Danh mục: Nghiên cứu

  • Diện mạo khác lạ của biển Mũi Nai – công trình của Viện Kỹ thuật Công trình, Trường Đại học Thủy lợi

    Diện mạo khác lạ của biển Mũi Nai – công trình của Viện Kỹ thuật Công trình, Trường Đại học Thủy lợi

    Bãi biển Mũi Nai là địa điểm du lịch khá nổi tiếng của tỉnh Kiên Giang. Những năm trước, nơi này không để lại ấn tượng với du khách bởi là bãi biển phù sa, cát bùn, nước biển đục. Tuy nhiên, từ năm 2018, với sự tư vấn của Viện Kỹ thuật Công trình, Trường Đại học Thủy lợi,  tỉnh Kiên Giang đã triển khai kế hoạch cải tạo thành bãi cát trắng , kinh phí đầu tư hơn 100 tỷ đồng. Sau khi được cải tạo, bãi biển Mũi Nai đã khoác lên mình bộ áo mới. Bãi biển bùn, nước đục trước kia được thay thế bằng lớp cát trắng mịn, chất lượng nguồn nước theo đó cũng được cải thiện rõ rệt. Nhiều du khách đã bày tỏ sự ngạc nhiên và thích thú trước diện mạo mới của khu du lịch và mong muốn muốn nơi này tiếp tục được quan tâm đầu tư, nâng cấp để trở thành điểm đến du lịch lý tưởng.

    Bắt đầu từ mùa du lịch năm 2019 Bãi biển Mũi Nai-Hà Tiên trở nên hấp dẫn, mới lạ với du khách. Mỗi tuần, có hàng chục ngàn du khách chọn khu du lịch Mũi Nai làm nơi dừng chân để vui chơi, thư giãn. Hàng ngày, đến chiều muộn, vẫn còn khá đông du khách tới đây tắm biển. Theo nhiều người kinh doanh dịch vụ du lịch, lượng khách năm nay cao hơn hẳn những năm trước.

     Diện mạo mới của Bãi biển Mũi Nai (ảnh Zing.vn)

    Một số thông tin chi tiết về công trình:

    –      Đơn vị thiết kế : Trung tâm tư vấn Kỹ thuật biển & Phát triển cảng, Viện Kỹ thuật công trình, Đại học Thủy lợi

    –      Thời gian khảo sát, thiết kế công trình : năm 2016-2017

    –      Thời gian thi công: 2018-2019

    –      Địa điểm dự án: Bãi sau, khu du lịch Mũi Nai, phường Pháo Đài, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

    –      Các tham số thiết kế:

    +  Tuyến đê ngầm dài 380m bằng ống VĐKT đường kính 2,4m. Cao trình đỉnh đê ngầm là -1,00m. Bên trong tuyến đê bơm cát để nuôi bãi, bãi cát được chia thành 2 phần: phần bãi cao ở cao trình +0,8m, bề rộng tính từ mép bờ kè trung bình khoảng 60m; phần bãi dốc bơm cát tạo độ dốc 20% tơi chân đê ngầm.

    +  Đoạn đê khép tuyến phía Bắc dài 60m, khép tuyến phía Nam dài 80m, kết cấu sử dụng ống VĐKT đường kính 1,6m, xếp chèn bao tải cát tạo mái m = 1,5, phía ngoài là lớp đá hộc xếp chặt dày 30cm trên lớp dăm lót 2×4 dày 10cm và vải lọc. Cao trình đỉnh đê là +0,8m.

    +  Tuyến đê phụ ngăn cát song song với và cách bờ trung bình 50 – 60 m, tuyến dài 430 m, ống vải địa kỹ thuật bơm cát có chiều cao 0,7 m, cao trình đỉnh đê là +0.0m

    +  Thể tích cát bơm tạo bãi: 50000 m3

    Một số hình ảnh về quá trình thi công:

    a/ Định vị và trải ống vải ĐK trên mặt nước  b/ Thi công bơm cát vào ống

    Thi công tuyến ống vải địa kỹ thuật bơm cát

    Thi công đê đá khép tuyến

    Thi công bơm cát tạo bãi 

    Bãi biển Mũi Nai trước và sau khi cải tạo

    Một số loại hình vui chơi giải trí kết hợp sau khi hoàn thành công trình (ảnh Zing.vn)

    Ngoài cải tạo bãi cát, một số loại hình vui chơi giải trí biển như ca nô nước, dù lượn, thuyền hơi… được doanh nghiệp du lịch quan tâm đầu tư, nỗ lực đáp ứng nhu cầu du khách.

    Duy Khánh, Thanh Tùng

  • Thông báo đề xuất xây dựng tiêu chuẩn quốc gia giai đoạn 2021 – 2025

    Thông báo đề xuất xây dựng tiêu chuẩn quốc gia giai đoạn 2021 – 2025

    Thông báo số 540/XD-KH của Cục quản lý Xây dựng công trình, Bộ NN&PTNT về việc đề xuất xây dựng tiêu chuẩn quốc gia giai đoạn 2021 – 2025. 
     

    Chi tiết xem tại 540/XD-KH

  • Trao Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020 và tôn vinh các tổ chức, cá nhân tiêu biểu

    Trao Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020 và tôn vinh các tổ chức, cá nhân tiêu biểu

    Ngày Khoa học – Công nghệ (KH-CN) Việt Nam năm nay có chủ đề “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo kiến tạo tương lai” với mong muốn ngành sẽ có sự phát triển mạnh mẽ hơn, khẳng định được vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và xác định vị trí của Việt Nam trên bản đồ khu vực và thế giới.

    Thời gian qua giới khoa học Việt Nam đã triển khai các hoạt động nghiên cứu mạnh mẽ, trên tinh thần khoa học mở trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là những lĩnh vực liên quan trực tiếp tới phòng, chống đại dịch COVID-19.

    Nhân dịp này, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã trao giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020 cho 3 nhà khoa học thuộc các ngành Khoa học Y Dược, Toán học và Vật lý. Đây là giải thưởng được Bộ KH&CN tổ chức hằng năm, là sự ghi nhận và tôn vinh đối với các nhà khoa học có thành tựu nổi bật trong nghiên cứu cơ bản thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật.

    Cũng tại buổi Lễ, Bộ KH&CN đã tôn vinh các tổ chức, cá nhân tiêu biểu trong triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19. Trường Đại học Thủy lợi là đơn vị vinh dự có các cá nhân trong nhóm nghiên cứu WARM được tôn vinh trong dịp này. Nhóm nghiên cứu đã tham gia nhóm chuyên gia Covid-19 hỗ trợ Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch Covid-19 ngay từ những ngày đầu tiên dịch bệnh bùng phát, cụ thể là các thành viên: PGS.TS Nguyễn Ngọc Doanh – Trưởng nhóm – Giảng viên Khoa Công nghệ thông tin – Phó Trưởng phòng Khoa học Công nghệ – Trường Đại học Thủy lợi, ThS. Hoàng Văn Đông – Khoa Công nghệ thông tin – Trường Đại học Thủy lợi và TS. Lê Chí Ngọc – Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, TS. Huỳnh Quang Nghi – Đại học Cần Thơ.

    Nhóm nghiên cứu WARM được thành lập dựa trên sự hỗ trợ của Viện Nghiên Cứu Phát Triển IRD – Institut de Recherche pour le Développement (IRD), Cộng hoà Pháp và việc hợp tác với các đơn vị nghiên cứu khác nhau ở Việt Nam. Thành viên của WARM là những nhà nghiên cứu trẻ của Việt Nam. Mục tiêu của nhóm là ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, mô hình hóa và mô phỏng, Internet vạn vật (IoT) để giải quyết các vấn đề thực tế trong quản lý, điều hành trong lĩnh vực thuỷ lợi và phòng, tránh, giảm nhẹ thiên tai tại Việt Nam.

    Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Xã hội Việt Nam Bùi Nhật Quang và Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Thế Duy, lên sân khấu tặng hoa chúc mừng và trao Bằng khen cho các cá nhân

    (PGS.TS Nguyễn Ngọc Doanh – Trường Đại học Thủy lợi – đứng thứ 6 từ phải sang; Cựu sinh viên Lê Công Thành – lớp 43TH – Khoa Công nghệ thông tin, Trường ĐHTL, đứng thứ 4 từ phải sang)

    Ngay từ những ngày đầu tiên dịch bệnh bùng phát, Bộ Khoa học và Công nghệ đã xác định, đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp phục vụ công tác phòng chống dịch; kịp thời triển khai theo quy trình đặc biệt các nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cấp quốc gia nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học, chế tạo bộ KIT phát hiện virus corona chủng mới (SARS-CoV2), kháng thể đơn dòng, phác đồ điều trị, robot và máy thở phục vụ tình huống ứng phó với các cấp độ dịch bùng phát.

    Đến nay, nhiều nghiên cứu đã có kết quả khả quan, kịp thời phục vụ thiết thực cho việc phòng, chống dịch. Tiêu biểu như:

    Phát huy nền tảng của Hệ tri thức Việt số hóa trong phòng, chống dịch Covid-19: Xây dựng bản đồ vùng dịch sử dụng Vmap, phát hiện những người có nguy cơ lây nhiễm tại các điểm du lịch; xây dựng phần mềm khai báo y tế. Tham gia Tổ thông tin đáp ứng nhanh phòng, chống dịch COVID tập hợp, huy động các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu và kịp thời có các sản phẩm KH&CN phục vụ hiệu quả công tác truy vết, kiểm soát các ca bệnh, khoanh vùng, dập dịch, dự báo dịch tễ,… đóng góp tích cực cho công tác phòng, chống dịch.

    Nghiên cứu, sản xuất thành công bộ KIT phát hiện SARS-CoV-2 (do Học viện Quân y chủ trì, phối hợp với Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á thực hiện), đã được Bộ Y tế cấp phép sử dụng, Vương Quốc Anh cấp giấy chứng nhận được bán tự do tại thị trường châu Âu số 2020041602179596/1 ngày 20/4/2020; Tổ chức Y tế thế giới cấp Giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm vào ngày 24/4/2020. Cho đến nay, hơn 230.000 test đã được cung cấp cho cả nước, góp phần đặc biệt quan trọng trong công tác phòng chống Covid-19 ở nước ta. Bên cạnh đó, bộ KIT đã được tặng cho một số nước như Lào, Indonexia, Hungary góp phần tăng tình hữu nghị với các nước.

    Nghiên cứu, sản xuất và thử nghiệm thành công sản phẩm robot hỗ trợ y tế (do Học viện Kỹ thuật Quân sự thực hiện). VIBOT – 1a được thử nghiệm tại Bệnh viện Đa khoa Bắc Thăng Long, Đông Anh, Hà Nội, giúp giảm tải công việc cho đội ngũ y bác sỹ, giảm tiếp xúc trực tiếp với người nhiễm bệnh, người nghi nhiễm bệnh, qua đó giảm lây nhiễm chéo.

    Nghiên cứu, chế tạo và thử nghiệm thành công robot NaRoVid1 (do Viện Ứng dụng Công nghệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện) có tính năng lau khử khuẩn sàn nhà, nhằm hỗ trợ, thay thế nhân viên y tế trong các khu vực cách ly điều trị bệnh nhân nhiễm Covid-19 tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cơ sở Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội.

    Biên tập P. KHCN

    Nguồn: Bộ Khoa học công nghệ

     https://www.most.gov.vn/vn/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=17778

  • Nghiên cứu xác định các đặc trưng sóng ngoại trọng lực ở các đảo nổi

    1. Thông tin chung đề tài

    + Tên đề tài: Nghiên cứu xác định các đặc trưng sóng ngoại trọng lực ở các đảo nổi

    + Chủ nhiệm: ThS. Phạm Lan Anh

    + Năm thực hiện: 2020

    + Cấp quản lý: Trường

    + Kinh phí: 30 triệu đồng

    2. Mục tiêu: Nghiên cứu quá trính biến đổi, tương tác sóng – sóng, hình thành sóng ngoại trọng lực ở các đảo nổi thềm san hô

    3. Nội dung thực hiện:

    + Tổng quan nghiên cứu về thủy động lực sóng trên các đảo san hô nổi

    + Nghiên cứu thực nghiệm: lý thuyết tương tự, phân tích thứ nguyên và tỉ lệ mô hình, các tham số ảnh hưởng, nghiên cứu kết cấu, thiết kê kịch bản.

    + Thực hiện thí nghiệm: Chế tạo và lắp dựng mô hình, phân tích số liệu, đánh giá kết quả.

    4. Sản phẩm đề tài:

    + Bộ số liệu thực nghiệm về sự biến đổi sóng ngoại trọng lực trên đảo nổi bao gồm file, ảnh chụp, video

    + Báo cáo tổng kết phân tích kết quả xác định chiều cao sóng, cao trình đỉnh sóng

     

  • Giải pháp chống hạn, xâm nhập mặn cho Đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn chuyên gia

    Giải pháp chống hạn, xâm nhập mặn cho Đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn chuyên gia

    (TN&MT) – Theo các chuyên gia, trong tháng 5/2020, hạn hán và xâm nhập mặn (XNM) tại các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) mặc dù có xu thế giảm nhẹ nhưng vẫn ở mức cao.

     

    Trong tháng 5/2020, hạn hán và xâm nhập mặn (XNM) tại các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) mặc dù có xu thế giảm nhẹ nhưng vẫn ở mức cao.

    Giải pháp nào nhằm xử lý tình trạng này một cách căn cơ, bền vững là điều mà cả cộng đồng đang hướng tới. Các chuyên gia, nhà khoa học hiến kế và đề xuất các giải pháp để ứng phó, đồng thời, chỉ ra những mô hình, bài học kinh nghiệm cần nhân rộng.

    TS. Hoàng Văn Thắng – Nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT; Chủ tịch Hội Đập lớn Việt Nam

    TS. Hoàng Văn Thắng – Nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT; Chủ tịch Hội Đập lớn Việt Nam:

    So với năm 2015-2016, năm nay lượng nước về ĐBSCL thấp, mực nước ở điểm đo thấp hơn đồng nghĩa với tình trạng thiếu nước.

    Vấn đề XNM, thiếu nước ngọt ở ĐBSCL được nhận dạng rõ qua đợt hạn mặn 2015-2016 và Bộ NN&PTNT có chỉ đạo bằng các giải pháp căn cơ lâu dài cần tiến hành như hợp tác trong tiểu vùng Mê Công – Lan Thương để vận hành hệ thống hồ chứa thủy điện trong những năm hạn, thiếu nước hoặc những năm lũ. Tuy nhiên, để chủ động về lâu dài cần chuyển dịch sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp thích ứng với tình hình mới như nước biển dâng, thiên tai do tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH), lũ, hạn tăng lên, XNM tiến sâu vào các tỉnh ven biển. Do đó, cần chuyển đổi sản xuất nông nghiệp sang thích ứng với nguồn nước mới, tức là vùng ven biển chuyển sang sản xuất nước mặn, nước lợ và giảm sản xuất nông nghiệp sử dụng nước ngọt vùng ven biển. Đối với vùng nước ngọt, vùng nào thiếu nước chuyển cơ cấu cây trồng sang cơ cấu cây trồng sử dụng ít nước và có biện pháp sử dụng nước tiết kiệm. Bên cạnh đó, cần nâng cao khả năng dự báo, cảnh báo sớm để đưa ra quyết định phù hợp. Ngay trong mùa mưa, tháng 9/2019 Chính phủ đã tổ chức hội nghị về phòng chống hạn cho năm 2020 ở ĐBSCL, vì có cảnh báo sớm, người dân kịp chuyển dịch cơ cấu cây trồng và tránh được giai đoạn thiếu nước.

    Sau hạn năm 2016, chúng ta đã nhận dạng được một số biện pháp cấp bách về giải pháp công trình. Đến nay, đã có 5 dự án công trình phòng chống hạn mặn tại ĐBSCL sử dụng vốn ngân sách nhà nước do Bộ NN&PTNT làm chủ đầu tư đưa vào khai thác sử dụng kiểm soát mặn cho mùa khô 2019-2020: Dự án Cống Âu Thuyền Ninh Quới (tỉnh Bạc Liêu); 3 cống Vũng Liêm, Bông Bót, Tân Dinh thuộc Tiểu dự án Kiểm soát nguồn nước, thích ứng với BĐKH vùng Nam Mang Thít (tỉnh Vĩnh Long – Trà Vinh); Dự án Hệ thống thủy lợi Trạm bơm Xuân Hòa (tỉnh Tiền Giang); Dự án Nạo vét Kênh Mây Phốp ngã hậu (tỉnh Vĩnh Long – Trà Vinh); 18 cống dự án Hệ thống thủy lợi Bắc Bến Tre giai đoạn 1 với diện tích trực tiếp được kiểm soát khoảng 83.000 ha và tác động ảnh hưởng đến 300.000 ha diện tích đất canh tác. Ngoài ra, hiện nay 11 dự án công trình khác đang được gấp rút hoàn thành để đưa vào phục vụ công tác phòng, chống hạn mặn tại khu vực ĐBSCL.

    PGS- TS. Trần Bá Hoằng – Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam:

    ĐBSCL đang đứng trước nhiều sự tác động bất lợi, đang được định hình lại với nhiều đặc điểm tự nhiên khác hẳn so với trước đây, chẳng hạn, tần suất lũ lớn giảm nhiều, mặn hạn xảy ra thường xuyên hơn, xói lở bờ biển nghiêm trọng.

    PGS- TS. Trần Bá Hoằng – Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam

    Hai yếu tố tác động từ bên ngoài quan trọng nhất là khai thác ở thượng lưu (làm thay đổi quy luật dòng chảy, giảm một phần lượng nước và suy kiệt phù sa về đồng bằng) và BĐKH (trong đó nước biển dâng là yếu tố cốt lõi) đã đặt chúng ta ở thế chống đỡ. Thêm vào đó, hiện tượng lún sụt đất (nội đồng bằng) đang trở nên rất nghiêm trọng. Bởi vậy, tôi cho rằng, chiến lược quan trọng nhất đối với ĐBSCL là chủ động thích nghi (hay nói khác đi là thích nghi có kiểm soát, làm chủ tình huống khi bất lợi xảy ra).

    Trong giai đoạn trước mắt và trung hạn, vấn đề thứ nhất, ĐBSCL cần ưu tiên là giải quyết hạn mặn ở các vùng ven biển, trong đó, cần tiến hành các nhóm giải pháp: Tăng cường nguồn nước ngọt cho các hệ thống thủy lợi, các vùng ven biển thiếu nước ngọt; kiểm soát vào các vùng ngọt; thay đổi, điều chỉnh các mô hình sản xuất theo hướng ít sử dụng nước ngọt hơn và tăng cường sử dụng nước mặn lợ, nước mưa; điều chỉnh mềm dẻo lịch sản xuất theo từng mùa, từng năm trong các vùng ven biển, thậm chí trên cả đồng bằng; quản lý nước và sản xuất hiệu quả hơn. Để giải quyết vấn đề này, nhiệm vụ dự báo nguồn nước, XNM, thị trường cả ngắn hạn và dài hạn là rất quan trọng. Trên thực tế, chúng ta đang đi theo tất cả các hướng trên và đã giải quyết rất hiệu quả. Vấn đề thứ hai là, cần nhanh chóng xử lý ổn định bờ biển, tránh mất đất (vì hiện nay xói lở khó có khả năng phục hồi). Vấn đề này chúng ta đã và đang nghiên cứu các giải pháp phù hợp, bước đầu đã đạt được những kết quả tích cực. Về lâu dài cần xây dựng hệ thống quan trắc các yếu tố tác động như: Sóng, gió, dòng chảy ven bờ, bùn cát… làm cơ sở xây dựng các giải pháp công trình, phi công trình nhằm phòng chống xói lở bờ biển cũng như gây bồi tạo bãi, rồng rừng ngập mặn.

    Trong tương lai xa, ĐBSCL đối mặt với nhiều vấn đề hơn: Hạn mặn và xói lở bờ biển sẽ tiếp tục diễn ra phức tạp hơn hiện nay; thêm vào đó, vấn đề ngập trên ĐBSCL nhiều khả năng sẽ là trở ngại lớn nhất. Một số vùng ven biển, vùng trũng sau 100 năm nữa ngập tiềm năng (ở thể tự nhiên, không kiểm soát) có thể đến trên 3 m nếu tốc độ nước biển dâng như hiện nay (khoảng 3-3,5 mm/năm) và lún đất tiếp tục như hiện tại (1-3 cm/năm) không được hạn chế. Đến thời điểm đó, tất cả các đối tượng trên đồng bằng đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng (hạ tầng dân cư, giao thông, xây dựng, thủy lợi, sản xuất, môi trường, hệ sinh thái…). Có thể thấy, xu thế ngập gia tăng nhanh là tất yếu nếu chúng ta không đưa ra được các giải pháp hạn chế các tác nhân gây ra. Vì vậy, việc đưa ra các giải pháp và bước đi từ bây giờ là hết sức cần thiết, trong đó, ưu tiên cho việc nghiên cứu lún sụt đất và sớm hoàn thành quy hoạch phát triển tổng thể ĐBSCL trong điều kiện BĐKH.

    GS.TS. Phạm Thị Hương Lan – Viện trưởng Viện Thủy văn, môi trường và biến đổi khí hậu – Đại học Thủy lợi:

    ĐBSCL hiện đang phải chịu tác động mạnh mẽ trực tiếp lẫn gián tiếp từ các hoạt động phát triển KT-XH và sử dụng TNN từ phía thượng lưu, trong khu vực ĐBSCL và sự thay đổi điều kiện tự nhiên trên toàn lưu vực, đặc biệt là trong điều kiện thời tiết khí hậu cực đoan ngày càng diễn ra với tần suất và mức độ gia tăng.

    GS.TS. Phạm Thị Hương Lan – Viện trưởng Viện Thủy văn, môi trường và biến đổi khí hậu – Đại học Thủy lợi. Ảnh Infonet

    Dưới tác động của tình hình hạn hán, thiếu nước, XNM ngày càng khốc liệt, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và người dân đã đầu tư nhiều nguồn lực nhằm tìm nguyên nhân, giải pháp ứng phó và các hoạt động cụ thể để giảm thiểu tác động của hạn mặn tới đời sống và hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Mặc dù vậy, tình trạng hạn mặn mùa khô năm nay (2019-2020) diễn ra khốc liệt chưa từng có trong 100 năm trở lại đã vượt tầm ứng phó của các công trình và giải pháp hiện có, đẩy các giải pháp hiện có đang ở thế  "bị động", đặc biệt là "bị động"  trong tình huống nguồn nước bị suy giảm.

    Để chủ động ứng phó hiệu quả và giảm thiểu các tác động tiêu cực của hạn mặn đã, đang và sẽ diễn biến ngày càng khốc liệt ở khu vực ĐBSCL cần thực hiện một số nghiên cứu có tính hệ thống. Trước hết cần dự báo sớm tình hình thiếu nước, hạn mặn vùng ĐBSCL theo các kịch bản nguồn nước phía thượng nguồn để có giải pháp chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng vật nuôi, tuy nhiên, đây cũng mang tính "bị động". Về lâu dài, cần chủ động trong trường hợp thiếu nước luôn luôn xảy ra với các giải pháp trữ nước, hoàn thiện các công trình phòng, chống hạn hán, XNM và xây dựng quy trình vận hành các công trình kiểm soát triều một cách hợp lý. Cần có những nghiên cứu đánh giá, phân vùng chi tiết khả năng thích ứng của các đối tượng sử dụng nước trong trường hợp hạn mặn cực đoan xảy ra. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc sử dụng nước tiết kiệm hiệu quả, tránh lãng phí nguồn nước, đặc biệt trong điều kiện hiện nay là cần thiết.

    Nguồn: https://baotainguyenmoitruong.vn/giai-phap-chong-han-xam-nhap-man-cho-dong-bang-song-cuu-long-tu-goc-nhin-chuyen-gia-304015.html

  • Ba nhà khoa học được trao giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020

    Ba nhà khoa học được trao giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020

    Ba nhà khoa học được trao giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020 - Ảnh 1.

    Ba nhà khoa học đoạt Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020 (từ trái qua: PGS.TS Phạm Tiến Sơn, PGS.TS Vương Thị Ngọc Lan và TS Nguyễn Trương Thanh Hiếu) – Ảnh: NAFOSTED

    Bộ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ Chu Ngọc Anh đã phê duyệt đề xuất trao tặng Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020 cho ba nhà khoa học được hội đồng giải thưởng đề nghị, gồm: PGS.TS Vương Thị Ngọc Lan (Trường đại học Y dược TP.HCM), PGS.TS Phạm Tiến Sơn (Trường đại học Đà Lạt) và TS Nguyễn Trương Thanh Hiếu (Trường đại học Tôn Đức Thắng).

    Giải thưởng dành cho nhà khoa học là tác giả của công trình khoa học xuất sắc năm nay, cụ thể:

    PGS.TS. Vương Thị Ngọc Lan – Trường đại học Y dược TP. HCM (ngành khoa học y dược) – là tác giả của công trình: Lan N. Vuong, Vinh Q. Dang, Tuong M. Ho, Bao G. Huynh, Duc T. Ha, Toan D. Pham, Linh K. Nguyen, Robert J. Norman and Ben W. Mol, 2018. IVF transfer of Fresh or Frozen embryos in women without Polycystic Ovaries. The New England Journal of Medicine, 378(2): 137-147.

    PGS.TS Phạm Tiến Sơn – Trường đại học Đà Lạt (ngành toán học) – là tác giả của công trình: Gue Myung Lee and Tien Son Pham, 2017. Generic properties for semialgebraic programs. SIAM Journal on Optimization, Vol. 27, No. 3, 2061-2084.

    Giải thưởng dành cho nhà khoa học trẻ là tác giả của công trình khoa học xuất sắc được trao cho TS Nguyễn Trương Thanh Hiếu – Trường đại học Tôn Đức Thắng (ngành vật lý) – là tác giả của công trình: Nguyen Truong Thanh Hieu, 2016. Low-energy electron inelastic mean free path in materials. Applied Physics Letters, Vol. 108, 172901.

    Trước đó, ngày 29-4, hội đồng Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020 đã họp xem xét, đánh giá, lựa chọn các nhà khoa học được các hội đồng khoa học chuyên ngành trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) đề xuất (danh sách 8 đề cử cho Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020).

    Các đề cử giải thưởng năm nay ghi nhận sự đa dạng của các đơn vị nghiên cứu đến từ các khu vực miền Bắc (Hà Nội), miền Trung (Đà Nẵng), miền Nam (TP.HCM) và khu vực Tây Nguyên (Đà Lạt, Lâm Đồng).

    Theo đánh giá của Hội đồng giải thưởng, các công trình đều là kết quả nghiên cứu khoa học nổi bật trong các chuyên ngành, được thực hiện tại Việt Nam, công bố trên các tạp chí quốc tế xuất sắc, tiếp cận các hướng nghiên cứu mới trên thế giới.

    Các nhà khoa học đoạt giải thưởng Tạ Quang Bửu năm nay đều công tác tại đơn vị thuộc khu vực miền Trung và miền Nam.

    Đặc biệt, đây là năm thứ hai một nhà khoa học nữ trong lĩnh vực y sinh dược học đoạt giải thưởng.

    Giải thưởng Tạ Quang Bửu – giải thưởng hằng năm của Bộ Khoa học và công nghệ do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia làm cơ quan thường trực – là giải thưởng nhằm tôn vinh các nhà khoa học có thành tựu nổi bật trong nghiên cứu cơ bản thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật.

    Lễ trao giải thưởng năm nay dự kiến sẽ được tổ chức vào dịp kỷ niệm Ngày khoa học và công nghệ Việt Nam 18-5 tại Hà Nội.

    Nguồn: https://tuoitre.vn/ba-nha-khoa-hoc-duoc-trao-giai-thuong-ta-quang-buu-nam-2020-20200509202430899.htm

  • 10 xu hướng công nghệ hàng đầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

    10 xu hướng công nghệ hàng đầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

    Chúng ta chưa bao giờ sống trong một thế giới của những đổi mới công nghệ nhanh hơn và sâu rộng hơn như hiện nay. Dưới đây là 10 xu hướng công nghệ hàng đầu đang thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

    1. Trí tuệ nhân tạo và Học máy

    Trí tuệ nhân tạo (AI: Artificial Intelligence) và học máy (Machine learning) liên quan đến khả năng nhận thức và hành động một cách thông minh của máy móc, có nghĩa là chúng có thể đưa ra các quyết định, thực hiện các nhiệm vụ và thậm chí dự đoán kết quả trong tương lai dựa trên những gì chúng thu nhận được từ các nguồn dữ liệu đầu vào.

    Trong tương lai AI sẽ biến đổi thế giới của chúng ta và làm thay đổi cách chúng ta sống trong đó. Hiện tại, nó đã được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta như công cụ tìm kiếm của Google, cung cấp các đề xuất sản phẩm trên Amazon và các đề xuất được cá nhân hóa mà chúng ta nhận được từ Netflix và trong quy trình bảo mật cho việc sử dụng thẻ tín dụng để tránh bị lừa đảo. AI và học máy cũng là nền tảng mà nhiều xu hướng công nghệ khác được xây dựng. AI cung cấp cho máy móc khả năng thực hiện một loạt các quy trình giống như con người, như nhìn (ứng dụng nhận dạng khuôn mặt), viết (thiết bị chatbot) và nói (ứng dụng Alexa). AI sẽ thâm nhập vào cuộc sống của chúng ta nhiều hơn nữa khi thiết bị máy móc ngày càng hoạt động thông minh hơn.

    2. Internet vạn vật (IoT)

    Internet vạn vật (IoT: Internet of Things) là đề cập đến hàng tỷ thiết bị vật lý trên khắp thế giới được kết nối với internet, thu thập và chia sẽ dữ liệu.

    10 xu hướng công nghệ hàng đầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
    10 xu hướng công nghệ hàng đầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

    Điện thoại thông minh là thiết bị thông minh đầu tiên mà nhiều người trong chúng ta tiếp xúc, nhưng giờ đây chúng ta có đồng hồ thông minh, TV thông minh, tủ lạnh thông minh và sẽ sớm có mọi thứ thông minh trong thời gian tới. Hiện nay chúng ta có khoảng 20 tỷ thiết bị thông minh đang hoạt động nhưng dự kiến con số này sẽ tăng lên ít nhất 200 tỷ thiết bị thông minh được kết nối mạng trong tương lai. Những thiết bị thông minh này chịu trách nhiệm cho sự bùng nổ dữ liệu và đang thay đổi nhanh chóng thế giới của chúng ta và cách chúng ta sống trong đó. Khả năng các máy móc kết nối và chia sẻ thông tin với nhau là một phần quan trọng của IoT.

    3. Dữ liệu lớn (Big data)

    Dữ liệu lớn là tập hợp dữ liệu lớn, đa dạng, thay đổi nhanh và phức tạp đến nỗi những công nghệ hay phần mềm truyền thống không có khả năng xử lý trong một khoảng thời gian nhất định.

    Trong kỷ nguyên kỹ thuật số hiện nay, thế giới của chúng ta chứa đầy dữ liệu. Càng có nhiều dữ liệu, chúng ta càng dễ dàng có được những hiểu biết mới và thậm chí dự đoán được những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Bằng cách phân tích khối lượng dữ liệu bằng các thuật toán thông minh, có thể phát hiện ra các vấn đề và các mối quan hệ mà trước đây chúng ta chưa biết. Và khi chúng ta có thể hiểu mối quan hệ giữa các điểm dữ liệu, chúng ta có thể dự đoán tốt hơn các kết quả trong tương lai và đưa ra quyết định thông minh hơn về những việc cần làm tiếp theo.

    4. Blockchains

    Blockchain hay còn gọi là chuỗi khối là hệ thống cơ sở dữ liệu cho phép lưu trữ và truyền tải các khối thông tin được liên kết với nhau nhờ mã hóa.

    Trong thời đại kỹ thuật số ngày nay, việc lưu trữ, xác thực và bảo vệ dữ liệu là những thách thức lớn đối với nhiều tổ chức, doanh nghiệp. Công nghệ blockchain như là một dạng sổ cái phân tán, dạng mở, hứa hẹn một giải pháp thiết thực và siêu an toàn cho vấn đề này. Do đó, blockchain là một công cụ ngày càng hấp dẫn cho các ngành như ngân hàng và bảo hiểm. Nó sẽ biến đổi cách các ngân hàng hoạt động và cách chúng ta giữ tài sản của mình.

    5. Điện toán đám mây và điện toán biên

    Điện toán đám mây hay còn gọi là Cloud Computing, là mô hình cung cấp các tài nguyên máy tính cho người dùng thông qua internet. Nguồn tài nguyên này bao gồm rất nhiều thứ liên quan đến điện toán và máy tính. Ví dụ như: phần mềm, dịch vụ, phần cứng,… và sẽ nằm tại các máy chủ ảo (đám mây) trên mạng. Người dùng có thể truy cập vào bất cứ tài nguyên nào trên đám mây. Vào bất kỳ thời điểm nào và ở bất kỳ đâu, chỉ cần kết nối với hệ thống internet. Trong khi đó, điện toán biên đề cập đến việc xử lý dữ liệu trên các thiết bị như điện thoại thông minh.

    Các nhà cung cấp dịch vụ đám mây như Amazon, Google và Microsoft cho phép các công ty lưu trữ tất cả cơ sở hạ tầng CNTT quan trọng trong đám mây của họ thay vì trong các thiết bị kỹ thuật số của một tổ chức để giảm chi phí để duy trì và vận hành các hệ thống, phần mềm và dữ liệu riêng lẻ. Điện toán biên nằm ở gần các thiết bị đầu cuối chứ không phải ở xa trong các trung tâm dữ liệu từ xa. Thay vì gửi mọi thông tin được thu thập bởi máy ảnh, máy quét, thiết bị đầu cuối cầm tay hoặc cảm biến đến đám mây để xử lý, các thiết bị biên sẽ tự thực hiện một số hoặc tất cả quá trình xử lý, tại nguồn nơi dữ liệu được thu thập.

    6. Robot và Cobots

    Robot ngày nay có thể được định nghĩa là những cỗ máy thông minh có thể hiểu và phản ứng với môi trường của chúng và thực hiện các nhiệm vụ thông thường hoặc phức tạp một cách tự động.

    Trong thời đại dựa trên dữ liệu này, đó là trí thông minh và khả năng hoạt động một cách tự động của các robot. Sự nổi lên của loại robot hợp tác, hay còn gọi là cobots, là thế hệ robot mới nhất được thiết kế để hoạt động cùng với con người như những đồng nghiệp, nhằm hỗ trợ con người, tương tác an toàn và dễ dàng với con người.

    7. Các phương tiện tự lái

    Một phương tiện tự lái có thể là một chiếc xe hơi, xe tải, tàu hoặc phương tiện khác mà có thể cảm nhận được những gì đang diễn ra xung quanh nó và hoạt động mà không có sự tham gia của con người.

    Các nhà sản xuất ô tô lớn đang đầu tư mạnh vào công nghệ tự lái và xe tự lái, điều đó có thể thay đổi bộ mặt của các thành phố của chúng ta trong tương lai. Chúng có khả năng sẽ làm giảm ô nhiễm, cải thiện đáng kể việc đi lại hàng ngày và hơn thế nữa.

    8. Mạng 5G

    5G là mạng thông tin di động thế hệ thứ 5 kết hợp với sự đổi mới sáng tạo trong công nghệ mạng sẽ cho chúng ta một mạng di động nhanh hơn và ổn định hơn, cũng như khả năng kết nối nhiều thiết bị hơn và cho phép truyền tải luồng dữ liệu lớn hơn.

    Công nghệ mạng là xương sống của xã hội trực tuyến và nhờ đó nó tạo ra một thế giới thông minh hơn. Khi băng thông và vùng phủ sóng tăng lên, việc gửi, nhận nhiều email trở nên khả thi hơn, các dịch vụ dựa trên vị trí và phát trực tuyến video và trò chơi sẽ được cải thiện đáng kể. Mạng 5G sẽ cung cấp cho chúng ta không chỉ tốc độ truyền tải dữ liệu cao hơn mà còn có thể cho phép kết nối nhiều thiết bị hơn trong một khu vực địa lý.

    9. Hệ gen và Chỉnh sửa gen

    Hệ gen (Genomics) là một lĩnh vực sinh học liên ngành tập trung nghiên cứu về tất cả các gen và bộ gen của các sinh vật sống. Chỉnh sửa gen là một nhóm các công nghệ cho phép tạo ra các thay đổi trên trình tự gen nội sinh và cấu trúc di truyền của các sinh vật sống.

    Các máy tính ngày càng mạnh mẽ và các công cụ phần mềm tinh vi hiện có là công cụ giúp chúng ta hiểu bộ gen của con người kể từ khi nó được sắp xếp theo trình tự chính xác lần đầu tiên vào năm 2003. Ngày nay, công nghệ sinh học đã phát triển đến mức có thể thay đổi phân tử DNA được mã hóa trong một tế bào và ảnh hưởng đến các đặc điểm mà hậu duệ của nó sẽ có sau khi nó sinh sản bằng cách phân chia tế bào.

    10. Điện toán lượng tử

    Điện toán lượng tử là một trong các phương pháp xử lý thông tin tiến bộ trong tương lai. Theo đó người ta sẽ sử dụng những nguyên lý của cơ học lượng tử để thực hiện các phép tính phức tạp trong một khoảng thời gian ngắn do nhiều siêu máy tính nhanh nhất trên thế giới thực hiện.

    Điện toán lượng tử sẽ định nghĩa lại hoàn toàn máy tính là gì và có thể cho chúng ta sức mạnh tính toán mạnh gấp hàng triệu hoặc hàng nghìn tỷ lần so với siêu máy tính ngày nay. Mặc dù điện toán nhị phân thông thường có thể là tất cả những gì chúng ta sẽ cần cho nhiều nhiệm vụ chúng ta thực hiện trên máy tính trong tương lai gần. Trong khi đó, điện toán lượng tử có thể giúp cho chúng ta xử lý nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo và giải mã các cấu trúc phức tạp như thông tin về bộ gen.

    Phan Văn Hòa (theo Forbes)

    Nguồn: https://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe/10-xu-huong-cong-nghe-hang-dau-cua-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-4-0-638765.html

  • Đề tài cơ sở 2019-Nghiên cứu đánh giá chất lượng cọc khoan nhồi từ kết quả thí nghiệm, các biện pháp khắc phục sửa chữa

    1. Thông tin chung

    + Tên đề tài: Nghiên cứu đánh giá chất lượng cọc khoan nhồi từ kết quả thí nghiệm, các biện pháp khắc phục sửa chữa

    + Chủ nhiệm: TS. Nguyễn ngọc Thắng

    + Cấp quản lý: Trường

    + Năm thực hiện: 2019

    + Tình trạng: Đã nghiệm thu

    2. Mục tiêu

    + Đánh giá chất lượng cọc khoan nhồi trên cơ sở phân tích số liệu thí nghiệm kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi sau thi công.

    + Đưa ra đặc điểm nhận dạng một số dạng khuyết tật và định lượng khuyết tật trong bê tông cọc khoan nhồi sau thi công.

    + Đề xuất giải pháp hạn chế và sửa chữa khuyết tật cọc khoan nhồi sau thi công.

    3. Nội dung thực hiện

    + Thu thập, phân tích tài liệu

    + Xử lý số liệu kết quả thí nghiệm cọc khoan nhồi

    + Phân tích đánh giá các phương pháp thí nghiệm cọc khoan nhồi đang áp dụng tại Việt Nam

    + Nghiên cứu phương pháp đánh giá khuyết tật cọc khoan nhồi, các vấn đề thường gặp và nguyên nhân

    + Phân tích đánh giá các biện pháp xử lý sửa chữa khuyết tật cọc khoan nhồi tại Việt Nam.

    4. Một số hình ảnh và kết quả đề tài

     

     

     

  • Hội nghị Khoa học sinh viên lần thứ 33, năm học 2019 – 2020 – điểm mới trong công tác tổ chức!

    Hội nghị Khoa học sinh viên lần thứ 33, năm học 2019 – 2020 – điểm mới trong công tác tổ chức!

    Trong sự phát triển chung của giáo dục và đào tạo, vấn đề Khoa học và Công nghệ được đặt ra như một động lực của sự phát triển xã hội. Đẩy mạnh hoạt động Khoa học- Công nghệ ở các trường Đại học trong đó hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên là vấn đề luôn được sự quan tâm của cả xã hội. Được sự chỉ đạo sát sao của Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, hoạt động nghiên cứu khoa học của tuổi trẻ Trường Đại học Thủy lợi đã trở thành hoạt động thường kỳ tạo nên không khí học thuật sôi nổi góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. NCKH đã thực sự trở thành nguồn động lực, gây dựng những ước mơ, hoài bão để sinh viên trở thành những cán bộ khoa học tương lai.

    Tiếp nối thành công của các kỳ hội nghị trước, Hội nghị khoa học sinh viên lần thứ 33 – năm học 2019-2020 đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Ban Giám hiệu và các đơn vị, đặc biệt là sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của đội ngũ cán bộ giảng viên.

    Nhằm hướng tới Hội nghị Khoa học sinh viên thực sự là ngày hội của sinh viên và tạo điều kiện cho giáo viên tham dự đông đủ, Nhà trường sẽ tổ chức Hội nghị Khoa học sinh viên cấp Khoa tại khu hội thảo K1 và thư viện.

    Do diễn biến phức tạp của dịch COVID-19 nên Hội nghị Khoa học sinh viên lần thứ 33, năm học 2019 – 2020 sẽ được tổ chức theo kế hoạch mới như sau:

    20/5/2020

    Hạn cuối cùng gửi danh sách Hội đồng đánh giá cấp Khoa về Phòng Khoa học Công nghệ (P9) để trình BGH ra quyết định

    22/5/2020

    Hạn cuối cùng nộp báo cáo tóm tắt (theo mẫu) về P9

    30/5/2020

    Hội nghị cấp Khoa

    01/6/2020

    Hạn cuối cùng gửi biên bản Hội nghị cấp Khoa về P9

    03/6/2020

    Nhà trường xét cơ cấu giải cấp Khoa

    05/6/2020

    Hội đồng đánh giá giải thưởng cấp Trường

    12/6/2020

    Hội nghị cấp Trường

     

    Phòng KHCN

  • Thông báo điều chỉnh thời gian tiếp nhận hồ sơ đề tài đăng ký tham gia xét tặng Giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” năm 2020

    Thông báo điều chỉnh thời gian tiếp nhận hồ sơ đề tài đăng ký tham gia xét tặng Giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” năm 2020

    Ngày 25/2/2020, Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành công văn số 542/BGDĐT-KHCNMT về việc tổ chức xét tặng Giải thưởng "Sinh viên nghiên cứu khoa học" năm 2020, trong đó yêu cầu thời gian nộp hồ sơ tham gia xét tặng giải thưởng từ ngày 25/5/2020 đến ngày 30/6/2020.

    Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid, Bộ Giáo dục và đào tạo điều chỉnh thời hạn nộp hồ sơ tham gia xét tặng giải thưởng từ ngày 25/7/2020 đến hết ngày 30/8/2020.

    Chi tiết xin xem Tại đây

    Phòng KHCN