoạch định lại các đơn vị hành chính; năm 1243 đắp lại Cấm thành. Năm 1253 tu sửa lại Quốc Tử Giám, lập Viện Quốc học, Viện Quốc sử, Giảng Võ đường đào tạo nhiều văn quan, võ tướng tài năng. Nho học được coi trọng và phát triển, chế độ khoa cử được tổ chức chặt chẽ. Từ năm 1247, nhà Trần đặt thêm học vị Trạng nguyên, Thám hoa, Bảng nhãn (Tam khôi). Thăng Long thời Trần thu hút nhiều nhân tài từ các nơi về học tập. Khoa học quân sự thời Trần là yếu tố cấu thành văn hóa Đại Việt, tạo nên hào khí Đông A.


    Kinh đô Thăng Long được quy hoạch lại thành 61 phường với số dân đông đúc hơn, tập trung trong khu vực dân sự, Thăng Long ngày càng rõ nét một thành thị với sự phát triển nhanh của phố, chợ, làng nghề thủ công. Nhà Trần có chính sách ngoại giao thông thoáng nhiều khách buôn nước ngoài đã đến đây làm ăn, sinh sống hoặc cư trú chính trị, như: người Hoa, người Hồi Hột, người Java… Kinh đô Thăng Long thời Trần là thành phố mở, hội tụ tinh hoa văn hoá của nhiều nước trên thế giới. Thời Lý và thời Trần nước Đại Việt nổi tiếng với 4 công trình nghệ thuật “An Nam tứ đại khí” làm bằng đồng: chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh, tượng Quỳnh Lâm và đỉnh tháp Báo Thiên. Trong vòng 30 năm (1258 – 1288), đế chế Mông Cổ ba lần đem quân đánh chiếm Thăng Long. Quân dân ta đều chủ động, khôn khéo rút lui chiến lược khỏi kinh thành để bảo toàn lực lượng, sau đó bao vây, phản công quét sạch quân xâm lược. Thăng Long góp phần cùng nhân dân cả nước lập nên chiến công vĩ đại, ba lần đại thắng quân Nguyên – Mông. Nền văn minh Đại Việt, hào khí Thăng Long, hào khí Đông A tỏa sáng, Thăng Long xứng đáng là kinh đô anh hùng của đất nước anh hùng.


    4. Thăng Long thời Lê, thời Mạc, Lê Trung hưng (1428 – 1788)


    Nhà Trần trị vì được 175 năm thì lâm vào suy thoái. Hồ Quý Ly đại thần nhà Trần thâu tóm quyền lực. Năm 1397, Hồ Quý Ly cho xây dựng Tây Đô ở Thanh Hóa, đổi tên Thăng Long thành Đông Đô, buộc vua Trần dời triều đình vào Tây Đô. Trong 10 năm cuối triều Trần nước ta có hai Đô là Tây Đô và Đông Đô. Tây Đô có triều đình, có vị thế về chính trị nhưng Đông Đô (Thăng Long) vẫn là trung tâm kinh tế lớn nhất của đất nước. Năm 1400, Hồ Quý Ly truất ngôi Trần Thiếu Đế, lên làm vua. Nhà Hồ ở ngôi 7 năm thì phong kiến nhà Minh sang xâm lược, cha con Hồ Quý Ly bị giặc bắt đưa về Trung Quốc. Sau gần 500 năm giành độc lập, đến nhà Hồ, nước ta lại bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Năm 1418, Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa. Sau chín năm kháng chiến, nghĩa quân Lam Sơn đã giải phóng được các vùng từ Nam đến Bắc. Năm 1426, ba đạo quân Lam Sơn tiến ra bao vây thành Đông Quan, chủ động “vừa đánh vừa đàm”,“vây thành diệt viện”, dập tắt mọi hy vọng của giặc Minh trong thành Đông Quan, buộc Vương Thông phải lên đàn thề từ bỏ dã tâm xâm lược và xin rút quân về nước. Ngày 29/4/1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, khôi phục quốc hiệu Đại Việt, định đô ở Đông Đô. Năm 1430, đổi tên là Đông Kinh. Thời Hậu Lê, kinh thành Thăng Long được quy hoạch và xây dựng theo quy cách đế đô của quốc gia quân chủ tập quyền. Kinh thành được mở rộng sang phía Đông. Trong Cấm thành, một toà thành hình chữ nhật xây gạch với cửa chính là Đoan Môn, nhà Lê xây dựng và bố trí lại nhiều cung điện, lầu gác, thâm nghiêm nhất là điện Kính Thiên xây dựng trên đỉnh núi Nùng. Ngoài Hoàng thành, nhiều kiến trúc mới cũng xuất hiện. Kiến trúc kinh thành thời Lê đạt đến trình độ mực thước, hài hoà. Khu dân sự tiếp tục phát triển và được quy hoạch lại gồm hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương, mỗi huyện có 18 phường. Đông Kinh lúc này đã có những phố chợ buôn bán tấp nập, nhiều phường thủ công nổi tiếng, như: Nghi Tàm, Thụy Chương dệt vải; Yên Thái làm giấy; Hàng Đào nhuộm điều; tranh Hàng Trống…


    Năm 1428, Lê Lợi cho lập nhà Quốc Tử Giám. Năm 1442, mở khoa thi Hội đầu tiên, long trọng tổ chức lễ xướng danh, treo bảng vàng, ban mũ áo cho người trúng tuyển, khuyến khích học hành. Nước Đại Việt dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) đã đạt tới đỉnh cao của một quốc gia phong kiến độc lập. Tuy nhiên, những mâu thuẫn trong nội bộ triều Lê Sơ, từ đầu thế kỷ XVI, đã dẫn tới sự phế truất vua Lê của tập đoàn phong kiến Mạc Đăng Dung (1572). Năm 1588, nhà Mạc huy động dân đắp 3 lần luỹ đất để tăng cường hệ thống phòng thủ kinh thành. Nhưng chỉ 4 năm sau, dưới danh nghĩa phù Lê, họ Trịnh chiếm được kinh thành. Kinh đô chính thức trở lại tên gọi Thăng Long. Triều đình của vua Lê đóng trong Hoàng thành cũ. Phủ Chúa Trịnh được xây bên ngoài, gồm nhiều cung điện nguy nga, chạy dài theo bờ tây Hồ Gươm. Tuy có những biến động về chính trị, nhưng thời Lê, Mạc, Lê Trung hưng, Thăng Long vẫn là một thành thị – thương cảng sầm uất nhất cả nước và vào loại lớn ở Châu Á. Bên cạnh các thương điếm của người Hoa, còn có cả những thương điếm của người Anh, Hà Lan, Đức. Khu vực dân cư trong kinh thành Thăng Long đông đúc hơn trước và có cả nhà hai tầng. Nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật, đặc biệt là về tôn giáo đã được xây dựng thêm.


    5. Thăng Long- Hà Nội thời Tây Sơn (1788 – 1802)


    Cuối năm 1788, Kinh đô và đất nước Đại Việt lại phải đương đầu với cuộc xâm lược của đế chế Mãn Thanh. Từ Phú Xuân (Huế), vua Quang Trung thống lĩnh đại quân Tây Sơn tiến ra Bắc, giải phóng Thăng Long. Giặc tan, vua Quang Trung về đóng đô ở Huế. Thăng Long là thủ phủ của Bắc Thành. Hoàng thành Thăng Long vẫn được nhà Tây Sơn cho tu sửa, đắp lại những đoạn bị sụt đổ. Chùa Kim Liên (Nghi Tàm), chùa Tây Phương (Thạch Thất), tượng Tuyết Sơn và 18 vị La Hán được tu bổ, tôn tạo; nhiều chuông to, đẹp được đúc. Sau chiến thắng vua Quang Trung ra lệnh cho quân sĩ và nhân dân thu gom xác giặc, chôn cất và sai lập đàn chẩn tế, tu sửa chùa Bộc làm nơi quy y cho quân sĩ nhà Thanh; ban Chiếu khuyến nông, khuyến khích nhân dân trở về quê cũ khai khẩn ruộng bỏ hoang, phục hồi sản xuất; ban Chiếu lập học khuyến khích các địa phương mở trường học. Lập Viện Sùng Chính để dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm, đưa chữ Nôm lên địa vị chính thức của quốc gia. Lịch sử triều đại Tây Sơn tuy ngắn ngủi, nhưng đã để lại những dấu ấn đậm nét trong trang sử Thăng Long – Hà Nội văn hiến, anh hùng.


    6. Thăng Long – Hà Nội thời Nguyễn và Pháp thuộc (1802 – 1945)


    Lợi dụng cơ hội vua Quang Trung qua đời (1792), tập đoàn phong kiến Nguyễn Ánh từ miền Nam đánh chiếm Phú Xuân (1801), thăng Long (1802). Kinh đô nhà Nguyễn vẫn đặt ở Phú Xuân, Thăng Long được gọi là Bắc Thành. Hoàng Thành bị phá bỏ, thay vào đó là một toà thành mới hình vuông, xây theo kiểu thành Vô – băng của Pháp. Năm 1831, Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội với tỉnh lỵ là phủ Hoài Đức (thành Thăng Long cũ), Thăng Long được gọi là Hà Nội. Quốc Tử Giám, cơ quan giáo dục cao nhất của đất nước bị dời vào Huế. Tuy không còn là trung tâm chính trị, nhưng Hà Nội lúc đó vẫn là trung tâm kinh tế -văn hoá lớn nhất của cả nước


    Cuối thế kỷ XIX, trước những hành động xâm lược của thực dân Pháp, cùng với nhân dân cả nước, Hà Nội đã đứng lên kháng chiến. Dưới sự lãnh đạo của Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương và người kế nhiệm là Tổng đốc Hoàng Diệu, nhân dân Hà Nội đã anh dũng chống trả các cuộc tấn công của quân Pháp. Nhưng triều đình nhà Nguyễn nhu nhược đã ký “Hiệp ước hoà bình” (1883), công nhận quyền thống trị của Pháp trên cả nước. Hà Nội trở thành đất “bảo hộ” thuộc Bắc kỳ, đặt dưới quyền cai trị của một viên Thống sứ người Pháp. Tháng 7/1888, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh lập thành phố Hà Nội, gồm đất đai tỉnh lỵ Hà Nội, đứng đầu là một viên Đốc ký.


    Chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn của thực dân Pháp làm diện mạo của Hà Nội từ đầu thế kỷ XX có nhiều thay đổi. Các cơ sở hạ tầng được hoàn thành, trước hết là mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, cầu cống, trong đó có cầu Doumer qua sông Hồng. Thành cổ Hà Nội lại bị phá để xây các “khu nhà binh”, công sở. Điện Kính Thiên cũng bị phá huỷ, thay vào đó là nhà con Rồng hai tầng dùng làm sở chỉ huy pháo binh (1886). Đi đôi với việc hình thành các “khu phố Tây” (nằm trên các đường Đinh Tiên Hoàng, Ngô Quyền, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt…ngày nay), một số công trình khác mang phong cách Châu Âu được xây dựng, như: Phủ Toàn quyền, Phủ Thống sứ, Ngân hàng Quốc gia, Nhà hát lớn, Nhà thờ lớn, nhà Bưu điện, trường Viễn Đông Bác Cổ, ga Hà Nội…


    Mặc dù thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp, khủng bố tàn bạo, phong trào đấu tranh của nhân dân Hà Nội thời Pháp thuộc, đặc biệt là sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (02/1930), lúc âm ỉ, lúc rầm rộ, không bao giờ tắt…Ngày 19/8/1945, thực hiện lệnh khởi nghĩa của Uỷ ban Quân sự Cách mạng Hà Nội, hàng vạn nhân dân nội, ngoại thành đã nhất tề xuống đường đấu tranh giành chính quyền.


    7. Hà Nội trong thời đại Hồ Chí Minh


    Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, công bố trước toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1946, tại kỳ họp Quốc hội lần thứ nhất Hà Nội được vinh dự chọn làm Thủ đô của cả nước trong kỷ nguyên mới.


    Bước vào xây dựng cuộc sống tự do, dân chủ chỉ hơn một năm, nhân dân Thủ đô lại phải đương đầu với một cuộc xâm lược mới của thực dân Pháp. Đêm 19/12/1946, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Hà Nội đã nổ súng mở đầu cuộc toàn quốc kháng chiến. Sau tám năm trường kỳ chiến đấu, ngày 10/10/1954, Hà Nội rực rỡ cờ hoa đón chào đoàn quân chiến thắng trở về giải phóng Thủ đô.


    Hoà bình lập lại, Hà Nội khẩn trương bước vào công cuộc khôi phục và xây dựng kinh tế. Đảng bộ và nhân dân Hà Nội đã hoàn thành thắng lợi việc tiếp quản, nhanh chóng ổn định tình hình, khẩn trương bắt tay vào khôi phục, cải tạo và xây dựng thành phố. Chỉ hơn một tháng sau giải phóng, thành phố đã thông qua kế hoạch phục hồi công thương nghiệp. Không khí hòa bình xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố diễn ra sôi động. Một năm sau giải phóng, Hà Nội đã hoàn thành cải cách ruộng đất. Từ năm 1958 đến năm 1960 tiến hành xong cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và hợp tác hoá nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Bộ mặt thành phố đổi mới từng ngày Sau kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960 – 1965), Thủ đô đã trở thành trung tâm chính trị, văn hoá và kinh tế quan trọng trong cả nước.


    Giữa năm 1966, giặc Mỹ leo thang chiến tranh ra miền Bắc, đánh phá Thủ đô. Tháng 3/1968, đế quốc Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Ngày 2/9/1969, Bác Hồ từ trần. Nhân dân Thủ đô Hà Nội tỏ rõ niềm tiếc thương vô hạn với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, ngày 9/9/1969, hơn 10 vạn cán bộ và nhân dân Thủ đô tới Quảng trường Ba Đình cùng nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế dự Lễ truy điệu vĩnh biệt Người với lòng thành kính và biết ơn vô hạn. Tháng 4/1972, Hà Nội trở thành mục tiêu đánh phá lần thứ hai của Mỹ. Cuối năm đó, chỉ trong vòng 12 ngày đêm (18 – 29/12/1972), Mỹ đã trút hàng vạn tấn bom đạn xuống địa bàn Hà Nội. Thể hiện bản lĩnh là “Thủ đô của phẩm giá con người”, quân dân Hà Nội đã lập nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đánh sập “uy thế không lực Hoa Kỳ”. Trong hai cuộc chống chiến tranh phá hoại bằng đường không của đế quốc Mỹ trên miền Bắc, 358 máy bay các loại của Mỹ trong đó có 23 chiếc pháo đài bay B52, 2 chiếc F111 bị tan xác trên bầu trời Hà Nội; 83 máy bay trong đó có 1 máy bay B52 và 2 máy bay F.111 bị tan xác trên bầu trời Hà Tây. Quân và dân Thủ đô Hà Nội đã góp phần quyết định buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris (01/1973), rút hết quân Mỹ và chư hầu về nước. Đúng một năm chín tháng sau, ngày 30/9/1974, tại Tổng hành dinh đóng trong Thành cổ Hà Nội, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương duyệt kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Với sự chi viện hết lòng và toàn diện của quân dân Hà Nội và miền Bắc, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30/4/1975) đã toàn thắng. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc – Nam thống nhất.


    Tháng 4/1976, Hà Nội được Quốc hội chung của cả nước quyết định là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện Di chúc của Bác Hồ, Đảng bộ và nhân dân Hà Nội quyết tâm xây dựng Thủ đô “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Hà Nội dấy lên nhiều phong trào thi đua yêu nước tiêu biểu như: phong trào bốn đổi mới trong công nghiệp, áp dụng khoán trong nông nghiệp, xử lý giá, lương, tiền trong lưu thông phân phối; tập trung quy hoạch phát triển đô thị – giao thông nội đô thống nhất; cải tạo lại mạng lưới điện hạ thế và cấp nước sạch; cải thiện nhà ở, giao thông và chiếu sáng đô thị.


    Các công trình lớn như sân bay Nội Bài, cầu Thăng Long, cầu Đuống, cầu Chương Dương, đường 6 (đoạn Hà Nội – Hà Đông) và nhiều khu nhà cao tầng ở khu Bắc Thanh Xuân, Kim Giang, Đại học Bách Khoa, tập thể Quỳnh Lôi được xây dựng và đưa vào sử dụng. Một số ngành công nghiệp điện tử, công nghiệp chế biến thực phẩm, cơ khí nông nghiệp, hóa chất, chế tạo máy đã được hình thành. Ngành nông nghiệp Thủ đô áp dụng tốt các kỹ thuật thâm canh, tăng vụ, hình thành nhiều vùng chuyên canh rau ở các huyện Từ Liêm, Đông Anh, Thanh Trì. Kinh tế đối ngoại bắt đầu hình thành.


    Với những bước đi quan trọng đó, lần đầu tiên trong kế hoạch 5 năm (1991 – 1995), nhiều mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Hà Nội đã đạt và vượt toàn diện, nhiều mục tiêu đạt và hoàn thành trước thời hạn. Kinh tế Thủ đô liên tục tăng trưởng ở mức cao, điều đáng kể là bước đầu kinh tế Thủ đô đã có tích lũy. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hình thành cơ cấu kinh tế mới theo hướng công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp.


    Giai đoạn 1996 – 2000, thành phố đã tập trung nguồn lực phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất, thương mại, dịch vụ then chốt. Những chủ trương và giải pháp quan trọng đó đã tạo sự phát triển kinh tế – xã hội toàn diện của Hà Nội, góp phần đáng kể cho việc động viên nguồn thu ngân sách Nhà nước. So với cả nước: năm 1990 thu ngân sách địa bàn Hà Nội đạt 9,2%, năm 2000 đạt 16,3%. Năm 2000, Hà Nội chiếm 3,6% về dân số và 2,8% diện tích lãnh thổ quốc gia nhưng đã đóng góp với cả nước 7,8% GDP. Đời sống nhân dân có nhiều cải thiện. Bộ mặt của Thủ đô có nhiều thay đổi, vị thế của Thủ đô được nâng lên. Một vinh dự lớn đối với Thủ đô Hà Nội, năm 1999 được tổ chức UNESCO của Liên Hợp quốc trao tặng danh hiệu vẻ vang “Thành phố vì hòa bình” và lấy làm nơi phát động “Năm quốc tế hòa bình – 2000”. Năm 2000, Hà Nội được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Thủ đô Anh hùng.


    Thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (2000 – 2010), về kinh tế, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Hà Nội tập trung trí tuệ đẩy nhanh tiến độ sắp xếp cổ phần hóa vững chắc doanh nghiệp Nhà nước; đổi mới công nghệ, thiết bị và mô hình quản lý; tích cực thu hút vốn đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cấp hạ tầng đô thị. Những năm đầu của thế kỷ XXI, bộ mặt Thủ đô đổi thay nhanh chóng, Hà Nội đã mở ra 4 hướng với những khu công nghiệp hiện đại như: Sài Đồng A, Sài Đồng B, Bắc Thăng Long, Chèm, Mễ Trì, Thượng Đình, Thanh Trì, Cầu Bươu, Cầu Diễn, Nghĩa Đô, Đông Anh, Sóc Sơn…phát triển công nghiệp Hà Nội gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu và công nghiệp của tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh thực hiện thành công bước đi ban đầu chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hà Nội trở thành trung tâm du lịch của cả nước, chất lượng dịch vụ du lịch từng bước được nâng cao. Thủ đô Hà Nội tích cực đi đầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng văn hóa sinh thái. Cùng với phát triển kinh tế, Hà Nội tiếp tục đạt nhiều thành tựu nổi bật trong sự nghiệp phát triển văn hóa – xã hội và con người, tạo nên sức mạnh và độ bền vững của quá trình phát triển kinh tế – xã hội Thủ đô.


    Những năm đầu thế kỷ XXI, Hà Nội đổi thay từng ngày. Không gian Hà Nội được phân thành các vùng rõ nét. Khu vực trung tâm được bao quanh bằng các đường La Thành – đường Láng – Trường Chinh – Đại La – Minh Khai và dọc hữu ngạn sông Hồng. Khu phát triển mở rộng, được quy hoạch theo hữu ngạn và tả ngạn sông Hồng. Trong đó hữu ngạn gồm khu vực phía Nam cầu Thăng Long, dọc quốc lộ 32. Ở đây, có khu công nghiệp Cầu Diễn, khu công nghệ cao Nam Thăng Long, khu đô thị Ciputra, các khu dân cư tập trung Mai Dịch, Nghĩa Đô, Cầu Diễn, Tây sông Nhuệ, khu dân cư theo quốc lộ 6 và vành đai 3. Các khu công nghiệp Thượng Đình, công viên mới Mễ Trì, khu trung tâm Thể thao quốc gia, khu đô thị mới Trung Yên, Yên Hòa, Thanh Xuân. Khu công nghiệp Xuân Mai, Định Công, Linh Đàm, Cầu Bươu, Mai Động. Khu Bắc cầu Thăng Long; khu thị trấn Gia Lâm – Sài Đồng – Đức Giang – Yên Viên; khu dọc đường quốc lộ 3.


    Việc cải tạo, xây dựng Thủ đô thành một đô thị văn minh, hiện đại, xứng đáng với tầm vóc của một Quốc gia khoảng trên một trăm triệu dân, trong thế kỷ XXI là một yêu cầu cần thiết. Quốc hội đã có Nghị quyết số 15-2008/QH12 về mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội. Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 260/CT-TTg, ngày 4 tháng 3 năm 2008 về việc tổ chức thực hiện chủ trương mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội. Theo đó, Hà Nội mở rộng bao gồm toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Sau khi hợp nhất, mở rộng Hà Nội có diện tích 3.340 km2 với gần 6,5 triệu dân, 29 đơn vị huyện, quận; 577 xã, phường, thị trấn; 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao sinh sống.


    Đảng bộ và nhân dân Hà Nội đặt mục tiêu sau năm 2010 xây dựng Thủ đô Hà Nội hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc tương xứng với truyền thống ngàn năm văn hiến. Hướng phát triển của thành phố Hà Nội về phía Tây, hình thành chuỗi đô thị Miếu Môn – Xuân Mai – Hòa Lạc – Sơn Tây; phía Bắc là cụm đô thị Sóc Sơn – Xuân Hòa – Đại Lải – Phúc Yên (tỉnh Vĩnh Phúc) và các đô thị khác. Điều chỉnh xây dựng thêm các khu công nghiệp tập trung mới như Bắc Thăng Long, Sóc Sơn, Thăng Long, Đông Anh, mở rộng khu công nghiệp Đức Giang, Cầu Diễn, Cầu Bươu. Các hệ thống công viên, khu cây xanh, vui chơi, giải trí, khu du lịch các công trình công cộng… được rà soát, quy hoạch, đảm bảo môi trường sống ngày càng văn minh, hiện đại.


    Trải qua bao biến thiên của lịch sử, Thăng Long – Hà Nội luôn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước, là nơi kết tinh tinh hoa của dân tộc, hội tụ nhân tài của đất nước. Đảng bộ và nhân dân Hà Nội coi trọng việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể, kết hợp hài hoà trong quy hoạch và xây dựng đô thị, phát huy cao độ truyền thống Thăng Long – Hà Nội nghìn năm văn hiến, đoàn kết xây dựng Hà Nội là “Thủ đô xanh, văn hiến – văn minh và hiện đại”, phát huy tốt vai trò là trung tâm lớn về văn hóa, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, kinh tế và giao dịch quốc tế.
    Ban Tuyên giáo Trung ương.

  • Lễ trao bằng tốt nghiệp Tiễn sỹ và thạc sỹ khoá 15 đợt 1 năm 2010.

    Lễ trao bằng tốt nghiệp Tiễn sỹ và thạc sỹ khoá 15 đợt 1 năm 2010.

    Sáng nay ngày 29/6/2010 tại Hội trường T45 Trường Đại học Thuỷ Lợi đã diễn ra lễ trao bằng Tốt nghiệp tiến sỹ cho 1 nghiên cứu sinh, trao bằng thạc sỹ cho 126 học viên cao học khoá 15 đợt 1 năm 2010 và giao đề tài Luận văn tốt nghiệp cho học viên cao học khoá 16,17. Đến dự buổi lễ có ông Nguyễn Hữu Chí – Vụ trưởng vụ Giáo dục đào tạo và dạy nghề ban Tuyên giáo TW; GS.TS Phạm Ngọc Quý, Bí thư Đảng uỷ, Phó Hiệu trưởng Nhà trường; GS.TS Vũ Thanh Te – Phó Hiệu trưởng Nhà trường; PGS.TS Trịnh Minh Thụ – Phó Hiệu trưởng Nhà trường cùng các thầy cô giáo, các cán bộ khoa học đã tham gia dạy và hướng dẫn LVTN cho học viên CH 15, 16, 17.


    Phát biểu tại buổi lễ, thay mặt Ban Giám hiệu Nhà trường, PGS.TS Trịnh Minh Thụ đã gửi lời chúc mừng đến các tân tiến sỹ và thạc sỹ với thành quả mà họ đạt được ngày hôm nay. PGS.TS Trịnh Minh Thụ cũng không quên nhắc lại những đổi mới của Nhà trường trong thời gian qua nhằm xây dựng Nhà trường thật sự là một môi trường lý tưởng cho các bạn sinh viên, các học viên, nghiên cứu sinh trau dồi cả kiến thức và cuộc sống.


    Thay mặt các học viên cao học nhận bằng trong buổi lễ ngày hôm nay, tân Tiến sỹ Nguyễn Đắc Hưng đã có những chia sẻ rất xúc động, bày tỏ lòng biết ơn của mình cũng như của các học viên khác khi đã trải qua những năm tháng và học tập dưới mái trường Đại học Thuỷ Lợi được sự quan tâm dạy bảo của các thầy cô giáo. Tân TS tâm niệm rằng: cha mẹ là người sinh ra ta, nhưng người cho ta con chữ, cho ta kiến thức là các thầy cô giáo kính mến. Chính vì lẽ đó mỗi một người khi đã đến học tập và rèn luyện tại mái trường Đại học Thuỷ Lợi đều dành cho thầy cô và mái trường những tình cảm kính mến và chân thành nhất.


    Bí thư Đảng uỷ, Phó Hiệu trưởng Nhà trường – GS.TS Phạm Ngọc Quý đã trao tấm bằng tiến sỹ duy nhất trong buổi lễ ngày hôm nay cho tân tiến sỹ Nguyễn Đắc Hưng người vinh dự được nhận tấm bằng học vị cao nhất trong buổi lễ ngày hôm nay.










     









     


    Cũng trong khuôn khổ buổi lễ đã công bố Quyết định của Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ Lợi giao đề tài Luận văn tốt nghiệp cho học viên các khoá 16, 17.


    Buổi lễ đã diễn ra trang trọng và ấm áp trong phần trao bằng tốt nghiệp thạc sỹ cho hơn 100 học viên cao học. Xin chúc cho những thành công của họ ngày hôm nay sẽ theo họ suốt chặng đường xây dựng, lập nghiệp ngày mai.


     


    Nguyễn Vân Anh

  • Hướng tới Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Đại Học Thủy Lợi lần thứ XXVI, nhiệm kỳ 2010- 2012 – Nhìn lại một năm sôi động và thành công!

     


    Ngày 30 tháng 05 năm 2010 sắp tới, Trường Đại học Thủy Lợi sẽ long trọng tổ chức Đại Hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XXVI, nhiệm kỳ 2010 – 2012 để nhìn lại và đánh giá hoạt động đoàn nhiệm kỳ trước, bầu ra BCH Đoàn trường mới cũng như đưa ra những định hướng, kế hoạch cụ thể nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động đoàn thể và phong trào sinh viên trong trường góp phần hiệu quả thúc đẩy phong trào học tập, nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường. Từ nhiều năm nay, phong trào Đoàn thanh niên trường Đại học Thủy Lợi luôn được Bộ NN & PTNT, Đoàn cấp trên, các tổ chức đoàn thể đánh giá rất cao và Đại hội Đoàn cấp trường luôn được coi là một sự kiện quan trọng của nhà trường hàng năm. Đoàn thanh niên, Hội sinh viên trường cùng các Liên chi đoàn, các CLB và sinh viên trong trường đang nỗ lực chuẩn bị những công việc cuối hướng tới sự thành công của Đại hội sắp tới.


     Nhìn lại hoạt động năm vừa qua 2009 – 2010, năm mốc quan trọng của trường Đại Học Thủy Lợi với sinh nhật lần thứ 50 của trường, đánh dấu 2 năm – thời gian chuyển giao từ học chế niên chế sang học chế tín chỉ với những sự thay đổi to lớn trong phương thức dạy và học cùng tầm nhìn lớn cho sự phát triển lớn mạnh hướng tới một trường Đại học đẳng cấp trong chiến lược phát triển trường đến năm 2020, đi cùng với sự chuyển mình to lớn trong phương pháp đào tạo là tư duy và cách hành động của mỗi sinh viên Đại Học Thủy Lợi minh chứng ở sự khác biệt, đa dạng, phong phú và sôi động trong các hoạt động đoàn thể của sinh viên trong trường dưới sự chỉ đạo sâu sát của Đoàn TN, Hội sinh viên trường và nhận được sự khen thưởng, động viên, đánh giá rất cao từ Đoàn cấp trên, lãnh đạo nhà trường, các tổ chức đoàn thể trong và ngoài trường. Có thể nói, Đại học Thủy Lợi đã có một năm với nhiều thành công to lớn trong tất cả các lĩnh vực về học tập và đặc biệt là phong trào sinh viên.


     Để có được sự sôi động, đa dạng, hiệu quả trong các phong trào sinh viên trong trường thì một yếu tố vô cùng quan trọng đó là Đoàn TN, Hội sinh viên và các tổ chức, CLB sinh viên trong trường luôn nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ chỉ đạo sâu sát và kịp thời từ phía lãnh đạo Nhà trường. Đã có rất nhiều cuộc họp mặt giữa lãnh đạo nhà trường với những người đứng đầu Đoàn TN, Hội sinh viên, các CLB trong trường để có sự đánh giá nhìn nhận về các hoạt động, qua đó Nhà trường cùng sinh viên cùng định hướng và xây dựng các phong trào và hoạt động sao cho hiệu quả hơn. Nhà trường luôn quan tâm tới các phong trào sinh viên, tạo mọi điều kiện cần thiết từ cơ sở vật chất đến tinh thần cho các hoạt động sinh viên có hiệu quả và đem lại lợi ích học hỏi cũng như nâng cao chất lượng đời sống của sinh viên trong trường. Có thể nói không có nhiều trường Đại học mà sinh viên có được sự ủng hộ sâu sắc như ở trường Đại học Thủy Lợi.


    Những năm gần đây, các phong trào sinh viên trong trường có sự phát triển mạnh mẽ, sôi động và phong phú với thật nhiều những hoạt động thiết thực, năng động, chủ động, sáng tạo của sinh viên Thủy Lợi, khác xa với nhận định vốn mang tính truyền thống từ trước đến nay dành cho sinh viên khối ngành kỹ thuật. Có thể nhận thấy một sự khác biệt trong tư duy và hành động của sinh viên đi cùng với sự thay đổi, hội nhập và phát triển trong chiến lược phát triển của Nhà trường. Năm 2009, đánh dấu sự ra đời của khá nhiều các CLB và tổ chức sinh viên với những ý nghĩa và hoạt động thiết thực, hiệu quả và sáng tạo. Bây giờ, sinh viên Đại học Thủy Lợi không quá lạ lẫm với những hoạt động quy mô như tổ chức sự kiện, không còn quá rụt rè trong giao tiếp, họ sẵn sàng giao tiếp với những người mà từ trước đến giờ trong tâm tưởng là những con người khó tiếp cận như những CEO, những người thành đạt và nổi tiếng, sẵn sàng bắt tay và hợp tác.


     Năm 2009 – 2010, với rất nhiều những hoạt động tiêu biểu mà sinh viên Đại học Thủy Lợi đã khẳng định mình, trong đó phải kể tới: cuộc thi sáng tạo thời trang My style 2010 do CLB Nữ sinh tổ chức cách đây không lâu thu hút hơn 1000 sinh viên và khán giả đến dự, quy mô không kém là chương trình “ To Live To Love” vào đầu những ngày tháng  04 do Liên chi đoàn khoa Kỹ Thuật Biển cùng CLB Phát triển kỹ năng tổ chức, các hoạt động từ thiện như “ Ấm áp vùng cao” vào những ngày cận tết Canh dần và chương trình tổ chức trung thu cho các trẻ em mồ côi trường Nội trú Nguyễn Viết Xuân của CLB Tin Học sinh viên, đạp xe tình nguyện của CLB mới thành lập Tâm Vàng Việt với sự tham gia của khá đông các bạn sinh viên Thủy lợi cùng sinh viên các trường đại học và CĐ trong Hà Nội. Các sự kiện khác biệt, ý nghĩa và mạnh bạo kết hợp các CEO và các doanh nghiệp như “ Hành Trang Doanh Nhân”, “ Hành Trình khởi nghiệp” của CLB Doanh nhân tương lai –  CEO plus cùng “ Team go ahead”, “ Sinh viên khởi nghiệp và “ Đồng Hành cùng sỹ tử” của CLB Phát triển kỹ năng, hoạt động chiếu phim sinh viên của CLB cinema khoa Năng lượng và CLB Phát triển kỹ năng đồng tổ chức. Không thể không kể tới  các hoạt động quy mô của 2 CLB lớn mạnh nhất trong trường là CLB sinh viên tình nguyện với các hoạt động tình nguyện hưởng ứng tháng thanh niên vì môi trường, tiếp sức mùa thi, hoạt động hướng tới 1000 năm Thăng Long, các hoạt từ thiện và nhân đạo,  “ Lễ Hội Xuân Hồng” và hiến máu toàn trường của CLB TNTN Vận động hiến máu nhân đạo, tất cả các hoạt động đều được Đoàn trường. Trên đây mới chỉ là những hoạt động tiêu biểu nhất của các CLB và tổ chức sinh viên trong trường trong rất nhiều nữa các hoạt động và phong trào sinh viên đã diễn ra trong năm vừa qua.


    Trong nhiệm kỳ tới với ban lãnh đạo mới của BCH Đoàn TN trường, sự chỉ đạo sâu sát và quan tâm từ phía Nhà trường cùng với sự năng động dám nghĩ dám làm của sinh viên Thủy Lợi chắc chắn các phong trào sinh viên trong trường sẽ đa dạng, phong phú và hiệu quả hơn nữa. Toàn trường đang hướng tới Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XXVI cùng với những quyết định và định hướng đúng đắn phát triển phong trào sinh viên trong trường góp phần trong công cuộc xây dựng và phát triển trường Đại học Thủy Lợi ngày càng lớn mạnh và tầm cỡ hơn. Chúc Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trường Đại học Thủy Lợi lần XXVI thành công rực rỡ!


     


    Ngọc Thăng


     

  • Lễ Ký kết Biên bản Ghi nhớ Chương trình Liên kết Đào tạo Cao học ngành Công trình Thủy lợi

    Lễ Ký kết Biên bản Ghi nhớ Chương trình Liên kết Đào tạo Cao học ngành Công trình Thủy lợi

    Sáng ngày 25 tháng 03 năm 2010, tại hội trường 202 Đại học Thủy lợi – Cơ sở 2, đã diễn ra Lễ ký kết Biên bản Ghi nhớ Chương trình hợp tác liên kết đào tạo Cao học giữa trường Đại học Thủy Lợi Việt Nam và Đại học Liège Vương quốc Bỉ.



    Tham dự buổi lễ, phía Bỉ có GS.TSKH. Jean MARCHAL – Phó Hiệu trưởng trường ĐH Liège, TS. Nguyễn Trung Dũng – Cố vấn khoa học, Ông Lux MOITRUX – Quản trị viên của Chương trình Đào tạo Cơ quan APECE Hợp tác đào tạo, Vương quốc Bỉ, Ông Martin Cardoen – Đại diện Chính phủ Vùng nói Tiếng Pháp, Tham tán Đầu tư và Thương mại Wallonie.   


    Phía Việt Nam có sự tham gia của GS.TS. Đào Xuân Học – Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, GS.TS. Nguyễn Quang Kim, Hiệu trưởng trường ĐHTL, GS.TS. Vũ Thanh Te – Phó Hiệu Trưởng ĐHTL kiêm Viện trưởng Viện Thủy lợi và Môi trường, PGS.TS. Trịnh Minh Thụ Phó hiệu trưởng ĐHTL, các giáo sư, giảng viên, cán bộ trường ĐHTL, và Lãnh đạo các Viện, các cơ quan ban ngành khác.  


    TS. Nguyễn Trung Dũng phát biểu về chương trình liên kết đào tạo chuyên ngành công trình thủy lợi và giới thiệu tổng quan về Đại học Liège. Hiện tại, Đại học Liège đã và đang thực hiện thành công nhiều chương trình liên kết đào tạo cao học quốc tế với các trường đại học Việt Nam, các chương trình liên kết đào tạo bao gồm: Chương trình Thạc Sĩ Công nghệ Sinh học liên kết với Đại học Quốc gia Hà Nội (từ tháng 3/2007 đến nay), Chương trình Thạc sĩ Logistic liên kết với Đại học Đà Nẵng, Chương trình Thạc sĩ ngành Đóng tàu liên kết với Đại học Hàng hải Việt Nam, Chương trình Thạc sĩ Môi trường liến kết với Đại học Công Nghiệp TPHCM, và Chương trình Phát triển trọng điểm Indonesia, 2008.  


    Đại diện trường Đại học Liège, GS. Jean Marchal – Phó Hiệu trưởng Đại học Liège cho biết khi thực hiện Chương trình liên kết đào tạo cao học trong lĩnh vực thủy lợi, trường Đại học Liège sẽ hỗ trợ các nguồn kinh phí đảm bảo cho các giáo sư phía Bỉ sang Việt Nam giảng dạy trong 02 năm đầu sau đó sẽ tìm kiếm nguồn tài chính để tiếp tục tài trợ cho chương trình phát triển. GS. Jean Marchal tin tưởng rằng với sự hợp tác từ phía Đại học Thủy Lợi, chương trình này sẽ thành công tốt đẹp. 


    Đại diện Trường ĐHTL, GS.TS. Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng nhà trường cám ơn GS. Jean Marchal và Đại học Liège đã hỗ trợ và chọn ĐHTL là một đối tác để thực hiện chương trình này, với bề dày lịch sử phát triển hơn 50 năm, ĐHTL là một đơn vị cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu cho các trung tâm, các đơn vị nghiên cứu trong lĩnh vực thủy lợi, các cơ sở đào tạo cũng được trường ĐHTL trải rộng khắp đất nước. Hiện nay Việt nam là một trong hai nước trên thế giới đang hứng chịu ngày càng nhiều các thảm họa từ thiên nhiên, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hiện tượng nước biển dâng đe dọa đến đời sống, tính mạng và an ninh lương thực cho người dân Việt Nam. Đứng trước những thử thách này, vai trò của các kỹ sư, các chuyên gia về lĩnh vực thủy lợi ngày càng lớn, chính vì vậy, mục tiệu đào tạo nguồn nhân lực thực sự có năng lực trở nên hết sức quan trọng. Bản thân ĐHTL cũng đã chuẩn bị nhân lực và trí tuệ để kịp thời ứng phó với các vấn đề này. Các chương trình đào tạo nhập khẩu từ nước ngoài cũng đã được triển khai, và hôm nay nhân sự kiện trường DHTL ký kết “Chương trình liên kết đào tạo Cao học ngành công trình Thủy lợi” với ĐH Liege, GS.TS. Nguyễn Quang Kim bày tỏ sự vui mừng đồng thời tin tưởng chương trình này sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn.  


    Ông Martin Cardoen, Tham tán Thương mại – Đại diện cho Chính phủ Vùng nói Tiếng Pháp phát biểu: “Chúng tôi đã bổ nhiệm các đại diện cùng xúc tiến để thực hiện triển khai cho Chương trình này, Chúng tôi hi vọng sự kiện quan trọng ngày hôm nay sẽ là một cột mốc quan trọng và cấp thiết để hỗ trợ phát triển Việt Nam. Cụ thể, trong tương lai gần Việt nam là một quốc gia sẽ phải đối mặt với các diễn biến từ hệ thống biến đổi khí hậu toàn cầu.  Tôi xin nhiệt liệt chúc mừng cho sự kiện ngày hôm nay, bởi vì các nỗ lực của Đại học Liège hỗ trợ cho từng chương trình cụ thể đang được thực hiện ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, mỗi Chương trình đều là các ưu tiên lớn đáp ứng cho từng nhu cầu cấp thiết ở Việt Nam cũng như Bỉ, Chúc cho chương trình thành công tốt đẹp”. Với tư cách là Tham tán Thương Mại, ông Martin cám ơn Bộ NN&PTNT, Trường ĐHTL, đặc biệt là GS.TS. Đào Xuân Học đã quan tâm và ủng hộ chương trình đồng thời nỗ lực để phát triển chương trình hợp tác song phương giữa Việt Nam và Bỉ trong thời gian ngắn hạn cũng như hợp tác phát triển lâu dài.  


    GS.TS. Đào Xuân Học – Thứ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát triển đánh giá cao sự giúp đỡ hỗ trợ của đất nước Bỉ, nhân dân Bỉ và đại học Liège, Thứ trưởng đã nêu ra những hiểm họa và thách thức mà Việt Nam đang phải hứng chịu do ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu và hiện tượng nước biển dâng đồng thời nêu bật lên một chương trình hành động quan trọng để ứng phó đó là đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao năng lực quản lý để có thể tự đối phó với các biểu hiện bất thường của thiên nhiên. Thứ trưởng khẳng định rằng Sự thành công của Chương trình nằm trong tầm tay, đồng thời cũng sẽ báo cáo trực tiếp với Thủ Tướng và các Phó Thủ tướng chính phủ Việt Nam về sự kiện quan trọng này.




    Sau khi tham vấn và thảo luận giữa hai trường đại học, GS.TS. Nguyễn Quang Kim và GS. Jean Marchal cùng ký Biên bản Ghi nhớ trước sự chứng kiến của toàn bộ khách mời tham dự buổi lễ. 


    Cuối buổi lễ đại diện hai trường tặng hoa và quà lưu niệm ghi nhớ sự kiện quan trọng này.
    Một số hình ảnh của buổi lễ:




















     










    Từ trái qua: TS. Nguyễn Trung Dũng, GS. TSKH. Jean Marchal, Ô. Martin Cardoen, Ô. Lux Moitroux

     
     










    GS.TS. Đào Xuân Học và Lãnh đạo Trường Đại học Thủy Lợi

     










    TS. Nguyễn Trung Dũng phát biểu tổng quan về Chương trình Liên kết đào tạo

     










    GS.TS. Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng trường Đại học Thủy lợi phát biểu

     










    Ô. Martin Cardoen phát biểu trong buổi lễ

     










    Thứ trưởng GS.TS. Đào Xuân Học phát biểu

     










    Chứng kiến Đại diện hai Trường đại hoc ký kết Biên bản Ghi nhớ






    Buỗi lễ đã diễn ra thành công tốt đẹp.



     

  • Trường đại học Thủy lợi tiếp tục có tên trong danh sách 100 trường đại học hàng đầu Đông Nam Á

    Trường đại học Thủy lợi tiếp tục có tên trong danh sách 100 trường đại học hàng đầu Đông Nam Á

    Trường đại học Thủy lợi tiếp tục có tên trong danh sách
    100 trường đại học hàng đầu Đông Nam Á


     


    Ngày 10 tháng 02 năm 2010 Webometrics đã công bố bảng xếp hạng tháng Giêng năm 2010 trên mạng điện tử đối với các trường đại học trên toàn thế giới. Theo công bố,  Trường Đại học Thủy lợi tiếp tục có tên trong bảng xếp hạng 100 trường đại học hàng đầu Đông Nam Á. Thông  tin chi tiết, xin theo dõi tại địa chỉ


                    http://www.webometrics.info/top100_continent.asp?cont=SE_Asia.


     


    Trong 10 trường đứng đầu danh sách có 02 trường của Singapore (National University of Singapore – đứng thứ 1, Nanyang Technological University (6)), 06 trường của Thái Lan (Kasetsart University (2), Prince of Songkla University (3), Mahidol University (4), Chulalongkorn University (5), Chiang Mai University (7), Khon Kaen University (9))  và 02 trường của Indonesia (Universitas Gadjah Mada (8), Institude of Technology Bandung (10)). 


     


    Nếu tính riêng Việt Nam có 09 trường đại học có tên trong bảng xếp hạng. Trường Đại học Thủy lợi đứng ở vị trí thứ 8. Cụ thể như sau.


     














































































    STT


    TRƯỜNG


    BẢNG XẾP HẠNG


    THÁNG GIÊNG 2010


    BẢNG XẾP HẠNG


    THÁNG BẢY 2009


    KHU VỰC


    ĐNA


    THẾ GIỚI


    KHU VỰC


    ĐNA


    THẾ GIỚI


    01


    Trường ĐH Bách Khoa Tp. HCM


    40


    1535


    41


    1658


    02


    Trường ĐH Khoa học Tự nhiên Tp. HCM


    50


    1799


    43


    1676


    03


    ĐH Cần Thơ


    55


    1940


    42


    1669


    04


    ĐHQG Hà Nội


    63


    2212


    45


    1758


    05


    Trường ĐH Nông Lâm Tp. HCM


    68


    2301


    66


    2532


    06


    Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội


    77


    2492


    52


    2068


    07


    Trường ĐH An Giang


    92


    2928


     


     


    08


    Trường ĐH Thủy Lợi


    98


    3096


    80


    2767


    09


    Trường ĐH Kinh Tế Tp. HCM


    99


    3118


    74


    2659


     


    So với Bảng xếp hạng tháng Bảy 2009, trường Đại học An Giang mới có tên trong danh sách. Có 02 trường (Đại học Đà Nẵng, trường Đại học Y tế công cộng) không còn nằm trong danh sách xếp hạng.





     


    Việc 02 lần liên tiếp đứng trong danh sách 100 trường đại học hàng đầu Đông Nam Á theo bảng xếp hạng của một tổ chức quốc tế khẳng định sự thành công ban đầu của công cuộc đổi mới của Nhà trường theo Chiến lược phát triển trường Đại học Thủy lợi giai đoạn 2006 – 2010, đặc biệt là trong các lĩnh vực Khoa học công nghệ, Đào tạo-Hợp tác quốc tế và Công nghệ thông tin. Đây là tín hiệu đáng mừng nhân dịp đầu Xuân Canh Dần 2010 và hy vọng trường Đại học Thủy lợi sẽ tiếp tục giữ được vị trí của mình trong danh sách 100 trường hàng đầu Đông Nam Á trong những bảng xếp hạng được công bố tiếp theo.


    Phạm Xuân Trung

  • Lãnh đạo Đại học Nanyang Technology (NTU) – Singapore đến thăm trường Đại học Thủy Lợi.

    Lãnh đạo Đại học Nanyang Technology (NTU) – Singapore đến thăm trường Đại học Thủy Lợi.

    Nhân chuyến thăm chính thức nước Việt Nam của Thủ Tướng Singapore Lý Hiển Long những ngày đầu năm 2010, tháp tùng ngài có Đoàn đại biểu cấp cao đến từ trường Đại học NTU –  một trong 2 trường Đại học công lập lớn nhất Singapore được thành lập từ năm 1955.


    Do mối quan hệ khăng khít giữa trường Đại học Thủy Lợi với trường NTU đã được thiết lập từ nhiều năm trước đây, đây là lần đầu tiên người đứng đầu của Đại học Kỹ thuật Nanyang – Singapore đến thăm trường ta. Đón đoàn tại sân bay quốc tế Nội Bài là PGS.TS Trịnh Minh Thụ – Phó Hiệu trưởng nhà trường cùng chuyên viên phòng Hợp tác Quốc tế. Ngay sau đó, đoàn đại biểu của NTU đã đến thăm trường Đại học Thủy Lợi, trao đổi kinh nghiệm làm việc, hợp tác và từ đó xây dựng mối quan hệ lâu dài giữa hai trường. Ngày tiếp theo Đoàn trường NTU cùng với Phòng Hợp tác Quốc tế của Trường Đại học Thuỷ Lợi đã đi tham quan các địa điểm nổi tiếng của Hà Nội như: Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.


    Sau chuyến thăm quan, hai trường đã để lại trong nhau những tình cảm thân thiết, hữu nghị. Trường Đại học Thủy Lợi và trường NTU cùng hi vọng một tương lai tốt đẹp, đầy hứa hẹn trong quan hệ hợp tác song phương giữa 2 trường.

    Những hình ảnh của cuộc gặp gỡ này:










    Chủ tịch trường NTU – TS. Su Guaning (người đứng giữa mặc áo khoác trắng) và các cán bộ của hai trường











    Đoàn đại biểu đến thăm Tượng đài Lý Thái Tổ.








    Chủ tịch TS. Su Guaning tặng quà lưu niệm Thứ trưởng Đào Xuân Học – Bộ NN và PTNT










    Đoàn đại biểu chụp tại nhà Rông (Tây nguyên) – Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam