Danh mục: Tin tức chung

  • Ngày Cá tháng Tư có từ khi nào?

    Ngày Cá tháng Tư có từ khi nào?

    Dân trí) – Những người hay đùa và hài hước tại nhiều nước giờ đây đang háo hức chuẩn bị các “chiêu” để đánh lừa bạn bè và người thân vào ngày Cá tháng Tư (1/4). Nhưng không ai biết chính xác truyền thống này có từ khi nào, tại sao và ở đâu.

     

     

    Những trò nói dối vui vẻ có vẻ như trùng với thời điểm mùa xuân đến từ thời La Mã cổ đại và người Xen-tơ, vốn có truyền thống mừng ngày hội gây bất hòa. Những ghi chép đầu tiên về ngày Cá tháng Tư xuất hiện tại châu Âu trong thời Trung Cổ (khoảng năm 1.100-400 sau Công nguyên).

    Có vài dấu vết về ngày Cá tháng Tư trong thần thoại La Mã, đặc biệt là câu chuyện về Nữ thần Ceres mùa màng và con gái bà, nàng Proserpina.

    Theo thần thoại La Mã, thần cai quản địa ngục Pluto đã bắt cóc nàng Proserpina và đưa nàng tới sống cùng ông ở địa ngục. Cô gái đã gọi mẹ nhưng nữ thần Ceres chỉ nghe thấy âm vang giọng nói của con gái và đi tìm kiếm cô trong tuyệt vọng.

    Những cuộc tìm kiếm vô vọng đó, hay các cuộc rượt đuổi ngỗng trời, đã trở thành chuyện cười phổ biến tại châu Âu trong các thế kỷ trước.

    Giả thuyết phổ biến nhất về nguồn gốc ngày Cá tháng Tư xuất phát từ việc chuyển đổi lịch Julian cũ sang lịch Gregorian – hệ thống lịch do Giáo hoàng Gregory XIII (1502-1582) đưa ra vào cuối thế kỷ 16 và cũng là hệ thống lịch mà thế giới ngày nay vẫn dùng.

    Theo lịch Julian, năm mới được tổ chức trong khoảng thời gian từ 25/3 đến 1/4 nhưng theo lịch Gregorian, năm mới đến vào ngày 1/1. Những người không được thông báo về sự thay đổi này, hoặc kiên quyết giữ truyền thống cũ, thường bị chế giễu. Từ đó nảy sinh những câu chuyện cười nhằm vào họ vào thời điểm năm mới theo lịch cũ.

    Tại Pháp, những người hay đùa thường dính cá vào những người theo truyền thống cũ, nên mới có tên gọi là “Poisson d'Avril” hay Cá tháng Tư. Nhưng giả thuyết này cũng không lý giải được tại sao ngày hội nói dối lại lan sang nhiều nước khác ở châu Âu vốn không sử dụng lịch Gregorian cho tới tận sau này.

    Tại Scotland, ngày Cá tháng Tư có tên gọi là April “Gowks” – tên khác của một loài chim cúc cu. Nguồn gốc của tấm biển “Đá tôi” cũng có thể xuất phát lễ kỷ niệm ngày April “Gowks” của người Scotland.

    Những năm gần đây, các đài phát thanh, chương trình truyền hình và các trang web trên khắp thế giới thường nói đùa bạn đọc và người nghe vào ngày Cá tháng Tư. Một trong những lời nói dối nổi tiếng nhất là năm 1957 khi đài BBC của Anh phát bộ phim tài liệu về mùa thu hoạch mì ống thường niên tại Thụy Sỹ. Phim quay cảnh một gia đình đang lượm những sợi mì từ “các cây mì spaghetti”. Món mì Italia rất được ưa chuộng tại Anh thời điểm đó và nhiều người Anh đã "ngây thơ" tin vào trò lừa của BBC tới nỗi họ muốn tìm hiểu xem làm thế nào để có thể tự trồng được các cây spaghetti!

    Vào ngày Cá tháng Tư năm 2007, công cụ tìm kiếm trên internet Google đã thông báo cung cấp dịch vụ mới Gmail Paper, nơi người sử dụng dịch vụ thư miễn phí có thể lưu giữ email vào kho lưu trữ giấy mà Google sẽ in ra và rồi gửi cho họ miễn phí. Năm 2008, Google đã mời mọi người tham gia dự án thám hiểm sao Hoả.

    Vì thế, khi lướt web hoặc xem tivi hôm nay, bạn hãy cảnh giác về những gì nhìn thấy và đọc được, nếu không bạn có thể bị mắc lừa trong ngày Cá tháng Tư.

    An Bình
    Theo LiveScience

    (Theo Dantri.com)

  • Trường ĐH Thủy lợi, nửa thế kỷ xây dựng và phát triển

    Trường ĐH Thủy lợi, nửa thế kỷ xây dựng và phát triển

    Trường ĐH Thủy lợi, nửa thế kỷ xây dựng và phát triển

    (GD&TĐ)-Hôm nay (14/11), Trường ĐH Thủy lợi – đơn vị Anh hùng Lao động long trọng kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường và đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhất do Đảng và Nhà nước trao tặng. Trong dịp trọng đại này, trường đã vinh dự được đón đồng chí Nguyễn Sinh Hùng – Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ; đồng chí Cao Đức Phát, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn  cùng các đồng chí lãnh đạo và nguyên lãnh đạo các Bộ ngành, các tỉnh, các cơ quan thuộc Chính phủ và Quốc hội và toàn thể cán bộ giáo viên nhà trường…

    Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng trao Huân chương Độc lập Hạng Nhất cho Trường ĐH Thủy lợi. Ảnh: N.N
    Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng trao Huân chương Độc lập Hạng Nhất cho Trường ĐH Thủy lợi. Ảnh: N.N

    Phát biểu tại buổi lễ, PGS.TS Nguyễn Quang Kim, Hiệu trưởng nhà trường đã ôn lại chặng đường lịch sử 50 năm xây dựng và phát triển. Trường ĐH Thủy lợi được thành lập năm 1956, tiền thân là Học viện Thủy lợi điện lực, một trong những trường đại học đầu tiên của đất nước với nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trong lĩnh vực thủy lợi, thủy điện. Từ 25 cán bộ giảng dạy đại học ban đầu, đến nay, tổng số cán bộ viên chức của trường lên tới 950 người, 100% giảng viên trình độ đạt chuẩn theo quy định của nhà nước. Nhà trường cũng đã cơ bản hoàn thành kiện toàn tổ chức các khoa, bộ môn để phù hợp với cơ cấu ngành nghề đào tạo mới với tinh thần thu gọn đầu mối, mỗi một bộ môn phụ trách ít nhất 1 chương trình đào tạo để tập trung và khai thác hiệu quả nhất nguồn nhân lực hiện có.

    50 năm xây dựng và trưởng thành, với những thành tựu đã đạt được, những đóng góp to lớn cho sự nghiệp giáo dục cũng như sự nghiệp thủy lợi nói riêng và cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước nói chung, trường ĐH Thủy Lợi đã thực sự tạo được chỗ đứng vững chắc trong các trường ĐH và các cơ quan khoa học Việt Nam. Danh hiệu anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập, Huân chương lao động là những minh chứng cụ thể cho sự ghi nhận của Đảng và Nhà nước  và của nhân dân đối với những đóng góp của nhà trường.

    Chiến lược phát triển Trường ĐH Thủy lợi giai đoạn 2006 – 2020 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt và bắt đầu thực hiện từ giữa năm 2006. Đến nay, hầu hết các nội dung trong giai đoạn chuyển đổi (2006 – 2010) của Chiến lược phát triển đã được hoàn thành trước thời hạn với kết quả tốt.

    Trước mắt, trong năm 2010, năm kết thúc giai đoạn chuyển đổi của Chiến lược phát triển, Nhà trường sẽ rà soát, đánh giá, điều chỉnh, bổ sung để các nội dung và lộ trình thực hiện Chiến lược phát triển phù hợp hơn với tình hình thực tế. Đồng thời, tập trung hoàn thiện hơn chương trình đào tạo, mở rộng ngành nghề xã hội có nhu cầu cao và phù hợp với thế mạnh của trường; tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện đề cương môn học, đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp đánh giá kết quả học tập; triển khai xây dựng và công bố chuẩn đầu ra cho sinh viên tốt nghiệp; nghiên cứu phương thức để sinh viên tham gia đánh giá các môn học và đánh giá giảng viên; đấy mạnh hoạt động khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế; thực hiện đổi mới hành chính, ứng dụng hệ thống hành chính điện tử trong nhà trường…

    Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng phát biểu tại buổi lễ. Ảnh: N.N
    Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng phát biểu tại buổi lễ. Ảnh: N.N

    Tại buổi Lễ, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã đánh giá cao sự phát huy nội lực, khắc phục mọi khó khăn gian khổ, gắn chặt giảng dạy, học tập với nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất, tạo nên truyền thống ba kết hợp xứng đáng là trường đại học đầu ngành duy nhất trong cả nước về lĩnh vực tài nguyên nước, góp phần quan trọng tạo nên thắng lợi trên mặt trận an ninh lương thực quốc gia.. của Trường ĐH Thủy lợi. Phó Thủ tướng nhấn mạnh, Trường Đại học Thuỷ lợi với tư cách là một trường đầu ngành, duy nhất trong lĩnh vực Tài nguyên nước có nhiệm vụ rất quan trọng và cần phấn đấu vươn lên mạnh mẽ hơn nữa, xây dựng trường sớm trở thành một trường trọng điểm quốc gia có khả năng hoà nhập với các trường tiên tiến, hiện đại trên thế giới, đảm bảo đào tạo chất lượng nguồn nhân lực có kỹ thuật, có đức, có tài để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững. Phó Thủ tướng cho rằng, muốn đạt được mục tiêu đó, trường Đại học Thuỷ lợi phải đoàn kết đồng lòng, đồng sức quyết tâm thực hiện chiến lược đổi mới; nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và học tập gắn chặt với nhu cầu thực tiễn cua đất nước. Đồng thời xây dựng một đội ngũ cán bộ giảng dạy đồng bộ vững mạnh, chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của giảng viên, cán bộ nhân viên và sinh viên trong toàn trường. 

    Hiếu Nguyễn

  • Nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật ở một chi cục thủy lợi

    Qua sự giáo dục và rèn luyện của chi bộ, mỗi đảng viên luôn gương mẫu, tiên phong đi đầu thực hiện các chủ trương chính sách của Ðảng và Nhà nước, của ngành nông nghiệp; Nghiên cứu và thực hiện các dự án, các công trình khoa học kỹ thuật, đầu tư hệ thống thủy lợi. Nhằm khai thác tiềm năng chất xám, tay nghề của đội ngũ cán bộ kỹ thuật và năng lực của các thiết bị máy móc, Chi cục đã ứng dụng thành công giải pháp kỹ thuật và công nghệ phần mềm ứng dụng công nghệ Gis và Map để theo dõi và kiểm tra tưới và điều tra hiện trạng thủy lợi của tỉnh, góp phần nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện chuyên môn; từng bước đổi mới tổ chức bộ máy gọn nhẹ, quản lý và điều hành các hoạt động.
     
    Các phong trào thi đua phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật trên các lĩnh vực chuyên môn được đông đảo cán bộ, đảng viên, công nhân viên Chi cục hưởng ứng. Ðã có hàng chục đề tài khoa học phục vụ công tác chuyên môn được ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn cho đưa vào áp dụng có hiệu quả.
     
    Kết thúc năm 2008 khó khăn và vất vả, đầu năm rét đậm rét hại, cuối năm mưa úng lụt, song Chi cục Thủy lợi Vĩnh Phúc đã hoàn thành xuất sắc công tác quản lý nhà nước theo chuyên ngành được giao, với 12 dự án đã hoàn thành như: quy hoạch Chi tiết phát triển thủy lợi tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2010-2020 và tầm nhìn định hướng đến năm 2030; khảo sát đánh giá cải tạo sông huyện Bình Xuyên; quy hoạch giải pháp chi tiết tổng thể lưu vực sông Phan, sông Cà Lồ; cải tạo trục tiêu Tam Báo huyện Mê Linh; cải tạo bể hút toàn tuyến kênh tưới tiêu huyện Yên Lạc; cải tạo trục tiêu Cầu Triệu huyện Lập Thạch; hồ chứa nước Bản Long huyện Tam Ðảo…
     
    Bên cạnh đó, đơn vị luôn xác định năng suất chất lượng lao động và hiệu quả công tác là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động của đơn vị, đồng thời tổ chức khai thác tốt thiết bị máy móc theo quy mô tiên tiến, hiện đại, phù hợp với các phòng kinh tế các huyện, thị xã, thành phố, các công ty khai thác công trình thủy lợi trong tỉnh thực hiện nhiệm vụ tưới, tiêu để có kế hoạch; tham mưu cho tỉnh và ngành trong lĩnh vực thủy lợi theo Nghị quyết 03 của Tỉnh ủy về nông nghiệp, nông thôn.
     
    Ðến nay chi cục đã xây dựng và thiết kế hoàn chỉnh bản đồ tưới tiêu trên địa bàn tỉnh, xây dựng Nghị quyết số 09 HÐND tỉnh về miễn 100% thủy lợi phí cho nhân dân. Nhằm đánh giá đúng thực trạng các công trình thủy lợi, tạo ra sự công bằng trong việc thực hiện các chính sách thủy lợi phí và đề xuất cơ chế chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp nông thôn, đồng thời xây dựng các giải pháp bảo đảm khai thác nguồn nước cho các năm tiếp theo.
     
    Tăng cường kiểm tra các công trình hồ, đập, trạm bơm hệ thống kênh mương, thẩm định các dự án đầu tư xây dựng và sửa chữa, cải tạo nạo vét kênh mương nâng cấp các công trình thủy lợi trên địa bàn toàn tỉnh. Ðặc biệt trong đợt mưa lũ đột xuất cuối tháng 10 vừa qua đơn vị đã huy động 100% quân số tập trung xây dựng kế hoạch khẩn cấp tham mưu với Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND tỉnh, triển khai nhanh chóng tới các huyện, thị xã, thành phố và các công ty khai thác công trình thủy lợi kịp thời ứng phó xử lý an toàn các công trình thủy lợi, để bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân.
     
    Ðồng chí Nguyễn Gia Thành, Bí thư chi bộ, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh Vĩnh Phúc cho biết: Vụ chiêm xuân năm 2009 tỉnh Vĩnh Phúc có 42.000 ha diện tích gieo trồng, đòi hỏi phải có 212 triệu m3 nước tưới phục vụ cho vụ chiêm xuân, chính vì vậy ngay từ tháng 12-2007 chi cục đã xây dựng hoàn chỉnh kế hoạch và các giải pháp dự trù nguồn nước ở các hồ đập chỉ đạo công tác tưới phục vụ sản xuất đủ nguồn nước phục vụ đổ ải, gieo cấy chăm sóc cây trồng vụ chiêm xuân năm 2009.
     
    Cùng với nhiệm vụ chuyên môn, công tác xây dựng chi bộ vững mạnh được xem là nhiệm vụ quan trọng. Chi bộ tăng cường công tác giáo dục tư tưởng nhằm nâng cao tinh thần giác ngộ chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực làm việc của cán bộ, đảng viên để họ là hạt nhân gương mẫu đi đầu trong mọi phong trào và giúp đỡ quần chúng phát huy truyền thống yêu nước, xây dựng tinh thần làm chủ, ý thức tiết kiệm, tinh thần đoàn kết, hợp tác lẫn nhau, nâng cao trình độ kiến thức, nghiệp vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của đơn vị.
     
    Cán bộ, công nhân viên chức chi cục còn tích cực tham gia các phong trào từ thiện ở địa phương như: Phong trào đền ơn đáp nghĩa, quyên góp ủng hộ Quỹ chất độc da cam, xây dựng Quỹ công nhân nghèo, trẻ em nghèo, với tổng số tiền hơn 5 triệu đồng. Qua đánh giá phân loại đảng viên năm 2008, 100% số đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong đó 61% hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
     

    Ngọc Sơn (Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc)

  • Công trình thủy điện Sơn La: Đề nghị nâng mức hỗ trợ hộ gia đình tái định cư

    Đoàn giám sát nhận định, đến cuối tháng 2-2009, huyện Mộc Châu có khả năng hoàn thành công tác tạm giao đất cho các hộ dân đã ổn định tái định cư để sản xuất vụ xuân hè năm 2009. Tuy nhiên, tiến độ triển khai một số dự án thành phần còn chậm, nhất là công tác chuẩn bị thủ tục đầu tư xây dựng, thẩm định, xác định giá trị bồi thường giải phóng mặt bằng.

    Trưởng đoàn giám sát, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc K’sor Phước nhận định, đối tượng di dân hiện đang chịu 3 bất lợi về đất sản xuất, việc làm và nguồn thu nhập. Đoàn giám sát đề nghị công tác quy hoạch phải gắn liền với quy hoạch tổng thể nông nghiệp, nông thôn toàn xã, liên xã và mối liên hệ liên vùng; địa phương cần xây dựng quỹ đất dự phòng cho phát triển dân số.

    Dự án tái định cư Thủy điện Sơn La được thực hiện trên quy mô lớn, địa bàn rộng nên cần xây dựng cơ chế đặc thù về bồi thường đất tái định cư để nhanh chóng cấp đất cho người dân. Tỉnh cũng cần xem xét nâng mức hỗ trợ cho mỗi hộ gia đình tái định cư để bảo đảm người dân có cuộc sống tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ.

     A.PHƯƠNG

  • Tái định cư ở các công trình thủy điện: Người dân đang gặp nhiều khó khăn

     

    Các đại biểu tham dự đã chỉ ra một loạt bất cập của công tác di dân, TĐC. Hầu hết các hộ TĐC được bố trí diện tích đất sản xuất hẹp hơn, chất lượng đất xấu hơn so với đất tại nơi ở cũ, chưa tạo thêm được việc làm mới. Nhiều nơi, người dân phải di chuyển lên vùng cao, có điều kiện tự nhiên, văn hóa khác hẳn nơi cũ gây khó khăn cho sinh hoạt. Do đó, đời sống người dân khu TĐC không đảm bảo, khó ổn định.

    Khu TĐC Thái Lâm, xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương (Nghệ An), thuộc công trình Bản Vẽ, người dân đã về sống 3 năm ở đây nhưng vẫn chưa có đất sản xuất, nhất là đất sản xuất lúa nước. Dân ở khu TĐC xã Hướng Linh (công trình Rào Quán) được giao đất 1 ha/hộ nhưng không sản xuất được hoặc khu TĐC Lộc Bổn (Công trình Tả Trạch) có 30% số người trở về sản xuất ở vùng lòng hồ và 30% số người đi lao động ở nơi khác, còn lại là đi làm thuê kiếm sống…

    Bên cạnh đó, một số chủ dự án đã không thực hiện đúng cam kết. Công trình Bản Vẽ, quy định mỗi hộ dân được giao 1 – 1,5 ha/hộ đất sản xuất nông nghiệp song bà con mới chỉ được giao 700 – 800 m2/đất vườn. Nhiều điểm TĐC như thôn Làng Non, xã Yên Nguyên (Chiêm Hóa, Quảng Trị)… vẫn thiếu kênh mương tưới tiêu… Nghiêm trọng hơn, ở điểm TĐC thủy điện Tuyên Quang, Bản Vẽ, Rào Quán do công tác quản lý và quy mô công trình chưa phù hợp nên thiếu nước sinh hoạt, có nơi mùa khô 6 – 7 tháng không có nước…

     

     

    Từ năm 1995 – 2009, có 22 công trình thủy điện, thủy lợi trọng điểm đã và đang xây dựng, với tổng số diện tích đất bị thu hồi để xây dựng công trình là 81.622 ha và 49.785 hộ gia đình nằm trong khu vực bị ảnh hưởng. Tổng dự toán đã duyệt để thực hiện di dân lên tới hơn 16.954,8 tỉ đồng. Đến nay, các dự án đã TĐC được khoảng 21.580 hộ, với trên 103.434 khẩu, đạt 54%.

     

    Có ý kiến cho rằng, để xảy ra tình trạng trên có một phần trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trong khi đó, theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát, vấn đề này bắt nguồn từ thực tế của tự nhiên. "Tây Bắc, Tây Nguyên chưa có các dự án thủy điện đã thiếu đất canh tác rồi. Di dân đi đâu mới đủ đất? Khi làm thủy điện Sơn La, chúng tôi cũng có phương án đưa bà con lên Tây Nguyên. Nhưng chính Tây Nguyên đang giải quyết đất cho đồng bào tại chỗ còn khó", Bộ trưởng Phát phân trần. Ông Phát cũng cho rằng chính các dự án thủy điện đã lấy đi phần đất tốt nhất cho nông nghiệp.

    Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của QH Ksor Phước tổng kết: “Công tác di dân mới đạt mục tiêu đưa được bà con đến một nơi nào đó, còn mục tiêu để bà con sống và hội nhập thế nào thì đang bế tắc". Theo ông Phước, Nghị quyết của QH về thủy điện Sơn La đã khẳng định xây dựng công trình thủy điện là một cơ hội để phát triển vùng Tây Bắc, nhưng thực tế đến nay bà con không có đất sản xuất.

    Vấn đề di dân, TĐC đối với các công trình thủy điện, thủy lợi sẽ được Ủy ban Dân tộc của QH giám sát và báo cáo tại kỳ họp QH vào tháng 5.2009 tới.

    Xuân Toàn

  • Ngày thương binh liệt sĩ có từ bao giờ?

    Chiến tranh đã qua đi, đất nước hòa bình, nhưng những đau thương mất mát mà chiến tranh để lại thì không gì bù lấp được. Chúng ta chỉ biết tưởng nhớ những người đã khuất, đã bị thương trong cuộc chiến bằng lòng biết ơn, sự kính trọng lớn lao. Hàng năm, cứ đến ngày 27/7, đồng bào cả nước, lại nhớ về những người lính đã quên mình vì hạnh phúc của nhân dân, vì tương lai của đất nước …

    Sau khi Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Khi chính quyền cách mạng đang còn non trẻ thì thực dân Pháp âm mưu trở lại xâm lược nước ta. Kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, giữ gìn độc lập tự do, quân và dân ta ở những nơi thực dân Pháp gây hấn đã chiến đấu anh dũng, chặn lại bàn tay đẫm máu của thực dân xâm lược. Trong cuộc chiến đấu này, nhiều chiến sĩ đồng bào ta đã bị thương, có người đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường. Nhiều gia đình cùng một lúc phải mất đi cả chồng và các con ngoài mặt trận. Nhiều người vợ trẻ chỉ được hưởng hạnh phúc vợ chồng chưa trọn một ngày, rồi góa bụa cả đời. Khỏi phải nói những thiệt thòi mất mát, nỗi buồn tủi của những người còn sống khi người thân mất đi. Nhưng cũng chính bằng lòng tiếc thương vô hạn ấy, người sống tự nói với lòng mình rằng: "Hãy sống sao cho xứng với người đã khuất". Và rồi đã như thành truyền thống, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã dành tình thương yêu của mình chăm sóc các gia đình liệt sĩ, anh chị em thương binh, bệnh binh một cách tận tình chu đáo.

    Chiều ngày 28/5/1946, Hội "Giúp binh sĩ bị nạn" tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng tại Nhà hát thành phố Hà Nội và Hồ Chủ Tịch đã tới dự. Chiều ngày 11/7/1946, tại Nhà hát này đã có một buổi quyên góp quần áo, giầy mũ cho chiến sĩ ngoài mặt trận, mở đầu cuộc vận động " mùa đông chiến sĩ". Tại đây, Bác Hồ đã cởi chiếc áo rét đang mặc để tặng binh sĩ. Ngày 19/12/1946, kháng chiến Toàn quốc bùng nổ, chiến tranh lan ra nhiều vùng, số người bị thương, bị hy sinh tăng lên. Đời sống của chiến sĩ gặp nhiều khó khăn thiếu thốn. Trong tình hình ấy, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định nhiều chính sách quan trọng về công tác thương binh liệt sĩ, góp phần đảm bảo đời sống vật chất tinh thần cho các gia đình chính sách trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến. Tháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Tổng Hội Phụ nữ cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha thông tin tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ – Thái Nguyên. Nội dung cuộc họp là thực hiện chỉ thị của Hồ Chủ Tịch chọn ngày kỷ niệm Thương binh Liệt sĩ và bảo vệ công tác thương binh liệt sĩ. Sau khi xem xét, Hội nghị đã nhất trí lấy ngày 27/7/1947 làm ngày Thương binh toàn quốc, là dịp để đồng bào "tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh". Ngày 27/7/1947, một cuộc mít tinh quan trọng đã được diễn ra tại Thái Nguyên (có 2000 người tham gia). Tại đây Ban tổ chức đã trịnh trọng đọc thư của Hồ Chủ Tịch. Người đã gửi tặng một chiếc áo lụa, một tháng lương và một bữa ăn của nhân viên trong Phủ Chủ tịch. Từ năm 1947, ngày Thương binh được tổ chức thường kỳ hàng năm. Năm nào vào dịp này, Hồ Chủ Tịch cũng có thư và quà gửi anh chị em thương binh và các gia đình liệt sĩ. Tháng 7/1954 sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Đảng và Nhà nước ta càng đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề chiến sĩ, gia đình liệt sĩ và công tác thương binh. Và từ năm 1955, ngày 27/7 – ngày Thương binh được đổi thành ngày Thương binh Liệt sĩ.

    Trong thư gửi Ban thường trực của Ban tổ chức ngày Thương binh toàn quốc (ngày 27/7/1947), Bác Hồ viết: "Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe doạ, của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập, ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh". Tư tưởng, tình cảm đó của Người lại được thể hiện trong lời kêu gọi, nhân ngày 27/7/1948: "Khi nạn ngoại xâm ào ạt đến, nó như một trận lụt to. Nó đe dọa tràn ngập cả non sông Tổ quốc. Nó đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản, chìm đắm cả bố mẹ, vợ con của nhân dân ta. Trước cơn nguy hiểm ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta đã dũng cảm xông ra mặt trận. Họ quyết tâm đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào. Họ quyết hy sinh tính mệnh để giữ tính mệnh đồng bào. Họ quyết hy sinh gia đình và tài sản họ để bảo vệ gia đình và tài sản đồng bào. Họ quyết liều chết chống địch để cho Tổ quốc và đồng bào sống. Họ là những chiến sĩ anh dũng của chúng ta. Trong đó có người đã bỏ lại một phần thân thể ở mặt trận, có người đã bỏ mình ở chiến trường. Đó là thương binh, đó là tử sĩ…" Trải qua hàng chục năm ròng chiến đấu cho lý tưởng "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" mà Đảng và Bác Hồ đã chỉ ra, hàng triệu đồng bào, đồng chí đã hy sinh cả cuộc đời mình, hàng chục vạn người đã cống hiến một phần thân thể của mình, những mất mát ấy không thể bù đắp được.

    Thấu hiểu những hy sinh to lớn đó, Người viết: "Máu đào của các liệt sĩ đã nhuộm lá cờ cách mạng càng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do". Cho nên đối với "những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng", và Người giải thích: "Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy, mọi người phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả khó khăn, gian khổ hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã để lại".

    Bác Hồ còn thường xuyên viết thư thăm hỏi thương binh, gia đình liệt sĩ, nhắc nhở trách nhiệm và động viên, biểu dương các địa phương, các đơn vị và cá nhân đã hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ. Tháng 11/1946, trong thư gửi các địa phương, Người viết: "Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cám ơn những chiến sĩ đã hy sinh tính mệnh cho nền tự do, độc lập và thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái cho các gia đình liệt sĩ đó và tôi nhận các con liệt sĩ làm con nuôi của tôi…". Tháng 2/1948, Người gửi thư dặn dò các cháu nhi đồng phát động công tác Trần Quốc Toản, với những tình cảm thiết tha: "… Bác không phải mong các cháu tổ chức những "Đội Trần Quốc Toản" để đi đánh giặc và lập nhiều chiến công, nhưng mà cốt để tham gia kháng chiến, bằng cách giúp đỡ đồng bào. Từ 5 đến 10 cháu tổ chức thành một đội, giúp nhau học hành. Khi học rảnh, mỗi tuần mấy lần cả đội đem nhau đi giúp đồng bào. Trước thì giúp các nhà chiến sĩ, các thương binh, lần lượt giúp những nhà ít người. Sức các cháu làm được việc gì thì giúp việc ấy". Tháng 7 /1951, Người phát động phong trào "Đón thương binh về làng" với nội dung cụ thể: "Chính quyền, đồng bào và các đoàn thể nhân dân trong mỗi xã phải tùy theo sự cố gắng và khả năng chung của mỗi xã mà đón một số anh em thương binh. Giúp lâu dài chứ không phải chỉ giúp một thời gian".

    Và trong dịp Đảng, Chính phủ về Thủ đô sau 9 năm kháng chiến, Người đã dẫn đầu đoàn đại biểu của Đảng, Chính phủ tới đặt vòng hoa ở Đài liệt sĩ. Trong diễn từ tại buổi lễ, Người viết: "Hỡi các liệt sĩ. Ngày mai là năm mới, là ngày đồng bào và bộ đội mừng Chính phủ về Thủ đô. Trong lúc cả nước vui mừng thì mọi người đều thương tiếc các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc. Tôi thay mặt nhân dân, Chính phủ và bộ đội kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn bất diệt của các liệt sĩ. … Một nén hương thanh. Vài lời an ủi". Cảm động biết bao khi một vị Chủ tịch nước, hàng năm cứ đến Ngày Thương binh liệt sĩ lại gửi thư cùng một tháng lương của mình, kèm đó, khi thì một bữa ăn, khi thì một món quà (do đồng bào gửi biếu) để tặng anh em thương binh. Với quan điểm khoa học và đầy tinh thần lạc quan "tàn nhưng không phế", Bác khuyên anh em thương binh: "Khi đã khôi phục sức khoẻ phải hăng hái tham gia công tác sản xuất để trở nên người công dân kiểu mẫu. Bác chúc các gia đinh liệt sĩ trở thành những "gia đình cách mạng gương mẫu".

    Đã 61 năm trôi qua kể từ Ngày Thương binh liệt sĩ đầu tiên ấy. Mỗi năm, cứ đến ngày 27/7, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lại nhớ đến Bác – Người cha già của dân tộc và thêm tự hào về bước phát triển của công tác thương binh, liệt sĩ theo tư tưởng và sự chỉ đạo của Người.

    Hàng năm, ngày thương binh, liệt sĩ 27/7 đã trở thành một ngày toàn dân tưởng nhớ, tri ân những người có công với nước. Đảng và Nhà nước đã có những chính sách ưu đãi về cả vật chất lẫn tinh thần đối với người có công cũng như gia đình và con em của họ. Nhưng tưởng nhớ, tri ân với người có công với nước không chỉ một ngày, một đợt, một lễ kỷ niệm mà cần hơn là những việc làm thiết thực, thường xuyên để giúp gia đình con em những người đã hi sinh, mang thương tật vơi bớt khó khăn trong cuộc sống. Phải coi ngày 27/7 hàng năm là ngày lễ tri ân những người có công với nước, ngày mà những người còn sống mãi mãi không được quên. Mặt khác, phải thể hiện lòng tri ân một cách thiết thực, hiệu quả trong suốt năm, coi việc mình làm cho thân nhân liệt sĩ, thương binh là làm thay những người con ưu tú đã hi sinh vì Tổ quốc, vì mình, vì cả dân tộc Việt Nam.

    Đ.P.T. -Theo Web Thành Đoàn HCM