Danh mục: Nghiên cứu

  • Giảng viên và cựu sinh viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ

    Giảng viên và cựu sinh viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ

    Chiều 22-5, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã làm việc với Tổ Thông tin đáp ứng nhanh phòng, chống dịch Covid-19 (Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19). Tại đây, thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trao tặng Bằng khen của Thủ tướng cho một số thành viên, tình nguyện viên, chuyên gia công nghệ thông tin, những người đã tự nguyện tham gia ngay từ những ngày đầu phòng, chống dịch Covid-19, từ công tác truy vết, xây dựng hệ thống an toàn Covid-19 (antoancovid.vn), đến phối hợp thực hiện khai báo y tế tại các vùng dịch, đánh giá nguy cơ dịch bệnh ở các địa phương.

    Những cá nhân được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ đến từ nhiều đơn vị khác nhau nhưng có điểm chung là đều tự nguyện tham gia với mong muốn được cống hiến những hiểu biết, tri thức, công sức của mình cùng đất nước chiến thắng “giặc” Covid-19. Trong đó, có PGS.TS Nguyễn Ngọc Doanh (Phó trưởng Phòng Khoa học công nghệ, Trường Đại học Thủy lợi) đã xây dựng một số mô hình nhằm ước tính số ca nhiễm từ một hay nhiều ổ dịch, ước tính thời điểm xuất hiện F0; tính toán nguy cơ Covid-19 ở các mức độ và phạm vi khác nhau…; cựu sinh viên K43 khoa Công nghệ thông tin Trường Đại học Thủy lợi – Ông Lê Công Thành, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ chọn lọc thông tin (InfoRe) đã phát triển hệ thống hồ sơ dữ liệu phục vụ lưu trữ tập trung dữ liệu từ nhiều nguồn, hỗ trợ truy vết thông tin dịch tễ; mô hình hóa hiện trạng dịch bệnh để đánh giá rủi ro, phát hiện các cụm dịch tiềm năng dựa trên trí tuệ nhân tạo…

    Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trao Bằng khen của Thủ tướng chính phủ cho PGS.TS Nguyễn Ngọc Doanh – Phó trưởng Phòng Khoa học công nghệ, trường Đại học Thủy lợi

    Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trao Bằng khen của Thủ tướng chính phủ cho ông Lê Công Thành, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ chọn lọc thông tin (InfoRe)-cựu sinh viên K43 khoa Công nghệ thông tin Trường Đại học Thủy lợi

    Minh hoạ tính toán nguy cơ Covid-19 ở phạm vi xã phường

    Minh hoạ tính toán nguy cơ Covid-19 ở phạm vi quận huyện

    Ngoài ra, Phó Thủ tướng cũng trao Bằng khen của Thủ tướng chính phủ cho Ông Nguyễn Thế Trung, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần công nghệ DTT đã tham gia thiết lập và tổ chức Tổ Thông tin đáp ứng nhanh; thiết kế và hỗ trợ triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin chống dịch: NCOVI, Khaibaoyte; thiết lập diễn đàn 300 nhà khoa học về dịch tễ và công nghệ thông tin, xây dựng các mô hình phân tích, dự báo, mô phỏng chống dịch; chủ trì báo cáo tính nguy cơ rủi ro về dịch của các tỉnh, thành trên toàn quốc.

    Ông Nguyễn Việt Cường, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Tích hợp thông minh phụ trách việc ứng dụng công nghệ xử lý dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, mô hình hóa hiện trạng dịch bệnh để đánh giá rủi ro, phát hiện các cụm dịch tiềm năng… Đặc biệt, vợ ông Nguyễn Việt Cường là bà Nguyễn Thùy Linh, nghiên cứu sinh về khoa học máy tính cũng tham gia Tổ Thông tin từ những ngày đầu, đảm trách việc phân tích chi tiết các thông tin ca bệnh, chùm bệnh, đưa ra các biểu đồ phân tích hỗ trợ cho ra các quyết định liên quan đến giãn cách xã hội, khoanh vùng, dập dịch.

    Ông Lý Tuấn Anh, chuyên gia dữ liệu và hệ thống (Công ty cổ phần Công nghệ DTT) là người chủ trì điều hành triển khai Dự án “An toàn với Covid-19” (antoancovid.vn) để đảm bảo chung sống an toàn với dịch Covid-19 tại các địa điểm công cộng như trường học, bệnh viện, khách sạn, phòng khám, trạm xá, địa điểm cách ly… trên toàn quốc.

    Tiến sĩ Lê Chí Ngọc (Viện Toán ứng dụng và Tin học, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) là người xây dựng mô hình tính toán xác định nguy cơ, hỗ trợ đưa ra các quyết định liên quan đến giãn cách xã hội, khoanh vùng, dập dịch.

    Ngoài 7 cá nhân tiêu biểu lần này, Tổ Thông tin còn có sự tiếp sức liên tục của rất nhiều chuyên gia tình nguyện, có thể kể đến bà Đào Thị Hà, Tiến sĩ Toán học, người có thể nhớ đến từng ca bệnh và mối liên quan của hàng trăm ca bệnh. Ông Nguyễn Thanh Liêm, Tiến sĩ Xã hội học, người đưa ra các chỉ số tổng quát để thiết lập mô hình đánh giá nguy cơ, cũng như các cán bộ, chuyên gia của Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, Đại học Y Hà Nội, Đại học Y tế công cộng, Bộ Khoa học và Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội…

    Lễ trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ được thực hiện ngay tại nơi làm việc của Tổ Thông tin trong không khí trang nghiêm, xúc động, dù không có hoa, không có sân khấu. Ngay sau buổi lễ, những cá nhân được tuyên dương lại cùng với đồng nghiệp quay trở lại ngay với những việc đang đợi chờ từng phút, từng giây.

    Tin tức liên quan:

    https://vnexpress.net/to-thong-tin-dap-ung-nhanh-covid-19-nhan-bang-khen-cua-thu-tuong-4282476.html

    https://vnmedia.vn/su-kien-va-van-de/202105/thanh-vien-to-thong-tin-dap-ung-nhanh-nhan-bang-khen-cua-thu-tuong-chinh-phu-77e1c53/

    https://congnghe.tuoitre.vn/thanh-vien-to-thong-tin-dap-ung-nhanh-nhan-bang-khen-cua-thu-tuong-20210522202622219.htm?fbclid=IwAR2A8m-nj5HUKcox20vW54UZ8E37vpL3-353HARx8UdIRyw5JJIXWsd7OlU

    https://m.baochinhphu.vn/story.aspx?did=432122&fbclid=IwAR0b4yf2Z9a27bKdhDtkYfCsYXn5wIIKbKjx6nkD3q_nWTi_Rbj_fW1_KmI

  • Hội thảo tháng 4/2021 của nhóm Nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi (TLU)

    Hội thảo tháng 4/2021 của nhóm Nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi (TLU)

    Tại buổi Hội thảo vào ngày 02/4/2021, Nhóm Nghiên cứu Kỹ thuật học máy và điều khiển thông minh (Machine Learning Techniques and Intelligent Control – MLIC) – TLU đã trình bày bài tham luận về Nâng cao khả năng giảm méo phi tuyến cho hệ thóng OFDM dùng điều chế thích nghi bằng BPSO (do TS. Mai Văn Lập trình bày). Kết quả mô phỏng cho thấy giảm mép phi tuyến cho hệ thống OFDM dùng điều chế thích nghi bằng kỹ thuật NBPSO dựa trên phương pháp DSI đạt được hiểu quả cao thông qua giảm PAPR. Buổi Hội thảo đã đánh giá và thảo luận toàn diện các kết quả nghiên cứu trong tháng 4/2021 của nhóm MLIC.

    Tương tự vào ngày 27/4/2021, Nhóm Trí tuệ nhân tạo cho biến đổi khí hậu và điều khiển hệ thống (Artificial Intelligence for Tackling Climate Change and Controlling System – AICOST) – TLU đã trình bày 02 bài tham luận về: (1) Một số hệ thống tính toán và dự báo nguồn nước (do PGS.TS. Nghiêm Tiến Lam trình bày); (2) Mô hình học máy bán giám sát trong dự báo (do TS. Trần Mạnh Tuấn trình bày).

    Ngày 28/4/2021, Nhóm Nghiên cứu các hợp chất hữu cơ (Research of Organic Matter – ROOM) – TLU đã trình bày 03 bài tham luận về: (1) Khảo sát, đánh giá hiện trạng chất lượng nước hệ thống thủy lợi Liễn Sơn (do PGS.TS. Bùi Quốc Lập trình bày); (2) Khảo sát, đánh giá hiện trạng chất lượng nước hệ thống thủy lợi Liễn Sơn (do TS. Phan Thị Thu Hồng trình bày); (3) Quy trình xử lý nước thải chăn nuôi sau biogas bằng công nghệ thân thiện môi trường chi phí thấp (do PGS.TS. Bùi Thị Kim Anh trình bày). 

    Ngày 29/4/2021, Nhóm Ứng dụng GIS và viễn thám (GIS and Remote sensing Application – GRAT) – TLU đã trình bày 02 bài tham luận về: (1) Định hướng sử dụng mô hình HEC-RAS vào các nội dung nghiên cứu của nhóm GRAT (PGS.TS. Trần Kim Châu trình bày); (2) Ứng dụng của mô hình MIKE trong nghiên cứu đánh giá ngập lụt đô thị, diễn biến đường bờ biển (TS. Đặng Đồng Nguyên trình bày).

    Thông qua buổi Hội thảo, các Nhóm Nghiên cứu mạnh cùng các báo cáo viên và các đại biểu tham dự đã có những phần thảo luận sôi nổi, chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, trao đổi về sự hợp tác nghiên cứu giữa các Nhóm Nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi (TLU) với các đơn vị, các đại biểu tham dự nhằm đẩy mạnh cơ hội cùng cộng tác cùng phát triển trong nghiên cứu.

    Một số hình ảnh được ghi nhận tại buổi Hội thảo:

    ​

    ​Nguồn tin: Phòng KHCN

  • Đề xuất đề tài NCKH trọng điểm Trường ĐHTL năm 2021

    Đề xuất đề tài NCKH trọng điểm Trường ĐHTL năm 2021

    Thực hiện kế hoạch khoa học công nghệ hàng năm, Trường Đại học Thủy lợi xin thông báo tới Quý thầy cô kế hoạch đề xuất và giao thực hiện đề tài NCKH trọng điểm năm 2021 như sau:    

    • Gửi phiếu đề xuất và bảng tổng hợp đề xuất của đơn vị theo các mẫu: 1, 2 kèm theo về Phòng KHCN (P9) trước 17:00 ngày 18/6/2021
    • Xét duyệt các đề xuất đề tài trọng điểm từ ngày 21/6/2021 đến 30/6/2021 
    • Nộp hồ sơ hoàn thiện theo mẫu 3, 4, 5 và 6 kèm theo (đối với các đề tài được xét duyệt thực hiện) về P9 trước 17:00 ngày 20/8/2021
    • Xét duyệt hồ sơ hoàn thiện từ 21/8/2021 đến 31/8/2021 
    • Quyết định giao nhiệm vụ và ký hợp đồng trách nhiệm : Trong tháng 9/2021 

                 Hồ sơ và mẫu văn bản đề xuất: 

  • Đề xuất thành lập các nhóm nghiên cứu mạnh Trường Đại học thủy lợi năm 2021

    Đề xuất thành lập các nhóm nghiên cứu mạnh Trường Đại học thủy lợi năm 2021

    Thực hiện kế hoạch khoa học công nghệ hàng năm, Trường Đại học Thủy lợi xin thông báo tới Quý thầy cô kế hoạch đề xuất thành lập các nhóm nghiên cứu mạnh năm 2021 như sau: 

    1. Nộp Hồ sơ sơ bộ (theo các mẫu: 1, 2 và 5 kèm theo) về Phòng KHCN trước 17:00 ngày   18/6/2021  

    2. Xét duyệt hồ sơ sơ bộ từ ngày 21/6/2021 đến 30/6/2021 

    3. Nộp hồ sơ hoàn thiện theo mẫu 3 và 4 kèm theo (đối với các nhóm được xét duyệt thực hiện) về phòng KHCN trước 17:00 ngày 20/8/2021

    4. Xét duyệt hồ sơ hoàn thiện từ 21/8/2021 đến 31/8/2021 

    5. Quyết định thành lập các nhóm nghiên cứu mạnh: Trong tháng 9/2021 

    Hồ sơ và các văn bản liên quan gồm:

  • Ngày KH&CN Việt Nam 2021: Đổi mới sáng tạo để kiến tạo tương lai

    Bộ Khoa học và Công nghệ vừa có Công văn  gửi tới các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; một số trường đại học… về việc hướng dẫn tổ chức Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (KH&CN) năm 2021.

    Từ năm 2014 đến nay, Ngày KH&CN Việt Nam 18/5 đã trở thành ngày truyền thống, ngày hội quan trọng của những người làm công tác nghiên cứu khoa học, quản lý khoa học, của các doanh nghiệp có tinh thần đổi mới sáng tạo; là điểm hẹn thường niên để cộng đồng KH&CN cả nước tổ chức các sự kiện có ý nghĩa thiết thực, vừa để ghi nhận những nỗ lực, thành công của ngành KH&CN đóng góp cho kho tàng tri thức cũng như phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, vừa để thảo luận, định hướng hoạt động nhằm hướng đích các mục tiêu của ngành KH-CN nói riêng, của đất nước nói chung.

    Ngày KH&CN Việt Nam 18/5 năm 2021 có chủ đề “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Khơi dậy khát vọng, kiến tạo tương lai”. 

    Ngày KH&CN Việt Nam 2021: Đổi mới sáng tạo để kiến tạo tương lai - Ảnh 1.

    Ngày KH&CN Việt Nam 18/5 năm 2021 có chủ đề “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Khơi dậy khát vọng, kiến tạo tương lai”.

    Theo đó, từ ngày 3/5 đến 19/5 sẽ có nhiều hoạt động chào mừng như: Tổ chức khen thưởng hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng các cá nhân xuất sắc, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển KH&CN của Bộ, ngành, địa phương, cơ quan nhân Ngày KH&CN Việt Nam; Tổ chức chuỗi sự kiện chào mừng Ngày KH&CN Việt Nam, các chương trình gặp gỡ; giao lưu trực tiếp hoặc trực tuyến giữa các nhà quản lý KH&CN, nhà khoa học với học sinh, sinh viên, nhà sáng chế trên địa bàn của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương; Tổ chức buổi gặp mặt giữa lãnh đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với các trí thức, giáo sư đầu ngành, nhà khoa học tiêu biểu, các nhà khoa học trẻ tài năng thuộc ngành, lĩnh vực và địa phương quen thuộc…

    Bộ KH&CN yêu cầu các hoạt động chào mừng Ngày KH&CN Việt Nam năm 2021 được tổ chức ý nghĩa, thiết thực, tiết kiệm, hiệu quả. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để kết nối, lan tỏa các hoạt động chào mừng Ngày KH&CN Việt Nam năm 2021 trong phạm vi cả nước.

    Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu tăng 17 bậc

    Theo số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ, tính đến tháng 1/2021, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng tăng từ 33,6% giai đoạn 2011 – 2015 lên 45,2% giai đoạn 2016 – 2020, tính chung 10 năm 2011 – 2020 đạt 39,0% (vượt mục tiêu 35%); Tỉ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị hàng hoá tăng từ 19% năm 2010 lên khoảng 50% năm 2020. 

    Ngày KH&CN Việt Nam 2021: Đổi mới sáng tạo để kiến tạo tương lai - Ảnh 2.

    Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu – GII tăng 17 bậc trong giai đoạn 2016 – 2020

    Đặc biệt, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu – GII tăng 17 bậc trong giai đoạn 2016 – 2020, đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á, đứng đầu trong số các quốc gia ở mức thu nhập trung bình thấp.

    Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội, khi nhiều nước rơi vào suy thoái, Việt Nam nằm trong nhóm ít các quốc gia duy trì tăng trưởng dương, kiểm soát tốt dịch bệnh, đạt nhiều kết quả ấn tượng. 

    Với tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2020 tăng 2,91%, Việt Nam thuộc nhóm nước có tăng trưởng cao nhất thế giới. Trong thành tựu chung đó, có đóng góp quan trọng của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. 

    Số lượng doanh nghiệp KH&CN tăng nhanh

    Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với các bộ, ban, ngành, địa phương triển khai hiệu quả các nhiệm vụ KH&CN quốc gia, các chương trình phát triển khoa học cơ bản, nhiệm vụ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật – công nghệ.

    Cơ cấu chi cho KH&CN đã có sự thay đổi theo xu hướng tích cực: Chi từ ngân sách nhà nước là 52%; từ doanh nghiệp tăng lên 48%.

    Bộ KH&CN đã tập trung hướng dẫn triển khai cơ chế tự chủ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện, sắp xếp lại các tổ chức KH&CN; hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nhân lực KH&CN. Nhiều dự án đầu tư lớn được triển khai tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc. Số vốn đăng ký và giá trị sản xuất của 03 khu công nghệ cao quốc gia đều tăng.

    Các nhiệm vụ KH&CN đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề cấp thiết của địa phương.

    Thị trường KH&CN tiếp tục được phát triển thông qua nhiều hoạt động xúc tiến như triển lãm chuyên ngành, xây dựng các điểm kết nối cung – cầu công nghệ, chợ công nghệ và thiết bị,…

    Số lượng doanh nghiệp KH&CN tăng nhanh với hàng nghìn doanh nghiệp đang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp KH&CN.

    Hậu kiểm đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí 820 tỉ đồng

    Năm 2020, Việt Nam tiếp tục giữ vững thứ hạng 42/131 quốc gia, vùng lãnh thổ về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu và tiếp tục được xem là hình mẫu của các nước đang phát triển khác trong việc thiết lập đổi mới sáng tạo như một ưu tiên quốc gia.

    Triển khai Nghị quyết số 50 năm 2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 52 năm 2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhiều hoạt động đã được triển khai như xét duyệt các nhiệm vụ thuộc Chương trình hỗ trợ các tổ chức nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư; tổ chức Ngày hội trí tuệ nhân tạo AI4VN2020; chuỗi sự kiện 3 tọa đàm online giúp doanh nghiệp ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào sản xuất, kinh doanh.

    Đã công bố 895 tiêu chuẩn quốc gia, tăng 127% so với 2019; thẩm định 148 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật địa phương, tăng 60% so với năm 2019. Cơ chế hậu kiểm đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí 820 tỉ đồng.

    Đã xử lý 68.971 đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp (tăng 8,3% so với năm 2019). Cấp văn bằng bảo hộ cho 47.168 đối tượng sở hữu công nghiệp (tăng 15,6% so với năm 2019).

    Công tác bảo đảm an toàn bức xạ và hạt nhân; đẩy mạnh ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình tập trung vào việc đảm bảo nguồn cung đồng vị phóng xạ, dược chất phóng xạ cho các cơ sở y tế; trình Thủ tướng Chính phủ hồ sơ nhiệm vụ lập Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

    Hoạt động hợp tác quốc tế được triển khai có hiệu quả trong bối cảnh đại dịch Covid-19 thông qua các hình thức họp trực tuyến và làm việc từ xa. Đặc biệt, trong năm Việt Nam đảm nhiệm chức Chủ tịch ASEAN 2020, Bộ đã tích cực thúc đẩy hoạt động hợp tác về KHCN và đổi mới sáng tạo, chủ động triển khai các hoạt động trong danh mục sự kiện ASEAN 2020.

    Việc ứng dụng công nghệ thông tin và cải cách hành chính được triển khai mạnh mẽ, đảm bảo cung cấp thông tin về thủ tục, dịch vụ công kịp thời, chính xác, thuận lợi cho doanh nghiệp.

    Làm chủ công nghệ sản xuất bộ KIT phát hiện SARS-CoV-2 đạt tiêu chuẩn quốc tế

    Các nhiệm vụ nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn đã đóng góp hiệu quả phục vụ điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong phát triển kinh tế – xã hội; phục vụ trực tiếp việc chuẩn bị cho Đại hội XIII của Đảng.

    Tháng 11/2020, Bộ KH&CN đã tiếp nhận bản thảo Bộ Lịch sử Việt Nam – là “bộ Quốc sử mang tính chất quốc gia chính thống” với 25 tập thông sử, 5 tập biên niên sự kiện lịch sử, do hơn 300 nhà khoa học thực hiện trong 5 năm. Theo Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam đây thực sự là kết tinh của hồn thiêng sông núi và sẽ sống mãi với thời gian.

    Ngày KH&CN Việt Nam 2021: Đổi mới sáng tạo để kiến tạo tương lai - Ảnh 3.

    Việt Nam làm chủ công nghệ sản xuất bộ KIT phát hiện SARS-CoV-2 đạt tiêu chuẩn quốc tế.

    Về nông nghiệp, đã chọn tạo, công nhận chính thức 32 giống cây trồng, vật nuôi, 36 tiến bộ kỹ thuật, trong đó 2 giống lúa được sản xuất quy mô lớn. Nghiên cứu thành công việc sinh sản nhân tạo tôm mũ ni, hải sâm vú, trai tai tượng – là các nguồn gen thủy sản có giá trị kinh tế cao…

    Các chương trình, nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia được triển khai hiệu quả, góp phần duy trì xuất khẩu ở mức cao so với các năm trước những mặt hàng nông sản chủ lực trong đại dịch Covid-19.

    Trong công nghiệp, đã chế tạo thành công nhiều thiết bị, dây chuyền sản xuất, chủng loại vật liệu mới phục vụ phát triển ngành cơ khí chế tạo, năng lượng, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp,…

    Về y dược, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, Bộ KH&CN đã huy động các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp triển khai các nhiệm vụ cấp bách với nhiều kết quả quan trọng như: Việt Nam là 1 trong 3 nước đầu tiên phân lập, nuôi cấy thành công vi rút; làm chủ công nghệ sản xuất bộ KIT phát hiện SARS-CoV-2 đạt tiêu chuẩn quốc tế; sản xuất vắc xin phòng Covid-19 bằng công nghệ protein tái tổ hợp và thuốc kháng thể đơn dòng điều trị đặc hiệu Covid-19, trong đó vắc xin Nanocovax đang thử nghiệm lâm sàng trên người tình nguyện; tổng hợp trên 1.700 công bố khoa học quốc tế về dịch bệnh; phát huy đề án Hệ tri thức việt số hóa trong truy vết người tiếp xúc; nghiên cứu chế tạo, thử nghiệm thành công Robot vận chuyển, Robot khử khuẩn sàn nhà trong khu cách ly.

    Các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công quy trình ghép chi thể từ người cho chết não, ghép ruột từ người cho sống, phẫu thuật tách cặp trẻ bị dính liền cơ thể.

    Theo Báo Dân Việt

  • Danh sách thành viên tham gia Hội đồng giáo sư cơ sở Trường ĐH Thủy lợi

    Danh sách thành viên tham gia Hội đồng giáo sư cơ sở Trường ĐH Thủy lợi

    Danh sách thành viên tham gia Hội đồng giáo sư cơ sở Trường ĐH Thủy lợi năm 2021 được HĐ KH&ĐT Trường giới thiệu như sau:

    TT Họ và tên thành viên Đơn vị công tác Chuyên môn
    1 GS.TS. Trịnh Minh Thụ Trường ĐHTL ĐKT Xây dựng
    2 GS.TS. Nguyễn Trung Việt Trường ĐHTL KT XD Công trình thủy
    3 GS.TS. Nguyễn Đức Chiến Trường ĐH Bách Khoa HN Vật lý
    4 GS.TS. Nguyễn Tiến Chương Hội KC&CNXD KT Xây dựng
    5 GS.TS. Thân Ngọc Hoàn Trường ĐHTL Tự động hóa
    6 GS.TS. Phạm Huy Khang Trường ĐH GTVT KT XD CT giao thông
    7 GS.TS. Phạm Thị Hương Lan Trường ĐHTL Thủy văn
    8 GS.TS. Nguyễn Doãn Phước Trường ĐH Bách Khoa HN Tự động hóa
    9 GS.TS. Thiều Quang Tuấn Trường ĐHTL KT XD Công trình biển
    10 GS.TS. Vũ Đức Toàn Trường ĐHTL KT Môi trường
    11 PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái Trường ĐHTL KT XD Công trình thủy
    12 PGS.TS. Nguyễn Tuấn Anh Trường ĐHTL KT Tài nguyên nước
    13 PGS.TS. Nguyễn Hữu Huế Trường ĐHTL KT XD Công trình thủy
    14 PGS.TS. Ngô Lê Long Trường ĐHTL Thủy văn
    15 PGS.TS. Lương Duy Thành Trường ĐHTL Vật lý
  • Quyết định ban hành Quy định về việc tổ chức thực hiện đề tài NCKH trọng điểm Trường Đại học Thủy lợi

    Quyết định ban hành Quy định về việc tổ chức thực hiện đề tài NCKH trọng điểm Trường Đại học Thủy lợi

    QUY ĐỊNH

    Về việc tổ chức thực hiện đề tài NCKH trọng điểm Trường Đại học Thủy lợi

    (Ban hành kèm theo Quyết định số 231/QĐ-ĐHTL ngày 18 tháng 3 năm 2021 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi)

    ____________________

    Chương I

    QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Phạm vi và đối tượng được nhận tài trợ

    Nguồn ngân sách khoa học và công nghệ của Trường Đại học Thủy lợi (dưới đây gọi là Nguồn ngân sách KHCN) tài trợ cho các nghiên cứu khoa học (đề tài trọng điểm) do các cán bộ, giảng viên của Trường thực hiện.

    Điều 2. Mục tiêu

    1. Tạo điều kiện và xây dựng môi trường nghiên cứu thuận lợi, có tính liên tục và kế thừa nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường;

    2. Phát triển năng lực nghiên cứu của cá nhân, tập thể; hỗ trợ các nhóm nghiên cứu mạnh;

    3. Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, gia tăng số lượng kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín;

    4. Góp phần thúc đẩy hợp tác và hội nhập quốc tế.

    Nội dung chi tiết xin xem QĐ số 231/QĐ-ĐHTL

    Các biểu mẫu kèm theo:

    M1-Đơn đăng ký

    Mẫu 03-Lý lịch khoa học

    Mẫu đề xuất đề tài trọng điểm

  • Đề xuất nhiệm vụ KHCN ứng dụng công nghệ 4.0

    Đề xuất nhiệm vụ KHCN ứng dụng công nghệ 4.0

    Công văn số 909/BKHCN-VP ngày 20/4/2021 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc đề xuất đề tài/dự án thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Quốc gia giai đoạn đến năm 2025 “Hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ của công nghiệp 4.0” thực hiện năm 2022-2023.

    Các thầy cô quan tâm và có đề xuất nghiên cứu xin gửi cho Phòng KHCN trước 17:00 ngày 20/7/2021 để Phòng tập hợp và báo cáo Bộ.

    Nội dung chi tiết xin xem Tại đây./.

  • Hội thảo tháng 3/2021 của nhóm Nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi (TLU)

    Hội thảo tháng 3/2021 của nhóm Nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi (TLU)

    Tại Hội thảo, nhóm Trí tuệ nhân tạo cho biến đổi khí hậu và điều khiển hệ thống (AICOST) – TLU đã trình bày 03 bài tham luận về: (1) AI Contest for Rainfall Prediction of Hydroelectric Dam Using Public Data (do TS. Lê Xuân Hiến trình bày); (2) Thu thập dữ liệu về radar (do PGS.TS. Nguyễn Thanh Tùng trình bày); (3) Ý nghĩa của dự báo lượng mưa trên ảnh radar và tại trạm Thuỷ Văn (do PGS.TS. Trần Kim Châu trình bày). Buổi Hội thảo đã đánh giá và thảo luận toàn diện các kết quả nghiên cứu trong tháng 3/2021 của nhóm AICOST.

    Nhóm Trí tuệ nhân tạo cho biến đổi khí hậu và điều khiển hệ thống (AICOST) – TLU

    Tương tự, nhóm Ứng dụng GIS và viễn thám (GRAT) – TLU đã trình bày 02 bài tham luận về: (1) Định hướng nghiên của nhóm GRAT và các ứng dụng viễn thám vào lĩnh vực thủy lợi và phòng chống thiên tai (do PGS.TS. Võ Công Hoang trình bày); (2) Ứng dụng dữ liệu viễn thám hỗ trợ các mô hình toán đánh giá ngập lụt đô thị (do TS. Đặng Đồng Nguyên trình bày).

    Nhóm Ứng dụng GIS và viễn thám (GRAT) – TLU

    Nhóm Nghiên cứu các hợp chất hữu cơ (ROOM) – TLU đã trình bày 02 bài tham luận về: (1) Tổng quan về hiện trạng môi trường sông Cầu Bây (do PGS.TS. Nguyễn Thị Lan Hương trình bày; (2) Tồn lưu PCB trong môi trường sông Cầu Bây (do GS.TS. Vũ Đức Toàn trình bày); (3) Ô nhiễm PAE trong môi trường sông Cầu Bây (do GS.TS. Vũ Đức Toàn trình bày).

    Thông qua buổi Hội thảo, các nhóm nghiên cứu mạnh cùng các báo cáo viên và các đại biểu tham dự đã có những phần thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, trao đổi về sự hợp tác nghiên cứu giữa các nhóm nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi (TLU) với các đại biểu tham dự nhằm đẩy mạnh cơ hội cùng cộng tác cùng phát triển trong nghiên cứu.

    Một số hình ảnh được ghi nhận tại buổi Hội thảo:

    Phòng KHCN