Để xem thông tin chi tiết xin bấm vào đây:
Biên bản ghi nhớ về hợp tác giữa UBND Tỉnh Sóc Trăng và Trường Đại học Thủy Lợi.
Để xem thông tin chi tiết xin bấm vào đây:
Biên bản ghi nhớ về hợp tác giữa UBND Tỉnh Sóc Trăng và Trường Đại học Thủy Lợi.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định tặng Bằng khen cho 24 đơn vị vì đã có nhiều thành tích trong công tác Hợp tác Quốc tế và Khoa học Công nghệ giai đoạn 2001 – 2006 (Quyết định số 2902/QĐ-BGDĐT ngày 06 tháng 6 năm 2007). Trường Đại học Thủy lợi vinh dự là một trong 24 trường này.
Quyết định số 2902/QĐ-BGDĐT ngày 06 tháng 6
năm 2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Sáng Thứ Sáu ngày 14-01-2011, PGS.TS Trịnh Minh Thụ – Phó Hiệu trưởng Nhà trường đã có buổi tiếp GS Jean Marchall – Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Liège – Vương quốc Bỉ. Tham dự buổi làm việc còn có TS Nguyễn Trung Dũng – Cố vấn Khoa học của ĐH Liège và đại diện Phòng Hợp tác quốc tế Trường Đại học Thủy lợi.
![]() |
PGS.TS Trịnh Minh Thụ - Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Thủy lợi tiếp đoàn ĐH Liège |
Cuối năm 2010, được sự cho phép của Bô giáo dục Đào tạo, Trường Đại học Thủy lợi và Trường Liège – Bỉ đã liên kết tổ chức đào tạo chương trình sau đại học trình độ thạc sỹ chuyên ngành Công trình thủy bền vững tại Cơ sở 2 – Số 2 Trường Sa – P17 – Quận Bình Thạnh – TP HCM. Chương trình gồm 60 tín chỉ châu Âu, được đào tạo trong thời gian 18 tháng và giảng dạy bằng Tiếng Anh.
GS Marchall đã bày tỏ niềm vinh dự được Trường Đại học Thủy lợi lựa chọn là đối tác triển khai chương trình này, ông cũng đánh giá rất cao tầm quan trọng của chương trình đào tạo thạc sỹ bằng tiếng Anh giữa ĐH Thủy lợi và ĐH Liège và hy vọng những hợp tác này sẽ tiếp tục được phát triển trong tương lại. Đại diện ĐH Liège hứa sẽ gửi những giáo sư giỏi nhất sang Việt
Sau lời chào mừng và cảm ơn GS Marchall đã giành thời gian quý báu đến thăm và làm việc với trường, PGS.TS Trịnh Minh Thụ cho biết chương trình đào tạo thạc sỹ lien kết với ĐH Liege mang ý nghĩa đặc biệt quan trong đối với Nhà trường cũng rất cần thiết trong tình hình Việt nam đang chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu hiện nay. Chương trình ra đời đúng lúc, là một trong những chương trình cốt lõi của Đại học Thủy lợi. Phó Hiệu trưởng cảm ơn ĐH Liège đã quan tâm và hỗ trợ xây dựng chương trình thạc sĩ bằng tiếng Anh đầu tiên của ĐH Thủy lợi tại CS2 cùng các giáo sư trường bạn đã rất nhiệt tình sang Việt Nam giảng dạy.Hiện nay chương trình đã bắt đầu triển khai Module 1 và tất cả học viên đều rất hài lòng với chương trình. Về giải pháp nâng cao trình độ tiếng Anh cho các học viên, Trường Đại học Thủy lợi đang có ý định cấp học bổng cho một số sinh viên của Lào, Campuchia hoặc một số nước lân cận vào tham gia chương trình với mục đích thúc đẩy tinh thần học tập của sinh viên VN, đặc biệt là thúc đẩy ý thức tự giác sử dụng tiếng Anh trong học tập của sv. Ngoài ra, trường thường xuyên đón tiếp các sinh viên từ Châu Âu (TU Delft – Hà Lan, Bỉ… ) đến thực tập tại trường , sắp xếp cho sinh viên chương trình thạc sĩ tiếp xúc với họ để trao đổi kiến thức và giao lưu văn hóa. Ngoài ra Nhà trường cũng sẽ tạo điều kiện hơn nữa cho các giảng viên tại Hà Nội có cơ hội giao lưu gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm kiến thức với các giáo sư nước ngoài.
Cố vấn khoa học ĐH Liege – TS Nguyễn Trung Dũng cũng phát biểu khẳng định sự thành công của chương trình, các học viên học tập đều đặn và tích cực, đồng thời ủng hộ ý tưởng mở rộng chương trình với sự tham gia của các sinh viên nước khác trong khu vực Đông Nam Á, thậm chí là Châu Á.
Tất cả thống nhất rằng chương trình đào tạo thạc sĩ hiện đang triển khai tốt đẹp là một nền móng vững chắc để hai bên có thể tiếp tục nghĩ tới những kế hoạch phát triển cao hơn trong tương lai, chẳng hạn như xây dựng một trung tâm đào tạo hoặc nghiên cứu mang tầm khu vực và quốc tế. Trước mắt, ĐH Liège sẽ xem xét gửi sinh viên của mình đến tham gia vào chương trình đào tạo thạc sĩ để thúc đẩy hiệu quả và chất lượng của chương trình.
Hà Linh Ngọc

Trong khuôn khổ hợp tác của dự án nâng cao năng lực đào tạo ngành kỹ thuật bờ biển, pha 2 do chính phủ Hà Lan tài trợ. Công tác giáo trình là một trong những mục tiêu được quan tâm trợ giúp hàng đầu. Nhóm công tác của Bộ môn Địa kỹ thuật – Khoa Công trình thực hiện viết 2 cuốn giáo trình chuyên ngành Địa kỹ thuật do PGS.TS Phạm Hữu Sy và ThS Hoàng Việt Hùng đã có chuyến công tác trong thời gian hai tháng rưỡi tại Technology University of Delft – Netherlands ( TU Delft) từ ngày 14/04/2007 đến 30/6/2007. Đợt một của công tác giáo trình thuộc pha 2 này là phía bạn trợ giúp cho ta hai cuốn giáo trình là Cơ học đất và Địa chất Thuỷ văn nước ngầm. Với tiêu chí tiếp cận chương trình của bạn bao gồm thời lượng, nội dung và tiêu chí đánh giá kết quả học tập của sinh viên, trong quá trình viết sách, nhóm công tác đã có những trao đổi hàng ngày với các GS của bộ môn Địa kỹ thuật-TU Delft để chọn lựa những thông tin phù hợp nhất cho cuốn sách. Được sự giúp đỡ nhiệt tình của các chuyên gia phía bạn, cụ thể là GS Barends, TS Uffilk và TS Stefan Van Baars cùng các thành viên trong Bộ môn phía bạn. Nhóm công tác đã hoàn thành đúng tiến độ cho hai cuốn giáo trình nêu trên với chất lượng được bạn đánh giá cao.
Ảnh 1: Giảng đường sinh viên với sức chứa 250 chỗ |
Bên cạnh nhiệm vụ viết giáo trình, nhóm công tác còn có những trao đổi, tìm hiểu về công tác đào tạo, công tác quản lý và NCKH phục vụ sản xuất của trường bạn. Đối với công tác đào tạo, cơ sở vật chất của bạn đã đáp ứng được mục tiêu đào tạo theo học chế tín chỉ. Giảng đường thường với sức chứa khoảng 250 sinh viên với đầy đủ thiết bị máy chiếu, âm thanh và bảng viết (Ảnh 1). Khi giảng lý thuyết sinh viên có thể tập trung rất đông và chỉ cần 1 thầy giảng, sau đó họ được chia thành nhóm để làm bài tập hoặc bài tập nhóm dưới sự trợ giúp của các Tutorial. Sinh viên có một khu vực riêng để làm bài tập, đọc sách hoặc trao đổi bài tập theo nhóm của mình (Ảnh 2). Khu vực này gần thư viện, có phục vụ cà phê và đặc biệt là được trang trí với màu sắc, hình thái riêng rất phù hợp với sự sôi động của tuổi trẻ. Nhưng cũng không bỏ qua yêu cầu giữ cho mình một không gian riêng yên tĩnh nếu ai có nhu cầu. Giữa các bàn đều bố trí tường ngăn, tường ngăn không cao, chỉ đủ che khuất đầu khi bạn ngồi nhưng không gây mất không gian khi bạn đứng. Nhìn chung khi giảng lý thuyết cho sinh viên, trường bạn cần rất ít giáo viên( có môn chỉ cần một thầy). Nhân lực còn lại phục vụ cho việc trợ giúp sinh viên làm việc theo nhóm và kiểm tra đánh giá sinh viên.
Ảnh 2: Khu vực dành cho sinh viên tự học hoặc làm việc theo nhóm |
Được sự giúp đỡ của GS Barends, nhóm công tác đã có dịp tham quan GeoDelft, GeoDelft là một Viện Địa kỹ thuật của Hà Lan, chuyên nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất trong lĩnh vực Địa kỹ thuật. Là một Viện chuyên ngành lớn nhất của Hà Lan, GeoDelft được thành lập 70 năm trước đây và hiện nay có 250 cán bộ nghiên cứu và nhân viên kỹ thuật. Kể từ khi thành lập cho đến nay GeoDelft đã thực hiện trên 40 ngàn dự án xây dựng liên quan về Địa kỹ thuật tại Hà Lan và trên thế giới. Với đội ngũ đông đảo cán bộ kỹ thuật có chuyên môn sâu và đa lĩnh vực, cùng với hệ thống thiết bị hiện đại, GeoDelft cũng là nơi duy nhất của Hà Lan đào tạo các chuyên gia Địa kỹ thuật cho Hà Lan và thế giới. Tại buổi làm việc của nhóm công tác với GS Barends, ông cũng bày tỏ mong muốn hợp tác hơn nữa đối với Việt Nam trong lĩnh vực đào tạo và triển khai các dự án nghiên cứu và nhấn mạnh rằng Việt Nam là một trong sáu nước có quan hệ gần gũi nhất với Hà Lan.
Ảnh 3: Thư viện của khoa Xây dựng |
Buổi làm việc cuối cùng của nhóm công tác với GS A.F.Van Tol- Trưởng Bộ môn Địa kỹ thuật- Khoa xây dựng – Đại học Công nghệ Delft – Hà Lan và GS Van Tol cũng là Phó giám đốc của GeoDelft. GS Van Tol mong muốn ngày càng có nhiều sinh viên Việt
Ảnh 4: Trao đổi công việc hàng ngày với đồng nghiệp phía bạn |
Năm tới dự án HL pha 2 sẽ có kế hoạch viện trợ khoảng 60.000 Euro tiền thiết bị cho phòng thí nghiệm Địa kỹ thuật của Đại học Thuỷ lợi. Nhóm công tác đã cảm ơn chân thành với GS và qua ông cho gửi lời cảm ơn tới tất cả các thành viên của Bộ môn vì những giúp đỡ quý báu để nhóm công tác hoàn tốt nhiệm vụ của mình. Hy vọng cả hai bên sẽ có những hợp tác đào tạo và chuyển giao công nghệ được triển khai trong những năm tới.
Một lần nữa, nhóm công tác xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của GS Van Tol, GS Barends, TS Stefan van Baars, TS Uffilk, các thành viên Bộ môn Địa kỹ thuật – Khoa xây dựng – Đại học công nghệ Delft – Hà Lan và các thầy giáo đang làm NCS tại Hà lan như thầy Nghiêm Tiến Lam, thầy Mai Văn Công, thầy Trần Thanh Tùng cùng các thầy giáo của Đại học Xây dựng, đại học Hàng hải đã có những hỗ trợ kỹ thuật thiết yếu trong việc thu thập tài liệu chuyên nghành của nhóm công tác.
Dưới đây là một số hình ảnh mà nhóm công tác đã thực hiện trong thời gian làm việc tại Bộ môn Địa kỹ thuật – Khoa Xây dựng – Đại học Công nghệ
Hoàng Việt Hùng
Một số hình ảnh trong chuyến công tác:
Ảnh 5: Một góc thư viện trung tâm của TU Delft |
Ảnh 6: Tham quan thí nghiệm trong phòng của GeoDelft |
Ảnh 7: Tham quan phòng thí nghiệm Vi sinh vật của GeoDelft |
Ảnh 8: Mẫu đất cát dưới tác dụng của Vi sinh vật đã có sức chống cắt tăng gấp 25 lần so với đất cát cùng loại ở điều kiện thường( Sản phẩm NC của GeoDelft) |
Ảnh 9: Thiết bị ly tâm địa kỹ thuật- dùng cho thí nghiệm mô hình và cũng là thiết bị lớn nhất thế giới tính đến thời điểm hiện tại.( GeoDelft) |
Ảnh 10: Làm việc với Giáo sư Van Tol- Trưởng Bộ môn Địa kỹ thuật |

Nhật Bản là một nước Châu Á phát triển, họ luôn là một trong những nước dẫn đầu về mặt công nghệ. Việt
Hội thảo này được thực hiện bởi Trường Đại học Thủy lợi và công ty Nikken Kogaru – Nhật Bản. Tham dự Hội thảo có đông đảo các đại biểu đến từ Vụ khoa học công nghệ, cục Quản lý công trình, Tổng cục Thủy lợi, Viên khoa học Thủy lợi – Bộ Nông nghiệp & PTNT; Tổng cục biển – Bộ tài nguyên Môi trường; Tổng cục hàng hải – Bộ Giao thông vận tải; các trường Đại học như: Đại học Xây dựng, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Hàng hải, Đại học Giao thông vận tải, Đại học Quân sự…Còn là sự góp mặt của Đại sứ quán Nhật tại Việt Nam, các Giáo sư đầu ngành về xây dựng công trình thủy, các khoa Kỹ thuật biển, khoa Công trình, Thủy văn và tài nguyên nước, Kỹ thuật tài nguyên nước thuộc Trường Đại học Thủy lợi và đại diện lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi – đơn vị đồng tổ chức PGS.TS Trịnh Minh Thụ – Phó Hiệu trưởng Nhà trường.
![]() |
Các đại biểu tham dự Hội thảo |
Mục đích của cuộc hội thảo này đó là sự chia sẻ kinh nghiệm giữa các chuyên gia đến từ Nhật Bản, và các chuyên gia của Việt Nam trong việc thiết kế và xây dựng các công trình bờ biển, trong đó phía Nhật đã trình bày các báo cáo như: Thiết kế các công trình biển trong điều kiện biến đổi khí hậu của GS.TS Hiraishi đến từ Đại học Kyoto; giới thiệu các sản phẩm mới bảo vệ các công trình bờ biển của ông Matsushita đến từ công ty Nikken Kogaku….phía Việt Nam có báo cáo của PGS.TS Vũ Minh Cát – Khoa kỹ thuật Biển – Đại học Thủy lợi về Tổng quan về bờ biển Việt Nam và diễn biến hình thái bờ biển; của TS. Mai Văn Công – Khoa Kỹ thuật Biển – Đại học Thủy lợi về ý tưởng đề án đê biển Vũng Tàu – Gò Công.
![]() |
Các đại biểu tham dự Hội thảo đang lắng nghe các báo cáo. |
Các báo cáo được trình bày và thảo luận tại hội thảo để tìm ra những phương hướng tốt nhất, áp dụng cho bờ biển của Việt
Hội thảo chỉ kéo dài trong buổi sáng nhưng những kết quả mà nó để lại là rất lớn. Chúng ta hy vọng trong tương lai, với các nghiên cứu và áp dụng vào thực tế của các chuyên gia, các Giáo sư đầu ngành, các công trình bảo bệ bờ biển thật sự mang lại hiệu quả cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Anh Nguyễn

Với mục tiêu mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và hội nhập, từ 26-30/3/2007 theo lời mời của Hiệp hội Giáo dục và Nghiên cứu ngành nước (Partnership of Water Education and Research, PoWER) thuộc Viện UNESCO-IHE (Hà Lan), PGS.TS Lê Đình Thành, phó hiệu trưởng trường ĐHTL đã tham dự Hội thảo về “Đổi mới giáo dục” (Innovation in Education) của PoWER tổ chức tại Viện Giáo dục về lĩnh vực nước (IHE).
PGS.TS Lê Đình Thành làm việc với Giám đốc UNESCO-IHE, GS. Richard A. Meanck |
Hội thảo đã trao đổi và thảo luận về các giải pháp, phương pháp đổi mới trong đào tạo như E-learning, thiết kế các khóa học, các chương trình đào tạo theo các modul, nâng cao năng lực cá nhân trong làm việc theo nhóm, tìm kiếm dự án, và nhiều vấn đề khác liên quan đến nâng cao chất lượng đào tạo của các thành viên Hiệp hội PoWER.
Hiệp hội PoWER là một hội nghề nghiệp về đào tạo và nghiên cứu, có nhiệm vụ trợ giúp các trường thành viên phát triển đào tạo và nghiên cứu các lĩnh vực liên quan đến nước. Đến này Hiệp hội đã có 18 thành viên (trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm đào tạo) của 15 nước từ các châu lục.
Trong chuyến công tác này, ngoài việc tham gia Hội thảo, PGS.TS Lê Đình Thành đã có các buổi làm việc với Giám đốc Hiệp hội PoWER về sự phát triển của trường ta, về mong muốn của trường gia nhập Hiệp hội, và tìm hiểu các công việc chuẩn bị khác. Giám đốc Viện UNESCO-IHE đã tiếp và làm việc với PGS.TS Lê Đình Thành về triển vọng nâng cao tầm hợp tác giữa ta (WRU) với UNESCO-IHE trong đào tạo và nghiên cứu lĩnh vực về nước. Kết quả các buổi làm việc rất tốt, UNESCO-IHE và PoWER sẵn sàng hợp tác và tạo điều kiện để trường ta nhanh chóng trở thành thành viên chính thức của PoWER và mở rộng hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu. Một số vấn đề đào tạo, nghiên cứu với các trường đại học khác của Hiệp hội cũng được trao đổi để thiết lập các mối quan hệ. Nhiều tài liệu về đào tạo, nghiên cứu trong môi trường mới như E-learning, I-Learning Environment đã được Hiệp hội PoWER chuyển giao cho trường ĐHTL.
Lê Đình Thành
Ý TƯỞNG DỰ ÁN TUYẾN ĐÊ BIỂN VŨNG TÀU – GÒ CÔNG
![]() |
| GS.TS. Đào Xuân Học-Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy Lợi, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Thủy Lợi |
1.Đặt vấn đề
Dự án đê biển từ Vùng Tàu đến Gò Công liên quan trực tiếp đến vùng đất trũng thấp thuộc lưu vực sông Vàm Cỏ và hệ thống sông Đồng Nai, bao gồm khu vực Đồng Tháp Mười và khu vực thành phố Hồ Chí Minh.
Khu vực TP. Hồ Chí Minh nằm ở vùng cửa nhiều con sông lớn thuộc hệ thống sông Đồng Nai, sát với biển nên chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những biến động dòng chảy trên sông, dòng triều trên biển, trong đó ảnh hưởng của biển mang tính thống trị. Địa hình thấp trũng, hướng ra biển với trên 60% đất đai thành phố có cao trình thấp dưới 2m, những vùng trũng thấp có cao trình từ 0m đến 0.5m là những vùng ngập triều thường xuyên đất hoang hóa. Nhiều hồ chứa lớn đã và đang được xây dựng ở thượng lưu, lượng lũ được giữ lại, lưu lượng bình quân muầ lũ giảm nhiều, nên dòng chảy trong sông yếu dần. Ngược lại dòng triều tác động ngày càng mạnh lên và đang có xu thế ngày càng gia tăng, vấn đề xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt đã và đang xảy ra nghiêm trọng trên sông Sài Gòn, ảnh hưởng trực tiếp đến nhà máy cấp nước cho thành phố. Việc san lấp các vùng trũng lấy đất xây dựng, xây dựng đê ngăn lũ, ngăn triều, ngăn mặn dọc sông làm tập trung dòng chảy, dòng triều vào trong sông, làm dâng cao mức nước đỉnh triều và hạ thấp mức nước chân triều. Biên độ triều tăng dẫn đến năng lượng triều gia tăng, thời gian truyền triều từ biển vào rút ngắn, dòng chảy trên sông bị dồn nén, xói lở bờ gia tăng, khả năng tiếp nhận nước mưa từ hệ thống tiêu không thuận lợi. Cùng với tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng làm cho vấn đề ngập úng của TP. HCM ngày càng thêm trầm trọng.
Vùng Đồng Tháp Mười ĐTM cũng là vùng trũng thấp khó thoát nước, xu hướng ngập lũ trong nội đồng ngày càng gia tăng về chiều sâu ngập và thời gian ngập. Việc tiêu nước ra sông Tiền ngày càng hạn chế do chiều dài kênh dẫn nước ngày càng dài do các khu dân cư tiếp tục phát triển sâu vào vùng Đồng tháp Mười. Hướng tiêu thuận lợi cho vùng ĐTM là sông Vàm Cỏ, tuy nhiên do tác động của nước biển dâng, sự gia tăng của động năng dòng triều nên vấn đề tiêu thoát theo hướng này cũng ngày càng khó khăn. Nhiều vùng chua phèn của tỉnh Long An vẫn chưa được giải quyết, môi trường vùng giáp nước không được cải thiện. Vấn đề xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt xảy ra thường xuyên tác động lớn đến sản xuất của Tỉnh Long An. Vào mùa khô phải xả nước từ hồ Dầu Tiếng xuống sông Vàm Cỏ để đẩy mặn là giải pháp tình thế không phù hợp về dài lâu. Hệ thống thủy lợi Gò Công đã được hoàn chỉnh, tuy nhiên những năm qua nước mặn xâm nhập bao quanh toàn hệ thống dẫn đến tình trạng thiếu nước ngọt và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Vấn đề biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã và đang tác động mạnh mẽ tới vấn đề xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt ở tỉnh Long An trên sông Vàm Cỏ, ở hệ thống thủy lợi Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang, ở TP. HCM trên sông Sài Gòn, tác động đến vấn đề úng ngập của TP. HCM, đến vấn đề ngập lũ của vùng ĐTM. Mưa cực đoan trên lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn và tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, kết hợp triều cường – nước biển dâng sẽ càng gây sức ép đến hệ thống tiêu thoát nước làm gia tăng tình trạng ngập lụt cho Thành phố.
Để giải quyết tình trạng ngập úng do triều và lũ ở TP. HCM, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trình Chính phủ phê duyệt quy hoạch với việc xây dựng hệ thống đê bao và cống ở các kênh lớn ven bờ hữu sông Sài Gòn, Nhà Bè, Soài Rạp và bờ tả sông Vàm Cỏ và Vàm Cỏ Đông. Quy hoạch chủ yếu tập trung giải quyết vùng đô thị đông dân cư, các vùng còn lại sẽ được giải quyết và xem xét ở giai đoạn II. Trong giai đoạn II trong chương trình chống ngập úng cho TP.HCM cần phải xây dựng cống lớn trên sông Lòng Tàu và Soài Rạp. Để giải quyết vấn đề xâm nhập mặn, trữ ngọt và tăng cường khả năng thoát lũ cho vùng ĐTM trên sông Vàm Cỏ, chúng ta cũng cần sớm xây dựng cống lớn trên sông Vàm Cỏ. Chương trình đê biển tử Quảng Ngãi đến Kiên Giang đã được Chính phủ phê duyệt và đang thực hiện. Đê biển thuộc khu vực Thành phố Hồ Chí Minh cũng rất cần được xây dựng ngay nhưng đang khó khăn trong việc lựa chọn phương án tuyến vì hệ thống kênh rạch lớn quá nhiều.
Việc xây dựng tuyến đê biển từ Vũng Tàu đến Gò Công là công trình sẽ đem lại hiệu ích tổng hợp cho phát triển kinh tế xã hội trong vùng và vùng miền Tây Nam Bộ.
2. Mục tiêu của dự án
Chống lũ lụt và ngập úng cho toàn vùng TP. Hồ Chí Minh trước mắt và lâu dài, tăng cường khả năng thoát lũ, chống ngập úng, chống xâm nhập mặn cho TP. Hồ Chí Minh và vùng ĐTM trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng; phòng chống thiên tai và các tác động từ biển cho toàn bộ khu vực TP. Hồ Chí Minh và vùng ĐTM, rút ngắn khoảng cách giao thông, tạo sự liên kết giữa các tỉnh miền Tây với Vũng Tầu và các tỉnh ở Nam Trung Bộ, mở rộng các khu đô thị mới cho TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, phát triển du lịch, điện năng và phát triển kinh tế xã hội cho khu vực.
3. Nội dung đề xuất dự án
Xuất phát từ nhu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, quản lý nước và phát triển bền vững kinh tế xã hội trong vùng, dự án đê biển bao gồm một tuyến đê dài 32 km, xuất phát từ Vũng Tàu đến Gò Công, chiều sâu nước trung bình 6 m, nơi sâu nhất 12m và một cống kiểm soát triều, thoát lũ và các âu thuyền phục vụ giao thông thủy, mặt đê rộng 50m. Sau khi đê được xây dựng sẽ tạo được một hồ chứa với diện tích mặt nước 56.000ha chưa kể diện tích bán ngập, dung tích hồ chứa khoảng 3,3 tỷ m3 chưa kể khối lượng nước ở trong các sông khoảng gần 2 tỷ m3, trục giao thông kết nối Vũng Tàu với miền Tây.
4. Những tác động tích cực của dự án
a. Chống lũ, chống ngập lụt và các thiên tai từ biển: Thông qua cống kiểm soát triều ở đê, ta có thể khống chế mực nước trong hồ theo yêu cầu; với diện tích mặt nước 56.000ha và dung tích hồ chứa 3,3 tỷ m3, ta có thể chứa lũ, chứa nước mưa khi triều lên, khi triều rút thì xả nước mưa và lũ, như vậy khả năng thoát lũ của các sông sẽ tăng lên tạo điều kiện thoát lũ vùng ĐTM và khu vực TP.HCM, theo kết quả tính toán sơ bộ tổng lượng nước được tiêu sẽ tăng lên xấp xỉ 2 lần trong cùng một đơn vị thời gian. Do đó mực nước trên sông sẽ được hạ thấp, tạo điều kiện tăng khả năng thoát nước mưa từ hệ thống cống rãnh trong thành phố. Con đê lớn và bền vững có thể ngăn chặn tất cả các loại thiên tai từ biển như bão, sóng thần, nơi tránh trú bão cho các loại tầu thuyền ở khu vực.
b. Kiểm soát mặn: Đỉnh triều cao là nguyên nhân chính gây nên tình trạng xâm nhập mặn, do chủ động kiểm soát được mực nước trong hồ, nên tình trạng xâm nhập mặn sẽ không sâu vào đất liền và có thể khống chế theo mong muốn.
c. Tạo ra trục giao thông thuận lợi kết nối các vùng: Hiện nay từ các Tỉnh miền Tây đi Vũng Tàu phải lên TP.HCM và từ TP Hồ Chí Minh đi Vũng Tàu dài 116 km đường bộ. Khi trục đê biển hình thành, từ thị xã Tiền Giang đi đến Vũng Tàu chỉ còn 70km. Đặc biệt khi tuyến đê biển kết hợp với đường giao thông ven biển được thi công xong sẽ tạo sự kết nối rất thuận lợi dọc theo đường biển từ Phan Rang – Phan Thiết – Vũng Tàu – các tỉnh miền Tây Nam bộ. Tạo quỹ đất rộng rãi dọc hai bên đê để xây dựng cảng biển cho Vũng Tàu, Tiền Giang và các tỉnh trong vùng.
d. Tạo quỹ đất để phát triển: Với diện tích 56.000 ha mặt nước mới được tạo ra và còn khoảng 5.000ha vùng trũng thấp bán ngập ven hồ, ven sông chưa được sử dụng, chúng ta sẽ dành một phần đất để phát triển các khu công nghiệp, du lịch, dịch vụ và các khu đô thị thuộc thành phố Vũng Tàu, Tp. HCM, Tiền Giang và Long An. Riêng TP. HCM diện tích vùng trũng thấp khoảng gần 100.000ha chưa được khai thác, hoặc khai thác chưa hiệu quả sẽ trở thành vùng đất màu mỡ hoặc phát triển đô thị, mở rộng thành phố ra phía biển một cách rất an toàn.
Bà Rịa – Vũng Tàu có một vị trí thuận lợi cho việc phát triển du lịch, được đánh giá là một trong những điểm du lịch trọng tâm của đất nước. Sau khi xây dựng xong đê, có thể tiến hành xây dựng khu đô thị an toàn giữa hồ chứa sẽ tạo khu du lịch độc đáo và hấp dẫn, vừa có cảnh quan độc đáo vừa có môi trường sinh thái tự nhiên đặc biệt.
e. Sử dụng năng lượng thuỷ triều, điện gió: Hiện nay trên thế giới đang khuyến khích sử dụng năng lượng sạch, dự án sẽ sử dụng dung tích của hồ để khai thác năng lượng thuỷ triều phục vụ phát triển kinh tế xã hội trong vùng. Theo tính toán sơ bộ nếu đầu tư xây dựng trạm thủy điện sử dụng năng lượng thủy triều có thể đem lại: Công suất lắp máy khoảng 300.000kw, điện lượng 2,0 *109 kwh đã trừ 3 tháng mùa lũ không điều hành phát điện. Ngoài ra dọc theo tuyến đê có thể bố trí một số quạt gió để phát điện.
f. Là nơi dự trữ nguồn nước ngọt trong tương lai: Về lâu dài trong điều kiện BĐKH, những tác động từ phía thượng lưu gây nên cạn kiện về nguồn nước, không đủ nước ngọt cung cấp cho khu vực TP.HCM và vùng ĐTM khi đó ta có chuyển hồ thành hồ nước ngọt để phục vụ cho dân sinh kinh tế trong vùng, khi đó các hệ sinh thái nước lợ sẽ được chuyển dần sang sinh thái nước ngọt. Với khoảng gần 5 tỷ m3 kể cả trong sông chúng ta có thể đảm bảo an ninh về nước trong bất kể sự diễn biến nào ở thượng lưu.
g. Giảm vốn đầu tư xây dựng các cống lớn và hệ thống đê trong khu vực: Xây dựng đê biển và một sống ngăn triều chúng ta giảm được ít nhất 3 cống lớn sẽ phải xây dựng trong thời gian tới: Cống Vàm Cỏ khoảng 800m đã nghiên cứu xây dựng tiền khả thi năm 2005; cống trên sông Lòng Tàu đáy sông sâu 30m, rộng khoảng 300m và Soài Rạp rộng khoảng 3km, sâu khoảng 20m. Cống trên đê sẽ nhỏ hơn ba cống ở trên. Các cống trong dự án chống ngập úng ở TP. HCM sẽ được xem xét lại về sự cần thiết và quy mô trong thời gian tới. Hệ thống đê sông của Long An, hệ thống đê biển của TP.HCM và vùng Gò Công của Tiền Giang khoảng 300km không cần xây dựng mới ở TP. HCM và nâng cấp.
i. Tạo động lực phát triển kinh tế xã hội trong vùng: Những vùng đất rộng lớn được khai thác cho phát triển nông nghiệp, du lịch, dịch vụ, các khu công nghiệp, khu đô thị, tạo sự kết nối và rút ngắn khoảng cách giao thông; toàn vùng sẽ an toàn trước thiên tai từ biển, từ lũ lụt, xâm nhập mặn là tiền đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế xã hội trong vùng.
5. Những tác động tiêu cực
– Về môi trường: Với mục tiêu chính đã nêu ở trên do có cống điều tiết chỉ ngăn đỉnh triều để chống ngập triều, ngập lũ cho thành phố và tăng khả năng tiêu thoát lũ, hồ phía trong đê vẫn là hồ nước mặn nên không ảnh hưởng đáng kể đến hệ sinh thái khu vực bên trong đặc biệt là khu dự trữ sinh quyển rừng Cần Giờ.
– Giao thông thủy: Các tàu thuyền đi vào trong hồ và các sông đều phải đi qua âu thuyền, đây là khó khăn lớn nhất cần quam tâm giải quyết, tuy nhiên với công nghệ hiện nay ta có thể xây dựng nhiều âu thuyền hiện đại không gây ách tắc giao thông thủy trong khu vực.
– Ảnh hưởng đến luồng cá đi, trong thiết kế sẽ bố trí luồng cá đi.
6. Cơ chế thực hiện
Kinh phí xây dựng đê, cống, thủy điện sử dụng năng lượng triều và đường giao thông sẽ chủ yếu do các thành phần kinh tế, các tập đoàn được hưởng lợi từ quỹ đất để xây dựng đô thị, du lịch và các dịch vụ. Nhà nước hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, lập dự án, thiết kế và một phần nhỏ trong xây dựng.

Tuyến đê biển nối Vũng Tàu đến Gò Công
Các thông tin cơ bản về tuyến đê từ Vũng Tàu đến Gò Công
+ Chiều dài tuyến đê: 32.000 m
+ Diện tích mặt mước: 56.000 ha
+ Độ sâu nước trung bình: 6 m, sâu nhất 12m
+ Dung tích hồ chứa: 3.300.000.000 m3 chưa kể trong sông
+ Mặt đê làm trục giao thông rộng 50m, dài 32km
+ Kinh phí ước tính sơ bộ: 30.000.000.000.000 đ
(Theo www.wrd.gov.vn)

Vừa qua, buổi báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư với Italia năm 2006 diễn ra tại Trường Đại học Thuỷ lợi. Tham dự chương trình về phía Ban Giám hiệu Trường Đại học Thuỷ lợi có PGS.TS Lê Đình Thành, PGS.TS Nguyễn Quang Kim, PGS.TS Vũ Thanh Te – Phó Hiệu trưởng Nhà trường; các đại biểu đến từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Khoa học – Công nghệ; Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn Quốc gia và Đại sứ quán Italia tại Việt Nam.
![]() |
Các đại biểu tham dự Hội nghị |
Các đại biểu đã được nghe báo cáo “Hợp tác nghiên cứu xây dựng công nghệ dự báo lũ trung hạn kết nối với công nghệ điều hành hệ thống công trình phòng chống lũ cho đồng bằng sông Hồng – sông Thái Bình” do PGS.TS Vũ Minh Cát trình bày. Tiếp đó là báo cáo các nội dung “Một số kết quả nghiên cứu mô hình dự báo thời tiết tại Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn Trung ương” và “Nghiên cứu về hệ thống khí tượng thuỷ văn nhằm phòng chống lũ cho hệ thống sông Hồng: Kết quả bước đầu” của Th.S Đỗ Lệ Thuỷ và GS.TS Roberto Ranzi (Italia).
Được sự hỗ trợ của Bộ Ngoại giao Italia, Trường Đại học Brescia (Italia) cùng các Bộ, Trung tâm trong nước, tháng 3/2006, PGS.TS Vũ Minh Cát, Trưởng Khoa Kỹ thuật bờ biển cùng các cán bộ Trường Đại học Thuỷ lợi thực hiện đề tài: “Hợp tác nghiên cứu xây dựng công nghệ dự báo lũ trung hạn kết nối với công nghệ điều hành hệ thống công trình phòng chống lũ cho đồng bằng sông Hồng – sông Thái Bình”. Đề tài nhằm xây dựng được công nghệ dự báo lũ trung hạn bằng cách tích hợp công nghệ dự báo mưa thông qua các yếu tố khí tượng và công nghệ dự báo dòng chảy lũ, kết nối được việc dự báo mưa lũ trung hạn với công nghệ điều hành hệ thống hồ chứa lũ đồng bằng sông Hồng – sông Thái Bình. Đề tài có khả năng ứng dụng thực tiễn rất cao, đặc biệt ý nghĩa trong lĩnh vực phòng chống và giảm nhẹ thiên tai. Ngoài dự báo lũ, đề tài còn góp phần xây dựng những mô hình giúp sử dụng hợp lý tài nguyên, nhất là tài nguyên nước, do đó càng cần thiết trong hoàn cảnh Việt Nam đang đối mặt với vấn đề sa mạc hoá hiện nay. Đề tài sẽ kết thúc vào tháng 12/2007.
Bên phía Việt Nam, các đại biểu đánh giá cao sự giúp đỡ của các chuyên gia Italia về mặt kỹ thuật, công nghệ, kinh phí và mong muốn nhận được sự hỗ trợ tiếp theo đặc biệt trong công tác đào tạo, tạo điều kiện cho kỹ sư Việt Nam có điều kiện học tập nâng cao năng lực trình độ, tiếp cận gần hơn nữa với công nghệ tiên tiến trên thế giới. Ngoài ra, để thực hiện thành công đề tài cần sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan trong nước.
Linh Ngọc

Dự nghe báo cáo có nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Trần Minh Sanh, Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang Nguyễn Văn Khang, Phó chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Nguyễn Trung Tín, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An Nguyễn Thanh Nguyên, cùng các cơ quan chuyên môn của các Tỉnh trên. Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Nguyễn Giới tham dự nghe báo cáo.
GS.TS. Đào Xuân Học-Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy lợi, GS. TS. Nguyễn Quang Kim-Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy Lợi, PGS. TS. Tăng Đức Thắng-Viện trưởng Viện KHTL Miền Nam, cùng đại diện các cơ quan nghiên cứu và chuyên môn liên quan của Tổng cục Thủy Lợi đã tham dự và báo cáo về ý tưởng dự án.
Đây là ý tưởng về dự án đê biển từ Vũng tàu đến Gò Công, có liên quan trực tiếp đến cùng đất trũng thấp thuộc lưu vực sông Vàm cỏ và hệ thống sông Đồng Nai, bao gồm khu vực Đồng tháp Mười và khu vực Thành phố HCM.
Nguyên chủ tịch nước và lãnh đạo các tỉnh đã đánh giá cao về ý tưởng Dự án. Đánh giá đó là một ý tưởng sáng tạo, cần được nghiêm túc xem xét, tạo điều kiện nghiên cứu sâu hơn, nguyên Chủ tịch nước và lãnh đạo các Tỉnh đề nghị cần báo cáo Chính phủ xem xét, đầu tư nghiên cứu tính khả thi về mặt kỹ thuật, kinh tế, môi trường, xã hội,..bao gồm các lợi ích và tác động của dự án.

Ảnh: Đê biển Saemageun- Hàn Quốc (Xem thêm)

Ảnh: Hệ thống cánh cửa ngăn mặn trên đê biển
(Theo www.wrd.gov.vn)

Hiện này nhiều tổ chức khai thác, sử dụng nước đặc biệt là người dân vẫn với quan niệm “nước là của trời cho” nên chưa có ý thức giữ gìn và bảo vệ nguồn nước, dẫn đến nguồn tài nguyên nước trên nhiều quốc gia trên thế giới đang ngày càng cạn kiệt. Nắm bắt được tầm quan trọng của nguồn nước và các vấn đề liên quan Tổ chức WMO (World Meteorological Organization) đã hợp tác với trung tâm Center for Capacity Building (CCB) tại National Center for Atmospheric Research (NCAR) tổ chức đợt tập huấn “Các vấn đề về nước” (Water Affairs) đầu tiên trên thế giới tại trường Đại học Thủy lợi trong các ngày từ 04/12/2006 đến 06/12/2006.
![]() |
Ông Michael Howard Glantz - Chuyên gia lĩnh vực tài nguyên nước của Mỹ thuyết trình tại lớp tập huấn |
Đây là đợt tập huấn quốc tế lớn, với sự tham gia của nhiều cán bộ quản lý và chuyên gia trong lĩnh vực tài nguyên nước của các nước trong khu vực Đông Nam Á và Nam Á (Pakistan, Ấn độ, Sri Lanka, Thái lan, Lào, Campuchia, Philippin, Nepal, Singapo, Myanmar)
Lớp tập huấn đề cập đến các vấn đề về nước và các lĩnh vực liên quan (khí hậu – xã hội – môi trường):
Ngày thứ nhất :
– Khoa học Tài nguyên Nước
– Tác động của Nước đối với Hệ sinh thái: trong và ngoài tầm kiểm soát
– Tác động của Nước đối với Xã hội
– Vấn đề Khí hậu và vấn đề Xã hội. Xã hội làm gì để tự khắc phục trước các điểu kiện bình thường cũng như khắc nghiệt của khí hậu và thời tiết. Đóng góp vào MDG (Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ)
Ngày thứ hai:
– Chính sách và Luật về Tài nguyên Nước
– Các quan điểm chính trị về Nước: Quốc gia và Quốc tế
– Kinh tế Nước
Ngày thứ ba:
– Sự biến đổi và tính khắc nghiệt của tài nguyên nước : Quá nhiều nước (Quản lý lũ) và Quá ít nước (Hạn hán – mùa khô)
– Nước và sự thay đổi của khí hậu
– Các nguyên tắc và sự công bằng về Nước
– Dự báo El Niño, La Niña và các tác động đối với hạ lưu
– Địa kỹ thuật trong tài nguyên nước
Ngày cuối cùng:
– Tài nguyên Nước và Sự phát triển bền vững của Tài nguyên nước ở lưu vực Sông Đồng Nai – Hiệu trưởng Đại học Thuỷ Lợi
– Vai trò và sự quản lý của Trung tâm Dự báo Khí tượng – Thuỷ Văn Quốc Gia (NHS)
– Các lợi ích kinh tế xã hội của NHS trên lý thuyết và thực tế
– Tổng kết phương pháp tiếp cận Các vấn đề về Nước trong đào tạo
– Thăm quan thực tế các công trình khai thác và quản lý tài nguyên nước
![]() |
Cán bộ quản lý và chuyên gia trong lĩnh vực tài nguyên nước của nhiều quốc gia trên thế giới |
Thông qua cuộc hội thảo này, hợp tác quốc tế về các vấn đề về nước giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và Nam Á sẽ được xiết chặt nhằm tăng lợi ích và giảm thiệt hại của nguồn nước.
VK