TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI THÂN YÊU
|
Ghế đá sân trường
Ghế đá góc sân trường
Giữ bao hương đồng nội?
Ngày tựu trường bối rối
Gặp nhau mọi miền quê.
Mỗi lần vào mùa thi
Miệt mài bên ghế đá
Cánh phượng rơi lả tả
Trang vở nhàu, mực phai…
Sau năm học thứ hai
Xốn sang bao kỷ niệm
Gió ru lời da diết
Bằng lăng tím vấn vương.
Năm cuối khoá thân thương
Thầm thì lời tâm sự
Cây xoè cành nhung nhớ
Xao xuyến mùa ve ran.
Cơn gió nào lang thang
Dùng dằng bên ghế đá
Nghe lời tha thiết quá
Nâng khoảng trời bay lên.
Nguyễn Thị Nghĩa
Cựu SVTC- Đại học Thuỷ lợi Hà Nội
Hội viên Hội VHNT Vĩnh Phúc
|
|
Dương Văn Bướm
Cựu sinh viên khoá 6, Nguyên Giám đốc Ttrung tâm ĐH2, Trường ĐHTL
Gửi T.T. ĐH2 Anh và em khoác ba lô lên tàu Con tàu đưa ta đến miền Trung
Tàu dừng lại, đường chưa thông Xe đưa ta đến tận cùng đất nước Đó là ngày anh từng mong ước Tháng 2 năm 76 ngày 2 Giải phóng miền Nam mới hơn 9 tháng Ngày hành quân của thầy – trò Trường Thủy lợi Quên sao được những ngày đầu gian khó Vượt núi, vượt sông, lội suối, trèo đèo Những cánh đồng mênh mông không nước Là vành đai trắng trong chiến tranh Dây thép gai oằn lại Bom mìn quân thù cài lại Cái chết cận kề Vẫn măng rừng rau đắng Những nụ cười trẻ thơ Những đôi mắt đen tròn lấp lánh Đã ngời lên trong ánh nắng hòa bình Ta đến những thôn làng Những buôn sóc ngày qua Là chiến khu kháng chiến Đo vẽ bản đồ, lập quy hoạch Cho những dự án đầu tiên Của vùng giải phóng Bao tên đất, tên người Đã cùng ta một thời gắn bó Đi suốt chặng đường thật khó quên Hồ Tuyền Lâm ra đời như thế Hồ Núi Một ngăn sông An Trường Quê hương của Quang Trung Vị anh hùng dân tộc Rồi Đồng Cam – Nha Trinh – Lâm Cấm Phát triển nguồn Kết hợp với đồng ruộng phải sinh sôi Nét bút khai sinh ra những dòng kênh Mang lại màu xanh trù phú Từ 5000ha đất trắng Đưa lên 25000ha gieo trồng Đó là vùng đất Chăm Pa Có tháp Pơ Klon – gia – rai huyền thoại Anh cùng em đến Cà Giây Đắp đập, xây hồ Cho quê hương em không còn đói nghèo, hạn úng Đến vùng đất đỏ miền Đông Quê hương của chị Võ Thị Sáu Người con gái Việt Nam Một thời làm quân thù khiếp sợ Ra Côn Đảo anh thiết kế hồ Quang Trung Đến Long Sơn làm hồ Mang Cá Trong đất liền làm hồ Suối Các, Suối Giai Lên Bình Dương, Bến Cát Vượt qua sông Bé đến Bình Long, Bù Đăng, Bù Đốp Làm hồ An Khương, Cần Nôm Về sóc Bom Bo làm hồ Ông Thoại, Đăk Liên Không kể hết những công trình Mang tên ĐH2 Đem lại màu xanh cho đất Do thầy trò, trung tâm góp sức dựng xây Nhưng đó chỉ là một phần Trong bộn bề công việc Từ tháng 2 – 76 đến nay
Tại nơi này đã có hàng nghìn sinh viên tốt nghiệp Tỏa về mọi miền đất nước Cùng góp mồ hôi công sức Để xây dựng những công trình Những đập thủy điện ngang tầm cao thế giới Anh cùng em đã bao đêm thức trắng Giải những phương trình đa biến của dòng sông Tìm quy luật xói bồi Tìm tương tác dòng sông với vịnh biển Những nghiệm của phương trình Là kết luận của đề tài KC – 95 – 12, cấp nhà nước Đem ứng dụng vào thực tiễn hôm nay Xây những cây cầu sừng sững cho tương lai Để phát triển giao thông ven biển Hạnh phúc nào bằng Khi nhìn lại 30 năm trước Nước mắt trào dâng bởi sung sướng tự hào Bao vùng sâu, vùng xa Nơi núi rừng heo hút Thầy trò ĐH2 đã gieo mầm hy vọng Như Sông Sắt, Đắk Lô Hồ chứa hàng chục triệu khối nước Nơi này sẽ đẹp lắm nghe em Anh cùng em vẫn đi
Trong đội ngũ điệp trùng của người làm thủy lợi Bởi hạn hán và bão giông Không bao giờ hết Vẫn là cái chết cận kề Nhưng là cái chết thiên tai đem đến Bão Chan – chu là bài học suốt đời! Ta không làm được nhiều Nhưng vẫn có cái lo của người trong cuộc Lo về nước là cái lo của người yêu nước Ta có niềm tin, có trí tuệ, ước mơ So với 30 năm trước Giờ đã thay đổi rất nhiều Kiên định niềm tin Nâng ước mơ, ta đưa trí tuệ vào cuộc sống Đồng bằng sông Cửu Long Với những công trình Như kênh KH9 Kiên Giang Cống ông Hiếu Long An Có bàn tay của thầy trò ĐH2 góp sức Đó là Mô hình “ Nhất thể hóa” một thời Nay vẫn còn phát huy hiệu quả Trường Thủy Lợi anh hùng Cũng có công Trung tâm ĐH2 – Phần nhỏ Đơn vị 3 lần được tặng thưởng Huân chương Dù mai sau có vạn lần hơn thế Cũng đừng quên trong mưa lạnh có nhau Và đã có những người ngã xuống! Tự hào thay trường Thủy Lợi hôm nay Tự hào thay Trung tâm ĐH2 Có 30 năm trong đó Sau chặng đường này bước tiếp xa hơn Ta chúc cho mọi người có hành trang mới Lao động hăng say với công nghệ tuyệt vời Chúc cho sự trường tồn của đất nước Có Thủy lợi đem lại màu xanh vĩnh hằng Làm nên những mùa vàng no ấm Ta xin cảm ơn tất cả Từ bà Mế vùng sâu Đến người dân thị thành Đã cưu mang giúp ta Vượt qua một thời gian khó Cảm ơn những người thầy, người bạn Dưới mái trường Thủy Lợi mến yêu!
Phan Rang, tháng 6 – 2006
|
|
Th¬
Hơn bốn mươi năm qua, mái trường cũ tại xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, Bắc Giang vẫn là nỗi nhớ cháy bỏng của thế hệ Thày và trò Trường Đại học Thuỷ lợi những năm sơ tán thời chống Mỹ. Nhân chuyến về thăm lại mái trường xưa yêu dấu, nhà báo Hà Quang- Tổng biên tập Tạp chí Tài nguyên nước, nguyên là cựu SV của trường đã không dấu nổi xúc động. Ông đã viết lên những vần thơ thật cảm động, đọc lên nghe cứ rưng rưng:”Nghĩa Phương – quê mẹ ta ơi/ Cho con xin được gửi lời yêu thương/ Ngày về bao nỗi vấn vương/ Một đời vời vợi Nghĩa Phương ân tình…”. Nhân kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống Trường Đại học Thuỷ lợi, tác giả Hà Quang gửi tặng bà con các dân tộc Nghĩa Phương và Thày, trò nhà trường bài thơ: “ Ngày về” của mình. WRU xin trân trọng giới thiệu.
Chúng mình đã hẹn cùng nhau
Về thăm trường cũ, bấy lâu mong chờ
Mái trường sơ tán mộng mơ
Nghĩa Phương quê mẹ, ngày về xốn xang.
*
Chân đi, lòng những bâng khuâng
Gặp nhau nước mắt rưng rưng nghĩa tình,
Gặp nhau tay bắt mặt mừng
Xôn xao kỷ niệm, núi rừng chở che…
*
Nhà tranh mái lá đơn sơ
Lòng dân rộng mở, thày trò bên nhau
Đêm đêm sáng ngọn đèn dầu
Mở trang sách mới thấm sâu lời thầy.
*
Ba Gò, Mã Tẩy… còn đây
Thôn Dùng, suối Mỡ, núi Mây rạng ngời,
Bao la lòng mẹ tháng ngày
Bát canh khuya, củ sắn lùi sẻ chia.
*
Cho con thắp sáng ước mơ
Cùng nhau vươn tới bến bờ vinh quang…
Bao năm vẫn nhớ Nghĩa Phương,
Vành nôi êm ấm, mến thương trọn đời.
*
Nghĩa Phương – quê mẹ ta ơi!
Cho con xin được gửi lời yêu thương
Ngày về bao nỗi vấn vương
Một đời vời vợi Nghĩa Phương ân tình.
Nghĩa Phương-Lục Nam, tháng 10 – 2009
Hà Quang
( Cựu SV Đại học Thuỷ lợi )
|
|
Tác giả Nguyên Hùng
Trước sông Tiền mùa nước đỏ
Tôi đã qua nhiều suối nhiều sông Tôi yêu con sông nước chảy hiền hòa Nhưng lòng tôi thầm tiếc đến sững sờ Chiều tạnh giông. Trước sóng đỏ sông Tiền Như thấy núi cao sỏi đá cũng tươi màu Tôi cũng nghe đâu đây từ suối nhỏ Tà Sa Bỗng bên tôi những đợt sóng dội vào Tiền Giang, 1984.
|
|
Đêm không ngủ trên công trường thủy lợi
Đêm không ngủ trên công trường thủy lợi
Tiếng máy khoan khảo sát lòng hồ
Cả vùng đồi hoang vu thức dậy
Nghe mặn mòi từng giọt mồ hôi
Ta đã đi qua miền khô khát
Đất bazan tung bụi đỏ mịt mờ
Cây héo úa, mắt lá nhìn ngơ ngác
Bát nước cuối cùng bầy trẻ chia nhau.
Tiễn ta đi, mẹ đứng ngóng thật lâu
Lưng mẹ như lưng đồi nắng đốt
Và em ta, tóc cháy vàng khô khét
Đêm ngủ mơ thấy nước mát tràn trề.
Những đêm dài ta thức có hề chi
Gắng thêm nữa cho ngày vui mau tới
Ta ngăn sông dẫn nước về đồng nội
Bát cơm thơm hể hả mẹ ta chờ.
Cùng bạn bè ta thức giữa trời khuya
Từng mũi khoan sâu thăm dò lòng đất
Lau giọt mồ hôi thầm ngân nga câu hát
Mảnh trăng bên trời dường như chẳng cô đơn.
Trương Minh Phố
CT HĐQT kiêm GĐ Công ty Cổ phần tư vấn khảo sát và Xây dựng số 2 (Tổng Công ty Tư vấn khảo sát Thủy lợi VN – CTCP)
(Cựu sinh viên Khóa 12 Khoa Tổng hợp Tại chức – Đại học Thủy lợi)
|
|
Xin giới thiệu cùng độc giả tác phẩm thơ “Em đi làm Thủy điện” của tác giả Dinh Dinh, hãy đọc và chia sẻ cảm xúc cùng tác giả……” Trần Thị Hằng sau khi tốt nghiệp Đại học Thuỷ lợi HN vào công tác tại Công ty Khảo sát và Thiết kế Điện Quảng Nam – Đà Nẵng, Mới ra trường nhưng Hằng đã tỏ ra là một cô gái mạnh mẽ, hoạt bát và đam mê với nghề nghiệp…Khi phong trào làm thuỷ điện nhỏ tại Quảng Nam – Đà Nẵng đang phát triển mạnh, Hằng đã phát huy tốt chuyên môn được đồng nghiệp tin yêu, lãnh đạo tin cậy, nhưng sau một thời gian Quảng Nam – Đà Nẵng có điện lưới cao thế về, thuỷ điện nhỏ bị ngừng… và Công ty cũng giải thể. Hằng chuyển công tác. Khi độ chín của nghề nghiệp đang được khẳng định thì Hằng bị một căn bệnh hiểm nghèo, mặc dầu cái chết đã đến gần nhưng Hằng không bao giờ cho mình bị bệnh mà vẫn lạc quan yêu đời động viên chồng, con và bạn bè đồng nghiệp vui vẻ, học tập và công tác tốt…Sự ra đi của Hằng để lại bao nhiêu tình thương không những cho gia đình mà cho tất cả bạn bè, đồng nghiệp và cả cho ai đã một lần làm việc với Hằng…”
Em đi làm thuỷ điện
Tưởng nhớ Trần Thị Hằng K21C Sương lãng vãng đỉnh đồi Hoa sim chiều tím ngắt
Dòng suối trong xanh vắt Giọt nắng hồng bờ môi Em lang thang trên đồi Cheo leo trên sườn núi Tìm điểm dừng dòng suối Dồn nước về tua bin Như con nai trong rừng Chuyền đồi không mệt mõi
Em đi với thời gian Để có nguồn điện mới. Em – con gái Thuỷ lợi Yêu đời cùng yêu nghề Với phong cách mạnh mẽ Thuỷ điện – nguồn đam mê. Em đi xa chưa về
Dõi tìm theo con suối… Dõi tìm theo ngọn núi… Suối vọng lời – Mẹ ru.
Một nén hương cho em Dinh Dinh
|
|
Dương Văn Viện – Cựu sinh viên lớp 15N, TS, Giảng viên cơ sở 2, Trường Đại học Thuỷ lợi
DÁNG MẸ
Khi chợt gặp cánh đồng khô cạn Lòng xót thương vô hạn Mẹ đã già Lưng còng xuống chắt từng gàu nước đục Vào mảnh ruộng nhà khi con cái đi xa Những ngày này vào vụ cấy trong ta Rét buốt lắm phải không thưa Mẹ? Gánh mạ nặng đường lại trơn đến thế Mẹ vẫn thường ngày mấy chuyến đi về. Bao lo toan, vất vả, bộn bề Mẹ chịu đựng suốt quanh năm ngày tháng. Với nỗi mong cả một đời đeo đẳng Được nhìn con khôn lớn nên người. Biết bao nhiêu bà mẹ ở trên đời Lòng nhân hậu suốt một đời tần tảo Chắt bóp nuôi con miếng cơm, tấm áo Dành cho con tất cả sống quên mình. Thế mà con có những lúc vô tình Quên cực nhọc Mẹ đang gánh chịu.
Nhưng, dáng lưng còng của bà Mẹ già lặn lội Chiều nay trên cánh đồng Làm cho con lòng dạ bâng khuâng Và ước mong sao làm con nước về đồng… |
|
Văn Vũ (Vũ Văn Thặng – Cựu sinh viên lớp 13C, PGS.TS, Viện KH Thuỷ lợi)
NỖI NIỀM TRỞ VỀ TRƯỜNG Mỗi khi quay lại mái trường xưa Tuổi tác học trò rất mộng mơ
Ẩn hiện trong ta bao nỗi nhớ Trở về ký ức đẹp như mơ Mấy chục năm qua đã xa trường Chuyện đời bao nỗi nhớ vấn vương Tuổi sinh viên ấy đâu còn nữa Khắc khoải trong ta cả dặm trường Vẫn mái trường xưa ta với ta Mà sao tâm trí cứ nhập nhoà
Ai người hiện hữu ai khuất bóng Để lại lòng ta chẳng thể nhoà Trường lớp đây rồi cây với hoa Vẫn xanh màu lá, đỏ màu nhà Sinh viên ngày ấy đầu điểm bạc Gặp gỡ chào nhau như pháo hoa Tề tựu về trường bạn với ta Tuổi cao tâm trí vẫn chưa già Bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa ấy Sống dậy trong ta như trẻ ra Nay trở về trường gặp thầy cô Bao nhiêu mái tóc đã bạc phơ Thời gian thấm thoắt sao nhanh quá
Ta ước trở về tuổi mộng mơ Vất vả cả đời nghề sông nước Bao nhiêu ghềnh thác chẳng hề chi Thiên tai vần vũ không lùi bước Ý chí kiên cường mãi khắc ghi.
Hà Nội, tháng 8 / 2004
|
| Ngô Đình Tuấn –
LỚP HỌC NƠI SƠ TÁN
Thênh thênh giữa núi với cùng đèo
Tiếng lòng hay tiếng của chim kêu
Xạc xào lá rụng rơi trên áo
Hoà tiếng ai cười, tiếng suối reo
Lớp học nơi đây giữa núi rừng
Bốn bề phên đất kín như bưng
Có cành sim tím vương trên cửa
Có mảnh trăng soi sáng dốc mòn.
Có những người em mới xa nhà
Đêm nằm thao thức nhớ mẹ cha
Có chim “Khắc phục” cầm canh đó
Có tiếng hươu nai át giọng gà.
Tôi vẫn bâng khuâng nhớ độ nào
Chặt tre vác nứa khinh gian lao
Vắt sên khôn cản lòng trai trẻ
Hồn mộng bay về trong chiêm bao.
Nhớ những hôm nào lùng giặc Mỹ
Bám chiếc dù rơi vượt núi ngàn
Nhớ những khi đắp đường xây đập
Sắn nướng, khoai lùi, chuyện nở ran.
Nhớ rét năm nay, rét lạ thường
Khói um trùm lớp một làn sương
Cay sè đôi mắt run tay viết
Vẫn dõi theo thầy đến để thương.
Ôi nhớ làm sao tối hết dầu
Xào bài bên bếp nhắc cùng nhau
Lửa cười lốp bốp bay cao mãi
Rắc cả hoa than xuống mái đầu
Có những đêm thầy trò chung ngủ
Lòng lại bên lòng thêm ấm êm
Sắn lùi một củ chia nhau nửa
Khi hiểu nhau rồi chẳng cử kiêng
Ừ nhỉ hai năm đi chống Mỹ
Có mất gì đâu lãi quá nhiều
Biết gía miếng cơm, biết từng củ sắn
Nhận cả lòng ai biết ghét yêu.
Đông đã đi rồi. Xuân đến thôi!
Năm nay tết đến lại ấm trời
Cho dù giặc Mỹ leo thang chót
Sự nghiệp anh hùng đỏ thắm tươi.
Bắc Máng – Xuân 1967 |