Danh mục: Tin tức Uncategory

  • Ủng hộ Robocon Đại học Thủy Lợi

    Ủng hộ Robocon Đại học Thủy Lợi

     







    THÀNH ĐOÀN  T.P HÀ NỘI


    BCH TRƯỜNG ĐH THUỶ LỢI


    ——@——


    Số 126 /CV-ĐTN


    (V/v : Ủng hộ đội tuyển robotcom sinh viên ĐH Thuỷ lợi)


     


    Hà Nội, ngày 6 tháng 02 năm 2006


      Năm 2006, Việt Nam đăng cai tổ chức cuộc thi Robotcon châu Á lần thứ 6 tại Đà Nẵng –  sân chơi dành cho sinh viên của các trường Đại học, Cao đẳng trong toàn Châu lục. Trong nhiều năm qua, tại cuộc thi này sinh viên Việt Nam đã gặt hái được những thành tích đáng khâm phục trong lĩnh vực khoa học tự động hoá.


      Được sự đồng ý của Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường, năm 2006 sẽ là  lần đầu tiên trường Đại học Thuỷ lợi sẽ thành lập 02 đội tuyển Robotcom dự thi vòng loại cùng với các đội của các Trường Đại học – Cao đẳng trong nước.


      Đây là dịp tốt để sinh viên Thuỷ lợi có thể đóng góp trí tuệ vào một sân chơi lớn, mang tầm khu vực và cũng là môi trường để học hỏi, tích luỹ thêm kiến thức khoa học hiện đại, góp phần chắp cánh những ước mơ của sinh viên Việt Nam nói chung và sinh viên Thuỷ lợi nói riêng trên con đường hội nhập Quốc tế.


      Trong những ngày đầu thành lập, với điều kiện khoa học kỹ thuật và kinh tế còn nhiều khó khăn, Đoàn trường kính mong nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của các đơn vị, cá nhân về kỹ thuật và vật chất để cán bộ, giáo viên và sinh viên Nhà trường đạt được thành tích tốt trong cuộc thi này.


    Mọi sự chia sẻ giúp đỡ xin liên hệ:


    Đ/c Hoàng Xuân Bách – Phó Bí thư Đoàn trường Đại học Thuỷ lợi


    Email: [email protected] hoặc [email protected]; đt:04.8532745


    (Hoặc: Trường Đại học Thuỷ lợi, Tài khoản số: 102010000068176 Ngân hàng công thương Đống Đa – Hà Nội)


     







    Nơi gửi:


    – Như kính gửi.


    – Lưu VP.


    T/M BTV Đoàn trường


    Bí thư



    (Đã ký)
    ThS. Dương Văn Bá
















    Danh sách ủng hộ Robocon ĐHTL
    1 PGS.TS Phạm Ngọc Quý 300.000 VNĐ


     

  • Bài phát biểu tại lễ trao quyết định hiệu trưởng

    Bài phát biểu tại lễ trao quyết định hiệu trưởng

    LỜI PHÁT BIỂU TẠI LỄ TRAO QUYẾT ĐỊNH HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    Ngày 24 tháng 2 năm  2005


    GS.TS. Đào Xuân Học


     


    Kính thưa GS. TSKH Phạm Hồng Giang Thứ trưởng Bộ NN&PTNT


    Kính thưa đ/c Nguyễn Đình Tân, thành uỷ viên, trưởng ban và các đồng chí chuyên viên Ban đại học của TU Hà Nội


    Kính thưa các đồng chí lãnh đạo và chuyên viên vụ Đại học Bộ Giáo dục và Đào tạo


    Kính thưa các đồng chí lãnh đạo và chuyên viên vụ Tổ chức cán bộ Bộ NN và PTNT


    Kính thưa GS.TS. Lê Kim Truyền- Hiệu trưởng Trường đại học Thuỷ lợi


    Kính thưa các đồng chí trong Đảng uỷ và Ban giám hiệu nhà trường


    Kính thưa các đồng chí nguyên Bí thư Đảng uỷ và BGH nhà trường


    Kính thưa các Giáo sư, Phó GS,  các Cô giáo, Thày giáo và cán bộ công nhân viên nhà trường


     


                Trước tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Bộ NN & PTNT, Thành Uỷ Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đảng uỷ, Ban giám hiệu và toàn thể các Cô giáo, Thày giáo và cán bộ công nhân viên Nhà trường đã giành cho tôi một vinh dự lớn  là đảm nhận công việc của một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của trường ĐHTL.


    Vinh dự này trước hết thuộc về các Cô giáo, Thày giáo, những người mà tôi hết sức yêu mến và kính trọng, đã từng dạy bảo, dìu dắt và giúp đỡ tôi trong nhiều năm liền để tôi có được bước trưởng thành như ngày hôm nay. Vinh dự này cũng thuộc về các bạn đồng nghiệp, lãnh đạo các phòng, khoa, ban, các bộ môn, các trung tâm và đặc biệt là cán bộ công nhân viên ở Cơ sở 2, đã hợp tác chặt chẽ với tôi trong những năm gần đây để cùng thực hiện các nhiệm vụ được giao vì sự nghiệp xây dựng và phát triển của nhà trường chúng ta.



               
    Tôi có một may mắn là được giao trọng trách trong điều kiện có nhiều thuận lợi hơn các thầy tiền nhiệm, đó là Nhà trường chúng ta vừa qua hai đợt tổng kết nhân dịp 40 năm và 45 năm  xây dựng và trưởng thành, đồng thời hoạch định chiến lược phát triển đến năm  2020 làm cơ sở cho việc lập các kế hoạch trung hạn và dài hạn, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ phục vụ công cuộc CNH, HĐH đất nước.



               
    Trong những năm qua, đặc biệt là những năm của thời kỳ đổi mới, Nhà trường không ngừng phát triển cả về bề rộng và chiều sâu, trên cơ sở thực hiện thành công cải cách giáo dục về cả 3 mặt: đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất. Nhà trường đã xây dựng được một đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý có trình độ cao, phẩm chất chính trị vững vàng,  nhiều kinh nghiệm, tâm huyết với ngành, với nghề và với trường.



               
    Cơ sở vật chất của Nhà trường ngày càng khang trang, to đẹp, đang từng bước được bổ sung, hoàn thiện và hiện đại hoá. Nhiều bộ giáo trình, giáo án đã được biên soạn công phu, phục vụ giảng dạy, học tập bằng các công nghệ hiện đại. Nhà trường cũng đã xây dựng được nền nếp trong giảng dạy, quản lý và học tập.



               
    Dù rất khiêm tốn chúng ta cũng có thể tự hào rằng: trong suốt 45 năm qua, nhiều thế hệ cán bộ, giáo viên, công nhân viên, học sinh nhà trường đã vượt qua nhiều khó khăn  gian khổ kể cả những năm tháng chiến tranh ác liệt với nhiều hy sinh mất mát, đã vươn lên hoàn thành xuất sắc sứ mệnh cao cả của mình, là đào tạo cho đất nước nhiều thế hệ kỹ sư, thạc sỹ, tiến sỹ, với tư duy sáng tạo, mang trong mình tấm lòng yêu nước nồng nàn sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần đến, họ đã đến nhiều vùng xa xôi hẻo lánh, xây dựng nên những công trình thế kỷ, họ đã chiến đấu dũng cảm trên nhiều chiến trường, nhiều người đã hy sinh cả tuổi thanh xuân cho đất nước. Ngày nay trong lao   động hoà bình họ vẫn được xã hội đón nhận và chính họ đang nỗ lực làm tròn bổn phận của mình phụng sự đất nước, phục vụ Nhân dân.



               
    Tuy nhiên, do yêu cầu phát triển, nhất là quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế trong một nền kinh tế mang tính toàn cầu, đòi hỏi chúng ta không thể thoả mãn với những gì đã làm được, mà phải phấn đấu vươn lên ngang tầm với đòi hỏi của sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và khoa học, công nghệ của đất nước.



    Nhân dịp này tôi xin phép được bày tỏ một vài quan điểm để chúng ta cùng suy nghĩ và thống nhất trong hành động nhằm tạo ra những bước phát triển mới để Nhà trường chúng ta luôn xứng đáng với truyền thống của mình.



    Trước hết là vấn đề giáo dục đào tạo:
    Giáo dục đào tạo đang là vấn đề được toàn xã hội quan tâm. Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục đào tạo nguồn nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm, vì con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển kinh tế xã hội.



    Hội nhập và toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu, đem lại cho chúng ta những cơ hội và thách thức, mà thách thức lớn nhất là không để tụt hậu với khoảng cách ngày càng xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới.



        Vì vậy, trước hết chúng ta phải thống nhất quan niệm giáo dục đại học chủ yếu là đào tạo người lao động có trình độ cao, hay nói đúng hơn là trang bị cho họ sức lao động đủ sức cạnh tranh trong thị trường hàng hóa-sức lao động. Do vậy trong đào tạo, trường ta phải quan tâm nhiều hơn nữa những yêu cầu của người kỹ sư sau khi ra trường như: trình độ tác nghiệp, các kỹ năng công cụ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng cá nhân (trước đây chúng ta còn thiên nhiều về lý thuyết, nhẹ về thực hành và bỏ qua các kỹ năng cá nhân)…


    Phải tiếp tục giữ vững và có những biện pháp cụ thể để thực hiện có hiệu quả phuơng châm: lấy người học làm trung tâm, lấy chất lượng đào tạo làm cốt lõi, lấy hiệu quả phục vụ kinh tế-xã hội làm mục tiêu, lấy xu thế của thời đại để định hướng tiếp cận.



    Về công tác phát triển thuỷ lợi:
    chúng ta phải tiếp tục kiên định với quan điểm mới phù hợp với xu thế của thời đại là: Phát triển bền vững và quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Nước không chỉ là một dạng tài nguyên mà còn là Hàng hoá Kinh tế-xã hội đặc biệt.



    Theo tôi trong giai đoạn trước mắt khi chúng ta chưa mở rộng thêm ngành nghề ở các lĩnh vực khác, thì quan điểm trên là những yêu cầu có tính chất cơ bản nhất mà nhà trường chúng ta phải phấn đấu thực hiện trong những năm tới. Mọi hoạt động từ xây dựng ngành nghề, chương trình đào tạo, giáo trình, giáo án, phương pháp giảng dạy, nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất đều xoay quanh phục vụ những yêu cầu nói trên.



    Để làm tròn nhiệm vụ đó, Nhà trường chúng ta cần thực hiện một số giải pháp mang tính chiến lược sau đây:



    1.      
    Xây dựng đào tạo đội ngũ giảng viên đáp ứng được yêu cầu của một trường đại học đầu ngành về lĩnh vực tài nguyên nước, ngang tầm với các nước trong khu vực Đông Nam Á về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, khả năng tổng hợp, phát triển trí tuệ và đặc biệt là một đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong các bộ môn, chuyên ngành của nhà trường.  



    2.      
    Tiếp tục nghiên cứu để mở rộng và cải tiến một số ngành nghề đào tạo phù hợp với yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta, khả năng đào tạo của Nhà trường và hoà nhập với các nước trong khu vực.



    3.      
    Cần tiếp tục đổi mới, cải tiến nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng tiếp cận hơn nữa với triết lý giáo dục đối với các nước đang phát triển ở thế kỷ 21 do UNESCO đề xướng. Đồng thời mục tiêu đào tạo cũng phải đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế-xã hội của nước ta, một nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là, sau khi ra trường người học có khả năng tự cập nhật kiến thức mới, có khả năng tự chuyển đổi nghề nghiệp, tự tìm kiếm việc làm trong thị trường sức lao động, tự tạo ra việc làm mới cho mình và cho người khác.



            Đó là những vấn đề chiến lược của nhà trường, nó sẽ quyết định hướng đi và chất lượng đào tạo của nhà trường, vì vậy cần có bộ phận nghiên cứu về ngành nghề, chương trình đào tạo của một số nước điển hình trên thế giới, từ đó đánh giá trình độ đào tạo của  trường ta  ở vị trí nào, làm cho đông đảo đội ngũ giảng viên hiểu được chúng ta đang ở đâu và cùng nhau đề xuất đổi mới, cải tiến chương trình, nội dung đào tạo thuộc chuyên môn của mình. Về vấn đề này tôi xin phép nêu đánh giá của UNESCO về đào tạo đại học ở nước ta để chúng ta tham khảo:  Các trường ĐH của Việt nam được xếp sau Thái Lan 50 bậc, còn về khoa học công nghệ xếp sau 30 bậc.              



    – Phải chăng chúng ta nên rèn luyện cho sinh viên một nền nếp tự học, tự suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo, phải chăng nên giảm số giờ lên lớp nghe giảng, mà để cho sinh viên tăng quỹ thời gian tự học, tự đọc sách, tự nghiên cứu, làm bài tập và tăng thời gian thực hành.          



    – Chúng ta cần tạo ra một sự đồng thuận cao để xây dựng một hệ thống đảm bảo chất lượng và tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế hiện nay. Trên cơ sở đó đổi mới việc học lại và thi lại như hiện nay.



    – Ngoài đào tạo đại học, chúng ta cần quan tâm hơn nữa đến đào tạo sau đại học. Tạo điều kiện để nhiều cán bộ giáo viên được tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học để không bị mai một kiến thức và nắm bắt được thực tiễn đất nước để làm tốt hơn công tác chuyên môn của họ. Kết hợp đào tạo trên đại học với nghiên cứu khoa học để giải quyết những vấn đề thực tiễn của kinh tế-xã hội nước ta liên quan đến tài nguyên nước. Phấn đấu để đào tạo cao học ở một số chuyên ngành hẹp theo hướng chuyên sâu.



    Về khoa học công nghệ:
    Là một trường đầu ngành, đồng thời cũng là một trung tâm khoa học – công nghệ trong lĩnh vực tài nguyên nước, vì vậy nghiên cứu khoa học phải được coi là nhiệm vụ trọng tâm. Vì vậy cần phải tổ chức các viện hoặc các trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong nhà trường. Các bộ phận khoa học công nghệ của trường cần tăng cường hợp tác với các cơ quan khoa học công nghệ của ngành thuỷ lợi, nông nghiệp, lâm nghiệp và các ngành có liên quan trong nước cũng như các nước trong khu vực và trên thế giới. Tăng cường nghiên cứu áp dụng công nghệ mới, nhất là ứng dụng các phần mềm hỗ trợ trong nghiên cứu và quản lý.



    Về hợp tác Quốc tế:
      Chúng ta tiếp tục tìm kiếm các dự án tài trợ của nước ngoài, phát huy hiệu quả của 2 dự án hiện có để nâng cao năng lực đào tạo của nhà trường, đồng thời thông qua hợp tác để trao đổi thông tin, kinh nghiệm đào tạo, nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ giảng viên. Đó là con đường có ý nghĩa rất quan trọng đến việc rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. 



    Về xây dựng cơ sở vật chất:
    Những năm đầu khi mới thành lập trường chúng ta mới chỉ tuyển  200-300 sinh viên chính quy và tại chức mỗi năm, đến nay tuyển sinh tại trường đã là 2000 sinh viên chính quy và tại chức, trong khi phòng học, ký túc xá sinh viên,  nơi làm việc của giáo viên và các phòng, khoa, ban có thể nói hầu như chưa được xây dựng thêm. Vì vậy cơ sở vật chất hiện nay không đáp ứng được yêu cầu cho công tác đào tạo hiện tại. Đây là một nội dung cần được đẩy mạnh trong thời gian tới. 



        Cần có sự đánh giá thực chất về hiệu quả sử dụng các trang thiết bị đã mua sắm trong thời gian qua, ngoài ra trong nguồn vốn tự có chúng ta cũng cần hạn chế mua sắm những trang thiết bị chưa thiết thực cho công tác giảng dạy và nghiên cứu, hạn chế sửa chữa nhỏ mà cần tập trung tiền để xây dựng một số phòng học lớn, nâng cấp thư viện và làm đến đâu đều phải đảm bảo tính vững chắc và hiện đại đến đó.



    Về tổ chức quản lý:
    Rà soát và hoàn chỉnh chức năng nhiệm vụ của các đơn vị. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, đổi mới công tác quản lý, nâng cao trách nhiệm của từng cá nhân là chuyên viên cũng như cán bộ quản lý, phải lấy hiệu quả công việc là chính để đánh giá cán bộ. Giao quyền chủ động nhiều hơn cho cho các cơ sở, các phòng, khoa, ban. 



    Đối với sinh viên:
    Cần coi sinh viên vừa là đối tượng vừa là mục tiêu hoạt động của nhà trường, vì vậy cần thường xuyên lắng nghe và nghiên cứu những ý kiến phản hồi từ phía sinh viên. Nêu cao vai trò của Đoàn thanh niên và hội sinh viên trong việc xây dựng một nền nếp và không khí thi đua học tập và rèn luyện theo gương Bác Hồ vĩ đại.


    Đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện sinh viên không chỉ  có kiến thức khoa học, công nghệ, mà còn phải trở thành những cán bộ đạo đức tốt, có phẩm chất trong sáng, có nếp sống lành mạnh, sống có hoài bão và lý tưởng cao đẹp. Cần làm cho sinh viên hiểu rằng học để có kiến thức, học để kiếm  một nghề nghiệp, để ngày mai lập thân, lập nghiêp, chứ không phải học để thi.


     



    Kính thưa các vị khách quý


    Kính thưa các Cô giáo, Thầy giáo và cán bộ công nhân viên trong Nhà trường


            Có lẽ tôi nói như thế cũng đã hơi dài, nên xin ngừng lời ở đây. ở trường cũng như ở trong hội trường này vẫn còn nhiều Thầy, cô giáo của tôi, những người đã từng dạy tôi kiến thức để làm người, làm thầy giáo và cách đối nhân xử thế với mọi người, có thể tôi chưa thực hiện được hết những điều mà các thầy cô đã dạy bảo, cũng như trong quan hệ với mọi người tôi cũng còn nhiều điều khiếm khuyết, tôi mong rằng các Thầy, Cô vẫn coi tôi như là học trò ngày xưa, các bạn đồng nghiệp hãy coi tôi như bạn và các bạn trẻ hãy coi tôi như người anh, hãy theo dõi công việc của tôi, giúp đỡ góp ý cho tôi, để tôi có thể hoàn thành được trọng trách của mình. Tại cuộc gặp mặt này, tôi không thể nào trình bày hết được những mong muốn và của mình. Vì vậy, với một số suy nghĩ chưa thật sự trọn vẹn nêu trên chỉ là những đề xuất để các Thầy Cô, các bạn đồng nghiệp và đồng chí suy nghĩ, bổ sung và cùng hợp tác, cộng đồng trách nhiệm đưa trường ta vững bước tiến lên làm tròn nhiệm vụ trong giai đoạn mới, xứngđáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Xứng đáng là nhà trường kiểu mẫu, là đơn vị Anh hùng trong thời kỳ đổi mới. 



        Tôi cũng đề nghị Giáo sư Nguyễn Xuân Bảo và GS Lê Kim Truyền, người đã dẫn dắt trường ta trong nhiều năm qua để tâm theo dõi và giúp đỡ Ban giám hiệu mới làm tròn nhiệm vụ được giao. Chúc hai Thầy có những năm tháng mạnh khoẻ, hạnh phúc và đầy niềm vui.



        Tôi xin tiếp thu và cảm ơn các ý kiến chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo thay mặt cho Bộ NN & PTNT, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Thành uỷ Hà nội.



        Kính chúc các vị khách quý, các Giáo sư, phó giáo sư, các Cô giáo, Thầy giáo, cán bộ công nhân viên trong toàn trường một năm  mới tràn đầy sức khoẻ, gia đình hạnh phúc và thành đạt.


    Xin trân trọng cảm ơn.

  • PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP VÀ LUYỆN THI TIẾNG ANH CÓ HIỆU QUẢ

    PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP VÀ LUYỆN THI TIẾNG ANH CÓ HIỆU QUẢ

    Sau thành công của những chương trình có tính ứng dụng lớn cho sinh viên như “ Tuần lễ Autocard với sinh viên Thủy Lợi”, “ Tổ chức ôn thi và bổ sung kiến thức cho sinh viên cuối kỳ thi”, thêm một lần nữa Câu lạc bộ Kỹ sư Thủy Lợi tương lai ghi dấu ấn tốt đẹp trong lòng  các bạn sinh viên khi tổ chức thành công  Hội thảo mang tên “ Phương pháp học tập và luyện thi Tiếng Anh có hiệu quả”.


    Ngày nay, khi tham gia hội nhập vào thế giới thì tất cả chúng ta đều có thể nhận thấy được tầm quan trọng của Tiếng Anh với cuộc sống, học tập và công việc. Đó là chiếc chìa khóa hữu dụng giúp cho mỗi bạn có thể mở cánh cửa thành công của mình dễ dàng hơn. Tuy nhiên do Tiếng Anh không phải là thứ ngôn ngữ truyền thống của dân tộc nên các bạn sẽ gặp không ít khó khăn khi học và sử dụng Tiếng Anh. Những băn khoăn thắc mắc của các bạn đã phần nào được làm sáng tỏ khi tham gia Hội thảo “ Phương pháp học tập và luyện thi Tiếng Anh có hiệu quả”.


    Buổi hội thảo đã đón nhận sự quan tâm của Ban giá hiệu nhà trường, Đoàn thanh niên, và các đơn vị tài trợ có uy tín như:Hội đồng Anh, Câu lạc bộ Tiếng Anh Seamap Education, công ty cổ phần truyền thông và giải trí Cầu Vồng Regedu, đặc biệt đó là sự tham gia, hưởng ứng nhiệt tình của rất nhiều sinh viên trong và ngoài trường chính bởi cách tổ chức độc đáo mới lạ hấp dẫn của chương trình.


     







     PGS.TS Nguyễn Trọng Tư phát biểu tại Hội thảo


            .









    Cả hội trường đông kín  sinh viên, và các bạn không quên ghi lại những kinh nghiệm học Tiếng Anh


    .


    Đến với hội thảo, các bạn sinh viên đã được lắng nghe những chia sẻ chân thành và đầy tâm huyết của các giảng viên Tiếng Anh chất lượng uy tín: cô Phạm Thị Lê Na chủ tịch clb tiếng anh Seamap club và đồng thời cũng là giám đốc công ty Seamap Education và cô Lâm Thị Lan Hương- trưởng bộ môn Tiếng Anh trường Đại học Thủy Lợi và cũng là Giám đốc Trung tâm Tiếng Anh của Đại học Thủy Lợi.Rất nhiều câu hỏi hay đã được giải đáp, rất nhiều kinh nghiêm tuyệt vời về học Tiếng Anh đã được gợi mở. Các bạn sinh viên đã không ngần ngại đưa ra những khó khăn của chính mình để mong nhận được sự gợi mở, lời khuyên của các cô giáo, không chỉ sinh viên Thủy Lợi mà các bạn sinh viên của các trường Ngoại Thương, Đại học Hà Nội, Đại học Quốc Gia đều rất hào hứng và sôi nổi khi đưa ra ý kiến quan điểm của riêng mình. Các bạn cũng đã chứng minh được khả năng Tiếng Anh của mình khi tham gia phần thi Tiếng Anh hết sức vui nhộn giành cho khán giả.


     


    Đến với Hội thảo các bạn không chỉ được nghe những kinh nghiệm quý báu cho mình về học Tiếng Anh mà còn được đắm mình trong những giai điệu âm nhạc Tiếng Anh ngọt ngào trữ tình sâu lắng, những điệu nhảy Hiphop sôi động ấm áp.


    Khép lại chương trình là phần bốc thăm trúng thưởng với 10 phần quà bao gồm : 5 học bổng toàn phần trị giá 7 triệu đồng và 5 học bổng bán phần trị giá 3,5 triệu đồng luyện thi IELTS do chính cô Lê Na chủ tịch câu lạc bộ Tiếng Anh Seamap giảng dạy.


    Rạng rỡ niềm vui khi nhận được những phần quà bốc thăm may mắn từ CLB Tiếng Anh Seamap.


    Buổi hội thảo đã khép lại nhưng dư âm của nó thì hẳn sẽ còn mãi với những ai được tham gia. Những chia sẻ thật hữu ích và chân thành, thiết thực và bổ ích. Ba tiếng đồng hồ chưa thể nói hết những điều cần có để học tốt được Tiếng Anh, xong tôi tin các bạn đã phần nào có những câu trả lời cho bản thân mình để học Tiếng Anh không còn là áp lực của  các bạn sinh viên.







    Niềm vui của toàn câu lạc bộ Kỹ sư Thủy Lợi tương lai sau thành công của chương trình


    Niềm vui của bạn là niềm vui của chúng tôi


    Thành công của bạn là thành công của chúng tôi.



     THÙY KHÁNH – 51C4- CLB PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG.

  • Quyết định về việc xử lý học vụ kỳ II năm học 2010-2011 cho sinh viên K51, 52 hệ Cao đẳng chính quy






    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI

    Số: 1174/ QĐ-ĐHTL


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Hà Nội, ngày 06  tháng 10  năm 2011




    QUYẾT ĐỊNH
    Về việc xử lý học vụ kỳ II năm học 2010- 2011


    cho sinh viên K51, K52 hệ Cao đẳng chính quy.


     


    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


     


                Căn cứ Quyết định số 43/2007/QĐ – BGDĐT ngày 15/08/2007 về việc ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;


                Căn cứ Quyết định số 840/QĐ – ĐHTL  ngày 01/08/2011 về việc ban hành hướng dẫn thực hiện Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo tín chỉ của Hiệu trưởng trường  Đại học Thuỷ lợi;


                Xét đề nghị của Trưởng phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên, Trưởng các Khoa,


    QUYẾT ĐỊNH:


                Điều 1. 1/ Cảnh báo học tập mức 1 đối với các sinh viên K51, K52 hệ cao đẳng chính quy có kết quả học tập yếu trong học kỳ II năm học 2010 – 2011 (Danh sách 1 kèm theo).


                            2/ Cảnh báo học tập mức 2 đối với các sinh viên K51, K52 hệ cao đẳng chính quy có kết quả học tập yếu trong 2 học kỳ liên tiếp (học kỳ II năm học 2010 – 2011 và kỳ trước liền kề) (Danh sách 2 kèm theo).


                            3/ Cảnh báo học tập mức 3 đối với các sinh viên K51 hệ cao đẳng chính quy có kết quả học tập yếu trong 3 học kỳ liên tiếp (học kỳ II năm học 2010 – 2011 và các kỳ trước liền kề) (Danh sách 3 kèm theo).


                            4/ Buộc thôi học từ đầu học kỳ II năm học 2010 – 2011 đối với các sinh viên K51, K52 hệ cao đẳng chính quy do có kết quả học tập kém hoặc không đăng ký học ở học kỳ II năm học 2010 -2011 hoặc đối với sinh viên K51 hệ cao đẳng chính quy bị cảnh báo mức 3 lần 2 và có số tín chỉ tích lũy dưới 28 tín chỉ, có kết quả học tập yếu 3 kỳ liên tiếp (học kỳ II năm học 2010 – 2011 và các kỳ trước liền kề) (Danh sách 4 kèm theo).


                Điều 2. 1/ Những sinh viên bị cảnh báo học tập mức 1, 2, 3 (danh sách 1, 2, 3) nếu cải thiện được kết quả học tập sẽ được hạ mức cảnh báo  học tập ở kỳ I năm học 2011 -2012; nếu không sẽ bị tăng mức cảnh báo học tập ở học kỳ I năm học 2011 – 2012.


                             2/ Những sinh viên hệ cao đẳng chính quy bị buộc thôi học (danh sách 4) phải thanh toán các khoản nợ với Nhà trường (nếu có) đến hết học kỳ II năm học 2010-2011.

                Điều 3. Trưởng các phòng Công tác chính trị & Quản lý sinh viên, Đào tạo Đại học và Sau đại học, Trưởng các Khoa, các đơn vị có liên quan và sinh viên có tên trong danh sách trên chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.







    Nơi nhận:


                 – Bộ NN&PTNT (để b/c);


                 – Bộ GD&ĐT (để b/c);


                 – Như điều 3;

                 – Lưu: VT, CTCT&QLSV.

    KT. HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)


     


     


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG


    PGS.TS. Trịnh Minh Thụ


    Danh sách xử lý học vụ: CB mức 1, CB mức 2, CB mức 3, Thôi học.

  • Thông báo về chương trình đào tạo môn tiếng Anh K53










    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    TT ĐÀO TẠO NGOẠI NGỮ


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


     


    Hà Nội, ngày 21  tháng 7  năm 2011


                                                        


                                                         THÔNG BÁO


    Về chương trình đào tạo môn tiếng Anh K53


     


    Để tạo điều kiện học tập tiếng Anh thật tốt cho các sinh viên K53, nhà trường xin thông báo tới các sinh viên chương trình đào tạo tiếng Anh cho các em như sau:


    I. Nội dung và chương trình:


    Căn cứ vào yêu cầu của nhà trường đối với các sinh viên tốt nghiệp đại học Thủy Lợi là phải đạt được trình độ Tiếng Anh B, căn cứ vào trình độ tiếng Anh của phần lớn sinh viên vào trường, đồng thời trên cơ sở thời lượng đào tạo tiếng Anh trong chương trình đào tạo nên chương trình học của sinh viên năm thứ nhất là bắt đầu chương trình B với giáo trình tiếng Anh cơ bản: New Headway Pre-intermediate Third Edition.


    II. Phương án tổ chức đào tạo:


    Căn cứ vào tình hình thực tế của sinh viên năm thứ nhất, nhà trường thông báo tới các em sinh viên như sau:


    1.  Những sinh viên đã có chứng chỉ quốc tế IELTS 4.0 hoặc TOEFL 450 trở lên thì được miễn học và miễn thi cuối kỳ. Điểm môn học sinh viên đó được nhận là điểm 8. Sinh viên cũng có quyền thi nâng điểm bằng cách đăng ký thi cuối kỳ cùng các sinh viên khác và phải nhận kết quả thi đó làm kết quả môn học.


    2. Những sinh viên đã học Tiếng Anh ở bậc phổ thông có trình độ tương đương hết chương trình A đăng ký vào học ngay học phần TA1, học phần TA2 và TA3 theo trình tự thời gian.


    3. Đối với những sinh viên chưa học tiếng Anh ở bậc phổ thông, trong học kỳ đầu tiên, sinh viên sẽ chưa đăng ký học ngay TA1 mà sẽ tự đăng ký học thêm chương trình tiếng Anh A (TA0) ở trung tâm Đào tạo Ngoại Ngữ của trường (P105 nhà B1)hoặc các trung tâm khác vào buổi tối cho đến khi đủ trình độ để đăng ký vào học TA1 chính thức tại trường.  


    Nhà trường khuyến cáo các em sinh viên thực hiện theo thông báo này.


     


     








    Nơi nhận:


    – Sinh viên K53


    – Website của nhà trường;


    – Lưu: VP TT ĐT NN


     T/L HIỆU TRƯỞNG


    PHÓ GIÁM ĐỐC TT ĐT NGOẠI NGỮ


     


     


    (đã ký)


    Lâm Thị Lan Hương


     


                                                   

  • Nghị quyết về việc công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII trong phạm vi cả nước






    HỘI ĐỒNG BẦU CỬ


    Số:  434 NQ/HĐBC


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


     


    Hà Nội, ngày 01 tháng 6 năm 2011


     


    NGHỊ QUYẾT


    VỀ VIỆC CÔNG BỐ KẾT QUẢ BẦU CỬ VÀ DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI
    TRÚNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHOÁ XIII


    TRONG PHẠM VI CẢ NƯỚC 


     


    HỘI ĐỒNG BẦU CỬ


     


    Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Quốc hội đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 31/2001/QH10 và Luật số 63/2010/QH12;


    Căn cứ Biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII trong cả nước của Hội đồng bầu cử;


     


    QUYẾT NGHỊ:


    Công bố kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và danh sách 500 người trúng cử đại biểu Quốc hội trong cuộc bầu cử ngày 22 tháng 5 năm 2011 tại 183 đơn vị bầu cử trong cả nước.


     







     


    TM. HỘI ĐỒNG BẦU CỬ


    CHỦ TỊCH


     (đã ký)


     


    Nguyễn Phú Trọng


     



    Tải về danh sách những người trúng cử kèm theo Nghị quyết trên
    Danh sách những người trúng cử theo từng đơn vị bầu cử tỉnh/thành phố
    Xem danh sách những người trúng cử tại: Danh sách người trúng cử


     
    (Nguồn: Website Hội đồng bầu cử)

  • Tuyên truyền về bệnh thủy đậu

    TUYÊN TRUYỀN VỀ BỆNH THỦY ĐẬU


     


                Thủy đậu là bệnh truyền nhiễm do vi rút Venicellia Zoster gây ra 90% số đối tượng chưa tiêm Vacin có khả năng mắc bệnh.


                Hiện nay trên địa bàn Hà nội nói chung và trong trường Thủy lợi nói riêng đã xuất hiện bệnh Thủy đậu.


    1/ Đặc điểm của bệnh: Ngứa, ban ngoài da, ban sẩn có mụn nước và thường kèm theo sốt.


    –          Dấu hiệu ban đầu của bệnh thường là sốt, người mệt mỏi và đau cơ.


    –          Sau đó các nốt dạ xuất hiện ở da đầu, mặt, lan xuống thân và chân tay. Người bệnh có cảm giác ngứa ngáy, đau nhức, khó chịu.


    2/ Đường lây: Bệnh dễ dàng lây qua không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp với mụn nước của người bệnh.


    3/ Cách phòng chống:


    –          Khi bị mắc cần tới ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị. Nếu chưa có biến chứng bệnh thì người mắc thường được điều trị ngoại trú. Người bệnh cần tắm rửa hàng ngày, tránh ủ kín vết thương.


    –          Khi có các dấu hiệu như sốt cao, mụn nước ửng đỏ xung quanh hay có mủ thì người bệnh cần quay lại ngay cơ sở y tế để theo dõi.


    –          Khi bị bệnh thì người mắc cần cách ly từ 7-10 ngày để tránh lây lan.


    –          Biện pháp phòng ngừa tốt nhất hiện nay là tiêm vacxin.


    –          Dọn dẹp, lau chùi đồ dùng cá nhân hàng ngày, phòng ở phải sạch sẽ thoáng khí.

  • Nghị quyết Về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội






    CHÍNH PHỦ


    ________


    Số: 11/NQ-CP   


    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    _________________________


    Hà Nội, ngày 24 tháng  02 năm 2011


    NGHỊ QUYẾT


    Về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, 
    ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội


    __________


    Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2011 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2011. Tuy nhiên, tình hình kinh tế thế giới hiện đang diễn biến phức tạp, lạm phát tăng, giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ bản đầu vào của sản xuất, giá lương thực, thực phẩm trên thị trường thế giới tiếp tục xu hướng tăng cao. Trong nước, thiên tai, thời tiết tác động bất lợi đến sản xuất và đời sống; một số mặt hàng là đầu vào quan trọng của sản xuất như điện, xăng dầu vẫn chưa thực hiện đầy đủ theo cơ chế giá thị trường buộc phải điều chỉnh tăng; mặt khác, chúng ta phải nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khoá để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua. Tình hình trên đây đã làm giá cả tăng cao, tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta. Vì vậy, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội là mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hiện nay.


    Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước tập trung chỉ đạo, thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau đây:


    1. Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng


    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:


    a) Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, phối hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát; điều hành và kiểm soát để bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15 – 16%; tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa; giảm tốc độ và tỷ trọng vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản, chứng khoán.


    b) Điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ, nhất là các loại lãi suất và lượng tiền cung ứng để bảo đảm kiềm chế lạm phát.


    c) Điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường. Tăng cường quản lý ngoại hối, thực hiện các biện pháp cần thiết để các tổ chức, cá nhân trước hết là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng khi có nguồn thu và được mua khi có nhu cầu hợp lý, bảo đảm thanh khoản ngoại tệ, bình ổn tỷ giá, đáp ứng yêu cầu ổn định, phát triển sản xuất kinh doanh và tăng dự trữ ngoại hối.


    d) Kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng; trong quý II năm 2011 trình Chính phủ ban hành Nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do; ngăn chặn hiệu quả các hoạt động buôn lậu vàng qua biên giới.


    đ) Phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về thu đổi ngoại tệ, kinh doanh vàng. Ban hành quy định và chế tài xử lý vi phạm, kể cả việc đình chỉ, rút giấy phép hoạt động, thu tài sản; quy định khen, thưởng đối với việc phát hiện các hành vi vi phạm hoạt động thu đổi, mua bán ngoại tệ, vàng. Xử lý nghiêm theo pháp luật đối với hành vi cố tình vi phạm.


    2. Thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước


    a) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:


    – Chỉ đạo phấn đấu tăng thu ngân sách nhà nước 7-8% so với dự toán ngân sách năm 2011 đã được Quốc hội thông qua. Tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế; triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới.


    – Các Bộ, cơ quan, địa phương chủ động sắp xếp lại các nhiệm vụ chi để tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên của 9 tháng còn lại trong dự toán năm 2011 (không bao gồm chi tiền lương và các khoản có tính chất lương, chi chế độ chính sách cho con người và tiết kiệm 10% chi thường xuyên để tạo nguồn cải cách tiền lương theo kế hoạch đầu năm). Các Bộ, cơ quan, địa phương tự xác định cụ thể số tiết kiệm, gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 3 năm 2011. Số tiết kiệm thêm 10% này các Bộ, cơ quan, địa phương tự quản lý; từ quý III năm 2011 sẽ xem xét, bố trí cho các nhiệm vụ cấp bách phát sinh ngoài dự toán hoặc chuyển về ngân sách Trung ương theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Tạm dừng trang bị mới xe ô-tô, điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng; giảm tối đa chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu,…; không bố trí kinh phí cho các việc chưa thật sự cấp bách. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước chịu trách nhiệm tiết giảm tối đa chi phí hội nghị, hội thảo, tổng kết, sơ kết, đi công tác trong và ngoài nước… Không bổ sung ngân sách ngoài dự toán, trừ các trường hợp thực hiện theo chính sách, chế độ, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Xử lý nghiêm, kịp thời, công khai những sai phạm.


    – Giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 xuống dưới 5% GDP. Giám sát chặt chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, nhất là vay ngắn hạn. Thực hiện rà soát nợ Chính phủ, nợ quốc gia, hạn chế nợ dự phòng, không mở rộng đối tượng phạm vi bảo lãnh của Chính phủ. Bảo đảm dư nợ Chính phủ, dư nợ công, dư nợ nước ngoài trong giới hạn an toàn và an toàn tài chính quốc gia.


    b) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:


    – Không ứng trước vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2012 cho các dự án, trừ các dự án phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách.


    – Không kéo dài thời gian thực hiện các khoản vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2011, thu hồi về ngân sách Trung ương các khoản này để bổ sung vốn cho các công trình, dự án hoàn thành trong năm 2011.


    – Thành lập các đoàn kiểm tra, rà soát toàn bộ các công trình, dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ đã được bố trí vốn năm 2011, xác định cụ thể các công trình, dự án cần ngừng, đình hoãn, giãn tiến độ thực hiện trong năm 2011; thu hồi hoặc điều chuyển các khoản đã bố trí nhưng chưa cấp bách, không đúng mục tiêu, báo cáo và đề xuất với Thủ tướng Chính phủ biện pháp xử lý trong tháng 3 năm 2011.


    – Kiểm tra, rà soát lại đầu tư của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các biện pháp xử lý, loại bỏ các dự án đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, kể cả các dự án đầu tư ra nước ngoài.


    c) Ngân hàng Phát triển Việt Nam giảm tối thiểu 10% kế hoạch tín dụng đầu tư từ nguồn vốn tín dụng nhà nước.


    d) Các Bộ, cơ quan, địa phương:


    – Chưa khởi công các công trình, dự án mới sử dụng vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ, trừ các dự án phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách và các dự án trọng điểm quốc gia và các dự án được đầu tư từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại để điều chuyển vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2011 trong phạm vi quản lý để tập trung vốn đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án quan trọng, cấp bách, hoàn thành trong năm 2011.


    – Báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 4 năm 2011 danh mục các dự án cắt giảm đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, danh mục các dự án cắt giảm đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước trong phạm vi quản lý, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Chính phủ trong phiên họp thường kỳ tháng 5 năm 2011.


    đ) Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại các dự án đầu tư, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 4 năm 2011 danh mục các dự án cắt giảm đầu tư, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Chính phủ trong phiên họp thường kỳ tháng 5 năm 2011.


    3. Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng


    a) Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:


    – Trong quý II năm 2011, ban hành và thực hiện quy định về điều tiết cân đối cung – cầu đối với từng mặt hàng thiết yếu, bảo đảm kết hợp hợp lý, gắn sản xuất trong nước với điều hành xuất nhập khẩu; tiếp tục chỉ đạo, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh để đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ; chỉ đạo điều hành xuất khẩu gạo bảo đảm hiệu quả, ổn định giá lương thực trong nước, phối hợp với Bộ Tài chính trong việc điều hành dự trữ quốc gia để bảo đảm an ninh lương thực; thường xuyên theo dõi sát diễn biến thị trường trong nước và quốc tế để kịp thời có biện pháp điều tiết, bình ổn thị trường, nhất là các mặt hàng thiết yếu. Chủ động có biện pháp chống đầu cơ, nâng giá.


    – Xây dựng kế hoạch điều hành xuất, nhập khẩu, phấn đấu bảo đảm nhập siêu không quá 16% tổng kim ngạch xuất khẩu. Xây dựng quy trình, nguyên tắc kiểm soát nhập khẩu hàng hóa, vật tư, thiết bị của các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn do Chính phủ bảo lãnh, vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước; phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra, giám sát bảo đảm thực hiện nghiêm Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng hàng hóa, vật tư, thiết bị sản xuất trong nước, nhất là các dự án sử dụng máy móc, thiết bị, vật liệu nhập khẩu; chủ động áp dụng các biện pháp phù hợp kiểm soát nhập khẩu hàng tiêu dùng, hạn chế nhập siêu.


    – Chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam, các công ty thành viên có kế hoạch huy động tối đa công suất các nhà máy điện để đáp ứng nhu cầu phụ tải điện trong mùa khô, ưu tiên bảo đảm điện cho sản xuất; phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo việc sử dụng điện tiết kiệm, phân bổ hợp lý để bảo đảm đáp ứng cho các nhu cầu thiết yếu của sản xuất và đời sống.


    b) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:


    – Chủ động áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý về thuế, phí để điều tiết lợi nhuận do kinh doanh xuất khẩu một số mặt hàng như thép, xi măng… thu được từ việc được sử dụng một số yếu tố đầu vào giá hiện còn thấp hơn giá thị trường.


    – Xem xét, miễn, giảm thuế, gia hạn thời gian nộp thuế nguyên liệu đầu vào nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu đối với những ngành hàng trong nước còn thiếu nguyên liệu như dệt may, da giầy, thuỷ sản, hạt điều, gỗ, dược phẩm,…; tiếp tục thực hiện tạm hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong năm 2011.


    – Kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc kê khai, áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo cam kết tại các thoả thuận thương mại tự do, các chính sách ưu đãi về thuế tại các khu phi thuế quan theo đúng quy định. Rà soát để giảm thuế đối với các mặt hàng là nguyên liệu đầu vào của sản xuất mà trong nước chưa sản xuất được; nghiên cứu tăng thuế xuất khẩu lên mức phù hợp đối với các mặt hàng không khuyến khích xuất khẩu, tài nguyên, nguyên liệu thô.


    c) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bảo đảm ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa thiết yếu mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng; hạn chế cho vay nhập khẩu hàng hóa thuộc diện không khuyến khích nhập khẩu theo danh mục do Bộ Công Thương ban hành.


    d) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn, tăng xuất khẩu, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, bảo đảm an ninh lương thực.


    đ) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nhất là thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ tình hình sản xuất, tiêu dùng tại địa phương, chỉ đạo sản xuất, dự trữ, lưu thông, phân phối hàng hóa thông suốt, trước hết là các hàng hóa thiết yếu như lương thực, thực phẩm, xăng dầu,…; tăng cường quản lý giá, bình ổn giá trên địa bàn.


    e) Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá, tái cơ cấu, kiểm soát chặt chẽ chi phí sản xuất, đổi mới quản trị doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm giá sản phẩm hàng hoá, dịch vụ ở mức hợp lý; tập trung vốn cho ngành nghề sản xuất kinh doanh chính.


    g) Các Bộ, cơ quan, địa phương tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo triển khai quyết liệt, tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện các quy định về tiết kiệm, chống lãng phí; xây dựng và thực hiện chương trình tiết kiệm điện, phấn đấu tiết kiệm sử dụng điện 10% theo Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ; đồng thời, áp dụng các biện pháp cần thiết và phù hợp để khuyến khích, khuyến cáo các doanh nghiệp, nhân dân sử dụng tiết kiệm năng lượng (điện, xăng dầu), sử dụng các công nghệ cao, công nghệ xanh, sạch, công nghệ tiết kiệm điện.


    4. Điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo


    a) Tiếp tục thực hiện lộ trình điều hành giá xăng dầu, điện theo cơ chế thị trường.


    – Bộ Tài chính chủ động điều hành linh hoạt giá xăng dầu theo đúng quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, bảo đảm giá xăng dầu trong nước bám sát giá xăng dầu thế giới.


    – Trong năm 2011 thực hiện điều chỉnh một bước giá điện; Bộ Công Thương hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong quý I năm 2011 cơ chế điều hành giá điện theo cơ chế thị trường.


    b) Nhà nước có chính sách hỗ trợ hộ nghèo sau khi điều chỉnh giá điện.


    5. Tăng cường bảo đảm an sinh xã hội


    a) Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:


    – Thực hiện đồng bộ các chính sách an sinh xã hội theo các chương trình, dự án, kế hoạch đã được phê duyệt; đẩy mạnh thực hiện các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội theo Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ.


    – Tập trung chỉ đạo hỗ trợ giảm nghèo tại các địa phương, nhất là tại các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; hỗ trợ các hộ nghèo, địa phương nghèo xuất khẩu lao động; cho vay học sinh, sinh viên,….


    – Chỉ đạo các cơ quan, địa phương triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng các quy định hỗ trợ đối tượng chính sách, người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (già yếu cô đơn, không nơi nương tựa,…),…


    b) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan, địa phương bố trí kinh phí để thực hiện các chính sách an sinh xã hội theo chuẩn nghèo mới.


    c) Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và các Bộ, cơ quan, địa phương chỉ đạo việc triển khai thực hiện quy định về hỗ trợ hộ nghèo khi giá điện được điều chỉnh.


    6. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền


    a) Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, các cơ quan chủ quản thông tin, truyền thông, báo chí:


    – Chỉ đạo các cơ quan thông tin, truyền thông, báo chí bám sát các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và nội dung của Nghị quyết này thông tin, tuyên truyền đầy đủ, kịp thời, nhất là các nội dung thuộc lĩnh vực tài chính, tiền tệ, giá cả, các chính sách an sinh xã hội, chính sách hỗ trợ hộ nghèo trực tiếp chịu tác động của việc thực hiện điều chỉnh giá điện để nhân dân hiểu, đồng thuận.


    – Xử lý nghiêm, kịp thời theo thẩm quyền các hành vi đưa tin sai sự thật, không đúng định hướng của Đảng và Nhà nước về việc thực hiện chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.


    b) Các Bộ, cơ quan, ban ngành Trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo và chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch cho báo chí, nhất là những vấn đề mà dư luận quan tâm.


    7. Tổ chức thực hiện


    a) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động triển khai thực hiện nghiêm túc, triệt để các nội dung quy định tại Nghị quyết này; định kỳ hàng tháng, hàng quý, kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP và Nghị quyết này, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Chính phủ tại phiên họp thường kỳ hàng tháng.


    b) Bộ Kế hoạch và Đầu tư:


    – Theo dõi tình hình và kết quả triển khai Nghị quyết của các Bộ, cơ quan, địa phương; tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ tại giao ban 15 ngày hàng tháng của Thường trực Chính phủ.


    – Trình Thủ tướng Chính phủ để báo cáo Quốc hội trong tháng 3 năm 2011 về các giải pháp tổng thể, toàn diện phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.


    c) Đề nghị Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương và các tổ chức thành viên chỉ đạo các cấp hội tổ chức tốt công tác thông tin, tuyên truyền, vận động để cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân nhận thức đúng, hiểu rõ, tham gia tích cực, thiết thực, tạo đồng thuận cao trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết. Các hội, hiệp hội ngành nghề tổ chức để cộng đồng doanh nghiệp tích cực thực hiện các chủ trương, cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước, các nội dung của Nghị quyết.


    d) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan Trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện các nội dung của Nghị quyết này.


    Thực hiện nhiệm vụ kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội trong điều kiện có nhiều khó khăn, nhưng sau 25 năm đổi mới, tiềm lực của đất nước ta đã được tăng cường, chính trị, xã hội ổn định; dưới sự lãnh đạo của Đảng, với quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận, nỗ lực của tất cả các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, chúng ta tin tưởng rằng mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội sẽ thực hiện được./


     


     







     


    Nơi nhận:


    – Ban Bí thư Trung ương Đảng;


    – Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;


    – Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;


    – VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;


    – HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;


    – Văn phòng TW và các Ban của Đảng;


    – Văn phòng Chủ tịch nước;


    – Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;


    – Văn phòng Quốc hội;


    – Tòa án nhân dân tối cao;


    – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;


    – Kiểm toán Nhà nước;


    – UB Giám sát tài chính QG;


    – Ngân hàng Chính sách Xã hội;


    – Ngân hàng Phát triển Việt Nam;


    – Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;


    – Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;


    – Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước;


    – Các hiệp hội ngành hàng;


    – VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT,


      các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;


    – Lưu: Văn thư, KTTH (10b).


    TM. CHÍNH PHỦ


    THỦ TƯỚNG


     


      Nguyễn Tấn Dũng

  • Thông báo Về việc xét học vụ cho sinh viên học theo tín chỉ kỳ 1 năm học 2010 – 2011







    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


     


    Số: 296 /TB-ĐHTL


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


     


    Hà Nội, ngày 18 tháng 4  năm 2011


    THÔNG BÁO


    Về việc xét học vụ cho sinh viên học theo tín chỉ kỳ 1 năm học 2010 – 2011


     


    Căn cứ ý kiến của Hội đồng xét học vụ cho sinh viên học theo tín chỉ họp ngày 18/4/2011, Nhà trường thông báo về việc xét học vụ học kỳ 1 (2010 – 2011) như sau:


    1. Sinh viên thuộc diện cảnh báo học tập ở học kỳ 1 (2010 – 2011):


    1.1. Điều kiện cảnh báo học tập:


    Sinh viên bị cảnh báo học tập ở học kỳ 1 (2010 – 2011) là sinh viên có học lực yếu ở học kỳ 1 (2010 – 2011) và phạm một trong các điều kiện sau (nhưng chưa rơi vào diện thôi học tại mục 2):


    – Điểm trung bình chung học kỳ 1 (2010 – 2011) đạt dưới 1.00 (thang điểm 4)


    – Điểm trung bình chung tích luỹ (tính theo thang điểm 4) đạt dưới 1.20 đối với sinh viên năm thứ nhất; dưới 1.40 đối với sinh viên năm thứ hai; dưới 1.60 đối với sinh viên năm thứ ba.


    1.2. Các mức cảnh báo học tập:


    – Cảnh báo học tập mức 1: Là sinh viên phạm phải điều kiện cảnh báo học tập tại mục 1.1 nhưng chưa bị cảnh báo học tập ở học kỳ 2 (2009 – 2010).


    – Cảnh báo học tập mức 2: Là sinh viên phạm phải điều kiện cảnh báo học tập tại mục 1.1 và đã bị cảnh báo học tập mức 1 ở học kỳ 2 (2009 – 2010).


    – Cảnh báo học tập mức 3: Là sinh viên phạm phải điều kiện cảnh báo học tập tại mục 1.1 và đã bị cảnh báo học tập mức 2 ở học kỳ 2 (2009 – 2010).


    – Cảnh báo học tập mức 3 lần 2: Là sinh viên phạm phải điều kiện cảnh báo học tập tại mục 1.1 và đã bị cảnh báo học tập mức 3 ở học kỳ 2 (2009 – 2010).


    1.3. Xử lý với những sinh viên bị cảnh báo học tập:


    – Đối với sinh viên bị cảnh báo học tập mức 1 & mức 2: Sinh viên chỉ được học tối đa 14 tín chỉ trong học kỳ 2 (2010 – 2011).


    – Đối với sinh viên bị cảnh báo học tập mức 3 nhưng có số tín chỉ tích lũy từ 40TC trở lên (đối với K50) và 20TC trở lên (đối với K51): Sinh viên chỉ được tiếp tục theo học khi có đơn cam kết (theo mẫu) nộp cho phòng CTCT & Quản lý sinh viên trước ngày 10/5/2011 đồng thời chỉ được học tối đa 14 tín chỉ trong học kỳ 2 (2010 – 2011). Nếu sinh viên không có đơn cam kết, Nhà trường sẽ buộc sinh viên phải thôi học từ học kỳ 2 (2010 – 2011).


    Những sinh viên bị cảnh báo học tập trên nếu đã đăng ký học quá 14TC trong học kỳ 2 (2010 – 2011), làm đơn xin rút bớt các tín chỉ tại phòng Đào tạo ĐH & SĐH (với SV tại Hà Nội) hoặc tại Ban Đào tạo & QLSV (với sinh viên học tại CS2) hoặc tại bộ phận đào tạo (với sinh viên học tại ĐH2) trước ngày 10/5/2011.


    – Đối với sinh viên bị cảnh báo học tập mức 3 có số tín chỉ tích lũy nhỏ hơn 40TC (đối với K50) và nhỏ hơn 20TC (đối với K51) và sinh viên bị cảnh báo mức 3 lần 2: Sinh viên thuộc diện buộc thôi học và thực hiện theo mục 2 dưới đây.


    2. Sinh viên thuộc diện thôi học từ học kỳ 2 (2010 – 2011):


    2.1. Điều kiện bị thôi học:


    Sinh viên phạm một trong các điều kiện sau sẽ phải thôi học từ kỳ 2 (2010 – 2011):


    – Không đăng ký học tập, tự ý bỏ học không có lý do trong kỳ 1 (2010 – 2011).


    – Điểm trung bình chung học kỳ 1 (2010 – 2011) bằng 0.0 (thang điểm 4)


    – Là sinh viên thuộc diện cảnh báo học tập mức 3 tại mục 1.2 thuộc diện buộc thôi học


    2.2. Xử lý với những sinh viên thuộc diện bị thôi học:


    – Sinh viên hệ cao đẳng thuộc diện thôi học & sinh viên hệ đại học thuộc diện thôi học nhưng không có nguyện vọng xuống học hệ cao đẳng: Được phép rút lại toàn bộ học phí các tín chỉ đã đăng ký học trong kỳ 2 (2010 – 2011) và nhận lại hồ sơ sinh viên tại phòng CTCT & Quản lý sinh viên (với sinh viên học tại Hà Nội) hoặc tại Ban Đào tạo & QLSV (với sinh viên học tại CS2) hoặc tại bộ phận đào tạo (với sinh viên học tại ĐH2) về địa phương.


    – Sinh viên hệ đại học thuộc diện thôi học có nguyện vọng xuống học hệ Cao đẳng: Làm đơn (theo mẫu) và nộp về phòng CTCT & Quản lý sinh viên (kể cả sinh viên Cơ sở 2) từ ngày 18/4/2011 đến 10/5/2011 để Nhà trường xem xét; đồng thời sinh viên vẫn được tiếp tục theo học các môn học đã đăng ký trong học kỳ 2 (2010 – 2011), nếu các môn học này có trong chương trình đào tạo của hệ Cao đẳng. Với những môn học không có trong chương trình đào tạo của hệ Cao đẳng mà sinh viên đã đăng ký học trong học kỳ 2 (2010 – 2011), sinh viên được phép hủy các môn học này tại phòng Đào tạo ĐH & SĐH trước ngày 10/5/2011.


     








    Nơi nhận:


    – BGH (để b/c);


    – ĐTN, HSV, các P, K, CS2, ĐH2;


    – Các lớp K50, K51, K52;


    – CVHT K50, K51, K52;


    – Lưu VT, CTCT&QLSV.


    KT. HIỆU TRƯỞNG


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG


     


    (Đã ký)


     


     


    PGS.TS. Trịnh Minh Thụ

    Mẫu Đơn cam kết được tiếp tục học tại trường và Đơn xin học cao đẳng: Download