Danh mục: Tin KHCN và HTQT

  • Hội thảo khởi động Dự án “Quản lý tổng hợp bùn cát và lũ lụt ở các lưu vực sông hướng tới phát triển bền vững”

    Hội thảo khởi động Dự án “Quản lý tổng hợp bùn cát và lũ lụt ở các lưu vực sông hướng tới phát triển bền vững”

    Ngày 22 tháng 10 năm 2020, Hội thảo khởi động Dự án “Quản lý tổng hợp bùn cát và lũ lụt ở các lưu vực sông hướng tới phát triển bền vững”  giai đoạn 2020-2022 đã được tổ chức trực tuyến. Tham gia buổi lễ có chuyên gia của dự án đến từ: Trường Đại học Thủy lợi, Việt Nam; Trường Đại học Kyoto, Nhật Bản; Trường Đại học bang Isabela, Philippines và một số cơ quan nghiên cứu khác. Dự án được tài trợ bởi Mạng lưới Nghiên cứu Thay đổi Toàn cầu Châu Á- Thái Bình Dương (APN-GCR), Nhật Bản.

    Hội thảo khởi động dự án tại Phòng họp 225-A1

    Biến đổi khí hậu gây ra những mối hiểm họa lớn từ lũ lụt và hạn hán đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó Nhật Bản, Việt Nam và Philippines là ba trong số những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Những can thiệp của con người như phá rừng, xây dựng đập và mở rộng hệ thống thủy lợi đã làm gia tăng tác động của biến đổi khí hậu.

    Dự án được đề xuất nhằm đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và các can thiệp của con người đối với việc bồi lắng hồ chứa, ngập lụt, các hoạt động nông nghiệp và xói lở bờ sông và bờ biển trên lưu vực sông Vũ Gia-Thu Bồn ở Việt Nam và lưu vực sông Cagayan ở Philippines. Trên cơ sở đó các kế hoạch quản lý tổng hợp bùn cát và lũ lụt sẽ được thiết lập để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Dự án sẽ tổ chức một số khóa đào tạo, hội thảo để đào tạo các nhà nghiên cứu trẻ, các bên liên quan, các nhà hoạch định chính sách, cộng đồng địa phương và mở rộng mạng lưới hợp tác giữa các nước Châu Á và các chương trình phát triển toàn cầu.

    Các hợp phần nghiên cứu của Dự án

    Với các nội dung trên, Dự án dự kiến sẽ có những đóng góp hiệu quả trong việc cải thiện quản lý lưu vực sông ở Việt Nam và tăng cường hợp tác giữa ĐHTL, Viện Nghiên cứu phòng chống thiên tai – Đại học Kyoto và các đối tác ASEAN.

    Hoài Thương – Phòng HTQT

  • ROBOT TLU – ANTI VIRUT COVID Phòng chống dịch Covid19

    ROBOT TLU – ANTI VIRUT COVID Phòng chống dịch Covid19

    ​

    ROBOT TLU ĐA NĂNG PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID 19

    • Các chức năng:
    • Đo thân nhiệt tự động
    • Cảnh báo cho những người có nhiệt độ bất thường và tự động lưu dữ liệu hình ảnh
    • Xịt dung dịch khử khuẩn rửa tay tự động
    • Buồng UV khử khuẩn trên bề mặt tư trang, đồ dùng cá nhân
    • Di chuyển phun dung dịch hóa chất khử khuẩn ở phòng, hành lang và khuôn viên cơ quan, trường học, bệnh viện
    • Khử khuẩn bằng tia UV trong các phòng của bệnh viện, phòng cách ly, phòng làm việc
    • Có gắn loa hướng dẫn sử dụng robot và tuyên truyền phòng tránh covid

    GS.TS Trịnh Minh Thụ, Hiệu trưởng kiểm tra hoạt động của máy trước ngày đưa sản phẩm ra trưng bày

    • Thông số kỹ thuật của robot:
    • Kích thước: DxRxC = 0,8 x 0,6 x 1,8 m
    • Trọng lượng: (60 -80) kg
    • Điện áp: 24V DC và 220V AC
    • Công suất tối đa: 500W

    Biên tập: Bình Dương

  • Hội thảo Quốc tế lần thứ 4 về công nghệ tiên tiến trong xử lý tín hiệu, viễn thông và điện toán

    Hội thảo Quốc tế lần thứ 4 về công nghệ tiên tiến trong xử lý tín hiệu, viễn thông và điện toán

    SigTelCom2020 rất vinh dự có được sự tham gia của 03 diễn giả chính, những nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực xử lý tín hiệu, viễn thông và điện toán, đó là: Giáo sư Nguyễn Đức Hòa (Đại học Bách Khoa Hà Nội, Việt Nam), Phó giáo sư Lê Minh Hòa (Đại học Northumbria, Vương quốc Anh) và Tiến sĩ Antonino Masaracchia (Đại học Queen’s Belfast, Vương quốc Anh).

    Năm nay, hội thảo đã thu hút hơn 50 tác giả đến từ 15 quốc gia. Mỗi bài báo được đánh giá bởi ít nhất 3 chuyên gia được chọn từ 295 thành viên của Ủy ban Chương trình Kỹ thuật từ các học viện, phòng thí nghiệm và các ngành công nghiệp. Sau khi xét duyệt cẩn thận, Ủy ban Chương trình Kỹ thuật của SigTelCom2020 đã lựa chọn 21 bài báo chất lượng để trình bày tại hội thảo và xuất bản trong Kỷ yếu của hội thảo.

    Nội dung của hội thảo năm nay hướng đến các vấn đề mang tính thời sự về lý thuyết, thuật toán và ứng dụng để xử lý tín hiệu, viễn thông và điện toán với chủ đề “Internet kết nối vạn vật và mạng truyền thông 5G giảm thiểu thảm họa thiên nhiên và suy thoái môi trường”.

    Chi tiết thông cáo báo chí xem TẠI ĐÂY

  • Hội thảo khoa học “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp chỉnh trị sông Trường Giang, huyện Núi Thành phục vụ phát triển bền vững kinh tế khu vực và vùng lân cận”

    Hội thảo khoa học “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp chỉnh trị sông Trường Giang, huyện Núi Thành phục vụ phát triển bền vững kinh tế khu vực và vùng lân cận”

    Việc nghiên cứu và áp dụng Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) và cơ sở dữ liệu lớn (Big data) trong công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai ngày càng nhận được sự quan tâm trên thế giới. Hiện nay, một số kết quả nghiên cứu đã được áp dụng trong thực tế nhằm góp phần giảm thiểu rủi ro thiên tai, cũng như phân tích dữ liệu cảnh báo sớm thiên tai cho cộng đồng, đặc biệt tại khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất ở miền núi và sạt lở bờ sông, bờ biển.

    Dự án “Hướng tới giảm thiểu rủi ro và tăng cường khả năng phục hồi trước các nguy cơ ven biển: cách tiếp cận phân tích dữ liệu lớn” do GS.TS. Nguyễn Trung Việt, Trường Đại học Thuỷ lợi làm chủ nhiệm và GS.TS. Dương Quang Trung, Đại học Queen’s Belfast, Vương quốc Anh, đồng chủ nhiệm trong khuôn khổ tài trợ bởi quỹ Newton.

    Khu vực ven biển tỉnh Quảng Nam là một trong những điểm nóng về các nguy cơ ven biển. Diễn biến xung quanh Cửa Đại và Cửa Lở trong những năm gần đây đang bị sạt lở và bồi lấp rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản của nhân dân cũng như các kế hoạch phát triển của tỉnh. Do đó, trong ngày 20 tháng 7 năm 2020, Trường Đại học Thuỷ lợi đã tổ chức hội thảo “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp chỉnh trị sông Trường Giang, huyện Núi Thành phục vụ phát triển bền vững kinh tế khu vực và vùng lân cận” với sự tham dự của Bà Nguyễn Hoàng Thanh Lê, Hội đồng Anh và đóng góp ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học trong lĩnh vực này. Hội thảo này cũng kết hợp với đề tài hợp tác song phương Việt Nam-Nhật Bản giữa Trường Thủy lợi với Đại học Tohoku do PGS.TS. Hồ Sỹ Tâm và GS.TS. Hitoshi Tanaka làm chủ nhiệm.

    GS.TS. Nguyễn Trung Việt – Phó hiệu trưởng phát biểu

    Bà Nguyễn Hoàng Thanh Lê – Hội đồng Anh tại hội thảo

    PGS.TS. Hồ Sỹ Tâm phát biểu tại hội thảo

    Các chuyên gia báo cáo tại hội thảo

    Chương trình hội thảo

    13:45-14:00

    Đón tiếp đại biểu

    14:00-14:20

    • Chào mừng và khai mạc và giới thiệu đại biểu
    • Phát biểu khai mạc

    GS.TS. Nguyễn Trung Việt, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ lợi

    • Giới thiệu tóm tắt về quá trình thực hiện đề tài

    PGS.TS. Hồ Sỹ Tâm

    14:20–14:40

    Nghiên cứu thiết lập mô hình thủy văn – thủy lực hệ thống sông Tam Kỳ – Trường Giang

    TS. Đinh Nhật Quang, Đại học Thuỷ lợi

    14:40-15:10

    • Nghiên cứu chế độ sóng – triều cho vùng biển Quảng Nam bằng mô hình mã nguồn mở
    • Nghiên cứu chế độ thủy động lực và vận chuyển bùn cát cho vùng Cửa Lở bằng mô hình 3D mã nguồn mở

    NCS. Nguyễn Quang Đức Anh, Đại học Thuỷ lợi

    15:10-15:30

    Nghiên cứu phát triển và ứng dụng hệ thống quan trắc và giải đoán địa hình đáy và các tham số sóng từ hệ thống DRONE cho khu vực Cửa Lở

    TS. Lê Thanh Bình, Tổng công ty Tư vấn xây dựng thuỷ lợi Việt Nam

    15:30-16:00

    Nghiên cứu diễn biến hình thái sông Trường Giang và vùng Cửa Lở bằng phân tích ảnh viễn thám

    TS. Đinh Nhật Quang, NCS. Nguyễn Quang Đức Anh, Đại học Thuỷ lợi

    16:00-16:30

    Trao đổi, thảo luận

    PGS. TS. Hồ Sỹ Tâm

    16:30-16:40

    Bế mạc

    GS.TS. Nguyễn Trung Việt

    Để nghiên cứu chế độ thủy thạch động lực và diễn biến hình thái sông Trường Giang và khu vực Cửa Lở, các nhóm nghiên cứu đã thiết lập các bộ công cụ và kết nối các mô hình toán mã nguồn mở hiện đại. Đặc biệt, trong khuôn khổ của đề tài, thông qua các hợp tác nghiên cứu và phát triển công nghệ với đối tác nước ngoài, các nhóm nghiên cứu đã phát triển thuật toán giải đoán địa hình đáy và chiều cao sóng sử dụng hệ thống DRONE; và phân tích diễn biến hình thái sông Trường Giang và vùng Cửa Lở sử dụng ảnh viễn thám. Kết quả nghiên cứu đã xác định được các nguyên nhân, cơ chế và các yếu tố ảnh hưởng tới diễn biến hình thái tại khu vực nghiên cứu. Các kết quả này là cơ sở để phân tích và đánh giá hiệu quả của các nhóm giải pháp chỉnh trị sông Trường Giang và vùng Cửa Lở trong bước tiếp theo của dự án.

    Thông tin thêm về dự án tại hợp tác giữa Trường Đại học Thủy lợi và Đại học Queen Belfast, xem tại đây: http://ictsolutions.com.vn/vi/du-an/newton-lien-ket-moi-truong-nc/tong-cuc-phong-chong-thien-tai-va-truong-dai-hoc-thuy-loi-lam-viec-voi-dai-hoc-tong-hop-queens-belfast-qub-va-hoi-dong-thanh-pho-belfast-vuong-quoc-anh/

    http://phongchongthientai.mard.gov.vn/Pages/tong-cuc-phong-chong-thien-tai-va-truong-dai-hoc-thuy-loi-lam-viec-voi-dai-hoc-tong-hop-queen%E2%80%99s–.aspx

    Bài và ảnh: Sỹ Tâm & Nhật Quang

  • Trường Đại học Thủy lợi ra mắt 4 nhóm nghiên cứu mạnh

    Trường Đại học Thủy lợi ra mắt 4 nhóm nghiên cứu mạnh

    Năm 2020, có 9 nhóm nộp hồ sơ đăng ký, sau 2 vòng xét tuyển có 4 nhóm đạt yêu cầu theo đề xuất của hội đồng chuyên môn và được nhà trường ra quyết định thành lập 4 nhóm nghiên cứu mạnh:

    1. Nhóm AICOST- liên ngành giữa công nghệ thông tin, thuỷ văn và kỹ thuật tài nguyên nước nhằm mục tiêu ứng dụng trí tuệ nhân tạo cho các vấn đề thuỷ lợi, phòng chống thiên tai trong ngữ cảnh của biến đổi khí hậu.

    2. Nhóm MLIC- liên ngành giữa công nghệ thông tin, Điện- Điện Tử với mục tiêu xây dựng các hệ thống giám sát, điều khiển thông minh.

    3. Nhóm GRAT-liên ngành giữa công nghệ viễn thám và thuỷ lợi nhằm mục tiêu ứng dụng các kỹ thuật viễn thám tiên tiến (remote sensing) cho các bài toán thuỷ lợi

    4. Nhóm ROOM- nghiên cứu tồn lưu, đánh giá rủi ro và giải pháp giảm thiểu của các chất hữu cơ bền (PTS) trong môi trường. Nhóm cũng nghiên cứu giải pháp xử lý nước thải chứa các chất hữu cơ dễ phân hủy, từ đó hoàn chỉnh hướng nghiên cứu về ô nhiễm chất hữu cơ nói chung trong môi trường.

    Lễ ra mắt 4 nhóm nghiên cứu mạnh được tổ chức vào chiều 22/7 tại P225/A2

    Các nhóm Nghiên cứu mạnh sẽ tập hợp các chuyên gia nghiên cứu mũi nhọn của Trường Đại học Thuỷ Lợi và các chuyên gia đầu ngành trong nước và quốc tế, với mục tiêu chiến lược đẩy mạnh nghiên cứu của Trường Đại học Thuỷ Lợi trở thành trường hàng đầu trong nước và có uy tín trong các trường trên thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.

    Theo PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Nhà trường, mục tiêu xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh nhằm: Nâng cao năng lực đội ngũ thông qua hoạt động nghiên cứu liên ngành để giải quyết các vấn đề phát triển bền vững; Tiến tới việc tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao cho công nghiệp, nông nghiệp và đời sống xã hội; Tăng cường các công bố quốc tế chất lượng cao; Góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo tiến sĩ; Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế trong các dự án nghiên cứu cụ thể…

    PGS. TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó hiệu trưởng phát biểu

    Việc triển khai xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh sẽ giúp hình thành nên những tập thể khoa học mạnh, có khả năng thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu lớn, mang tính dài hạn. Điều này không chỉ giúp nâng cao số lượng các công trình công bố quốc tế chất lượng cao, giải pháp hữu ích, mà còn tăng cường khả năng hội nhập quốc tế, nâng cao chất lượng đào tạo đại học, đào tạo sau đại học và xếp hạng đại học theo các tiêu chuẩn quốc tế của Nhà trường.

    Video giới thiệu nhóm nghiên cứu mạnh:

    Tin tức liên quan:

    1/ https://giaoducthoidai.vn/truong-dai-hoc-thuy-loi-ra-mat-4-nhom-nghien-cuu-manh-1595429698867.html

    2/ https://www.tienphong.vn/giao-duc/ra-mat-4-nhom-nghien-cuu-manh-1692633.tpo

    3/ https://nongnghiep.vn/ra-mat-nhom-nghien-cuu-manh-truong-dai-hoc-thuy-loi-nam-2020-d269135.html

    4/ Truyền hình VTC 14 ( từ phút thứ 14) 

    https://www.youtube.com/watch?v=KZ_ek289S2k&list=PLP2uWpYxMAPEi7mdaSpPfTQujhw2MuoZH&index=1 

    5/ Truyền hình Hà Nội (từ phút thứ 10): http://hanoitv.vn/ban-tin-thoi-su-15h-ngay-2372020-v145078.html

    6/ Truyền hình Thông tấn xã: http://vnews.gov.vn/ra-mat-nhom-nghien-cuu-manh-truong-dai-hoc-thuy-loi

    7/ Truyền hình Nhân dân (từ 14 phút 30) https://nhandantv.vn/chuong-trinh-thoi-su-22h00-ngay-23-7-2020-n145929.htm

    Bích Việt – Theo Phòng KHCN

  • Trường ĐHTL khai thác tiềm năng hợp tác với ĐH Hosei, Nhật Bản trong lĩnh vực Kỹ thuật Robot, Trí tuệ nhân tạo và Điện-điện tử

    Trường ĐHTL khai thác tiềm năng hợp tác với ĐH Hosei, Nhật Bản trong lĩnh vực Kỹ thuật Robot, Trí tuệ nhân tạo và Điện-điện tử

    Trong bối cảnh hạn chế di chuyển quốc tế, Trường Đại học Thủy lợi tiếp tục nỗ lực mở rộng hợp tác quốc tế thông qua hệ thống thư tín và làm việc trực tuyến với các đối tác nước ngoài. Ngày 17/7/2020, tiếp nối các thảo luận trong những lần gặp mặt trong năm 2019, Nhà trường đã tổ chức buổi làm việc trực tuyến với Đại học Hosei, Nhật Bản với mục tiêu đặt nền móng cho các hợp tác về mở ngành Kỹ thuật Robot và các nghiên cứu liên quan các lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo và Điện-điện tử.

    Toàn cảnh cuộc họp

    Tham gia buổi làm việc, phía Đại học Hosei Phó Hiệu trưởng GS. OGAWA Koichi dẫn đầu cùng sáu giáo sư giữ các vị trí lãnh đạo Phòng Đào tạo và kế hoạch, Viện Khoa học Công nghệ tổng hợp, và Khoa Khoa học và Kỹ thuật.

      

    GS. OGAWA Koichi, Phó Hiệu trưởng ĐH Hosei, Nhật Bản

    Thành phần Trường Đại học Thủy lợi gồm có Hiệu trưởng GS.TS. Trịnh Minh Thụ, Phó Hiệu trưởng GS.TS. Nguyễn Trung Việt cùng 7 Thầy, Cô lãnh đạo các Phòng Đào tạo, Hợp tác Quốc tế, Trung tâm Đào tạo quốc tế và các Khoa Cơ khí, Công nghệ Thông tin và Điện – Điện tử.

    GS.TS. Trịnh Minh Thụ phát biểu khai mạc cuộc họp

    Trong bài phát biểu khởi đầu buổi họp, GS. Trịnh Minh Thụ bày tỏ đánh giá cao sự nhiệt tình và thiện chí của ĐH Hosei trong việc hợp tác với ĐHTL, thể hiện qua việc sắp xếp thời gian cho buổi họp này trong bối cảnh tình hình dịch bệnh đang leo thang tại Nhật Bản, và sự chênh lệch về múi giờ giữa hai nước. Hiệu trưởng điểm lại quá trình hai trường biết đến nhau qua sự giới thiệu và kết nối của GS. Harada Satoru, Nguyên cố vấn cao cấp của Hiệp hội Robot Nhật Bản và chuyến thăm đầu tiên của phái đoàn trường ĐH Hosei vào tháng 11/2019. Hiệu trưởng nhấn mạnh kỳ vọng của ĐHTL rằng những linh vực hợp tác với ĐH Hosei sẽ được phát triển mạnh mẽ và qua đó thúc đẩy cho Nhà trường tiến gần hơn đến trình độ đào tạo và nghiên cứu khu vực và thế giới trong lĩnh vực kỹ thuật Robot và trí tuệ nhân tạo.

    Phó hiệu trưởng GS.TS. Nguyễn Trung Việt giới thiệu về ĐHTL

    Trước khi thảo luận về những hợp tác cụ thể, lãnh đạo hai bên lần lượt có bài trình bày giới thiệu chung về trường mình, đặc biệt nhấn mạnh vào các thành tựu đào tạo và nghiên cứu mà hai bên có khả năng sẽ hợp tác. Có thể nói, trường ĐH Hosei là một trong những đối tác lớn nhất của ĐHTL từ Nhật Bản, với lịch sử lâu đời hơn 100 năm và được xếp thứ 6 tại Nhật Bản và thứ 112 Thế giới về số lượng các nghiên cứu. Trường ĐH Hosei đặc biệt mạnh về lĩnh vực kỹ thuật Robot với nhiều thành quả nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực này, mới nhất là nghiên cứu Robot nhiều chân của GS. Kazuyuki Ito, Phó Trưởng khoa Khoa học và Kỹ thuật.

    Hình ảnh mô hình Robot nhiều chân trong nghiên cứu của ĐH Hosei (nguồn: tandfonline)

    Trường ĐHTL cũng tự hào về một số nghiên cứu về việc ứng dụng công nghệ Robot trong công tác quan trắc công trình, đặc biệt là việc chế tạo và sử dụng Robot để phát hiện các điểm nứt vỡ bên trong các công trình đập. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu của Trường còn ứng dụng công nghệ AI để phục vụ công tác phòng chống thiên tai, quan trắc chất lượng không khí tại các đô thị lớn và hỗ trợ phân tích so sánh các giải pháp phòng chống Covid-19.

    Ứng dụng Robot quan trắc công trình đập của ĐHTL

    Các chuyên gia hai bên đều bày tỏ sự đánh giá cao đối với thành tựu nghiên cứu của phía đối tác và khẳng định thiện chí cùng tìm ra các tiềm năng hợp tác đào tạo và nghiên cứu chung. Nhân dịp này, Trường Đại học Thủy lợi đã đề xuất 7 hoạt động hợp tác cụ thể với ĐH Hosei, gồm:

    1. Hợp tác mở ngành Kỹ thuật Robot tại ĐH Thủy lợi
    2. Đào tạo giảng viên cho ngành Kỹ thuật Robot tại ĐH Thủy lợi
    3. Phát triển phòng thí nghiệm và cơ sở vật chất cho ngành Kỹ thuật Robot tại ĐH Thủy lợi
    4. Trao đổi giảng viên ngành Kỹ thuật Robot với ĐH Hosei
    5. Trao đổi sinh viên với ĐH Hosei trong chương trình KT Robot và Trí tuệ nhân tạo
    6. Hợp tác nghiên cứu trong các lĩnh vực Kỹ thuật Robot, trí tuệ nhân tạo và điện-điện tử
    7. Giới thiệu việc làm cho các sinh viên tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Robot cho các công ty Nhật Bản

    Đại diện hai trường đều nhất trí tinh thần hợp tác và tiếp tục trao đổi xem xét các bước theo để triển khai các nội dung hợp tác tiềm năng, mà trước mắt là chia sẻ các nghiên cứu trong một hội thảo chuyên đề trực tuyến. Cả hai đều bày tỏ hi vọng sẽ trở thành đối tác mạnh của nhau, mang lại lợi ích cho đôi bên và đóng góp tích cực vào sự phát triển của Việt Nam và Nhật Bản.

    Bích Hà – Phòng Hợp tác Quốc tế

  • Ngày sở hữu trí tuệ thế giới 2020: Đổi mới sáng tạo vì một tương lai xanh

    Ngày sở hữu trí tuệ thế giới 2020: Đổi mới sáng tạo vì một tương lai xanh

    VTV.vn – Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 2020 đặt đổi mới sáng tạo và các quyền sở hữu trí tuệ hỗ trợ đổi mới sáng tạo là trung tâm của những nỗ lực tạo ra một tương lai xanh.

    Phóng viên đã có cuộc trao đổi với ông Đinh Hữu Phí – Cục trưởng Cục sở hữu trí tuệ (SHTT), Bộ Khoa học và Công nghệ về vấn đề này.

    Sở hữu trí tuệ thực sự đóng vai trò động lực thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo để phát triển tài sản giá trị quốc gia về cả số lượng và giá trị, ông có thể cho biết rõ hơn về vấn đề này?

    Ông Đinh Hữu Phí: Trong thời đại khoa học và công nghệ (KH&CN) phát triển như vũ bão hiện nay, các quốc gia đều thừa nhận SHTT là sản phẩm, đồng thời là một trong các công cụ đắc lực, thúc đẩy sự phát triển của các nền KH&CN và kinh tế thị trường. Bảo hộ quyền SHTT của các tổ chức, cá nhân nhằm mục đích khuyến khích hoạt động đổi mới sáng tạo, bảo đảm việc phổ biến tiến bộ KH&CN, văn hóa nghệ thuật vào mục đích phát triển xã hội.

    Ở đây, các đối tượng sáng tạo kỹ thuật là nhân tố quyết định trình độ công nghệ do đó quyết định trình độ phát triển và cạnh tranh của cả một nền kinh tế. Trong những đối tượng đó, các sáng chế được coi là tiêu biểu. Tương tự như các đối tượng sáng tạo kỹ thuật, các dấu hiệu thương mại (nhãn hiệu, tên thương mại, kiểu dáng sản phẩm…) cũng đóng vai trò quyết định trong việc tạo dựng vị trí cạnh tranh và muốn bảo hộ và cải thiện lợi thế trên thị trường, mọi doanh nghiệp bắt buộc phải chăm lo đến các sản phẩm vốn là đại diện cho lợi thế đó.

    Chính vì vậy, vai trò quan trọng của hệ thống bảo hộ SHTT chính là thiết lập một cơ chế cân bằng lợi ích giữa người nắm giữ quyền SHTT và xã hội, trong đó bất kỳ một hành vi nào xâm phạm đến quyền SHTT của chủ thể cũng bị ngăn chặn và xử lý. Vì vậy, bất kỳ một nền kinh tế thị trường nào mà không có hệ thống SHTT thì hầu như đều bị rơi vào tình trạng cạnh tranh hỗn loạn, thiếu lành mạnh và không có năng lực công nghệ nội sinh.

    Hơn nữa, với cơ chế xác lập, quản lý quyền SHTT theo trình tự do pháp luật quy định tạo ra hệ thống các dữ liệu kỹ thuật, kinh tế, pháp lý đầy đủ, phản ánh tình hình đổi mới của công nghệ, cập nhật các thông tin về tình hình kinh doanh…, các kho dữ liệu đó vô cùng bổ ích cho các giới nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh.

    Những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng này, Cục SHTT (Bộ KH&CN) và các cơ quan chức năng đã và đang tập trung hoàn thiện hệ thống các quy định về SHTT, góp phần thúc đẩy gia tăng số lượng, chất lượng các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đây cũng chính là kỳ vọng được Chính phủ, Bộ KH&CN gửi gắm trong Quyết định phê duyệt Chiến lược sở hữu trí tuệ quốc gia đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 1068/QĐ- TTg ngày 22/8/2019 với mục tiêu quan trọng là đưa Việt Nam thuộc nhóm các nước dẫn đầu ASEAN về trình độ sáng tạo, bảo hộ và khai thác quyền SHTT.

     

    Ông Đinh Hữu Phí – Cục trưởng Cục sở hữu trí tuệ

     

    Một trong những điểm trọng yếu của Chiến lược là hình thành mạnh mẽ tài sản trí tuệ mới của cá nhân, tổ chức Việt Nam gia tăng cả về số lượng và chất lượng, cải thiện vượt bậc các chỉ số về sở hữu trí tuệ của Việt Nam trong chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII): Số lượng đơn đăng ký sáng chế và văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 – 18%/năm; số lượng đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp tăng trung bình 6 – 8%/năm; số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu tăng trung bình 8 – 10%/năm; số lượng đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng tăng trung bình 12 – 14%/năm trong số đó được đăng ký bảo hộ ở nước ngoài; đưa Việt Nam trở thành trung tâm bảo hộ giống cây trồng với việc hình thành cơ quan bảo hộ giống cây trồng khu vực ASEAN+.

    Năm 2020, Ngày SHTT thế giới hướng tới việc đổi mới sáng tạo vì tương lai xanh. Đây là một khởi đầu cho "lộ trình xanh" hướng tới chú trọng vấn đề bảo vệ môi trường – một yêu cầu cấp bách hiện nay. Vậy, các chính sách, giải pháp mà Cục đã và đang thực hiện để hỗ trợ các nhà sáng chế cùng những nỗ lực Cục trong việc góp phần tạo ra một "tương lai xanh", góp phần thúc đẩy "nền kinh tế xanh"?

    Ông Đinh Hữu Phí: Như tôi đã nói ở trên, để phát huy hơn nữa vai trò của SHTT đối với phát triển kinh tế, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030 với kỳ vọng Việt Nam sẽ có những bước tiến vượt bậc, tạo động lực thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, phổ biến và hơn thế nữa có thể thương mại hóa sản phẩm sáng tạo, qua đó làm giàu tài sản trí tuệ – một nguồn tài nguyên tạo nên nội lực quốc gia phục vụ trực tiếp cho sự phát triển bền vững, tạo dựng một "tương lai xanh" cho các thế hệ sau.

    Nhiều biện pháp đã được Cục triển khai nhằm góp phần khuyến khích, hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và ứng dụng các thành quả sáng tạo trong KH&CN vào mọi mặt của đời sống và sản xuất như: thực hiện thủ tục đăng ký xác lập quyền SHCN; xây dựng, quản lý và tổ chức khai thác cơ sở dữ liệu thông tin về SHCN nhằm phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng các thành quả KH&CN vào hoạt động sản xuất kinh doanh; tuyên truyền, phổ biến các kiến thức, pháp luật về SHTT, tư vấn, hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân trong hoạt động tạo lập, đăng ký xác lập quyền, khai thác và bảo vệ tài sản trí tuệ… góp phần không nhỏ vào thúc đẩy mục tiêu phát triển bền vững.

    Một số chương trình, dự án hỗ trợ được triển khai rất có hiệu quả thời gian qua như: Chương trình Phát triển tài sản trí tuệ hiện đang được các địa phương triển khai mạnh mẽ, bên cạnh việc tham gia Chương trình cấp quốc gia thì tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ tại địa phương (thông qua đài truyền hình, lớp tập huấn, đào tạo chuyên sâu…). Hiện Chương trình đã bảo hộ cho 118 sản phẩm nông nghiệp chủ lực, đặc thù của địa phương, 600 lượt doanh nghiệp được hỗ trợ về SHTT, trong đó có nhiều đơn vị, doanh nghiệp lớn điển hình như Tập đoàn dệt may Việt Nam, Hiệp hội da giày túi xách Việt Nam, tập đoàn DABACO…; Chương trình cũng đã hỗ trợ bảo hộ, áp dụng thực tiễn sáng chế cho 51 giải pháp kỹ thuật.

    Dự án mạng lưới các Trung tâm hỗ trợ công nghệ và đổi mới sáng tạo (TISC và IP-HUB) để kết nối và thúc đẩy hoạt động SHTT và chuyển giao công nghệ trong các trường đại học, viện nghiên cứu. Dự án đã tổ chức nhiều khóa tập huấn về tra cứu thông tin sáng chế và viết bản mô tả sáng chế cho các thành viên mạng lưới….

    Hiện, có gần 60 viện nghiên cứu, trường đại học trong cả nước đăng ký tham gia mạng lưới để được hỗ trợ quá trình đăng ký sáng chế thông qua các hoạt động như: Hỗ trợ tiếp cận thông tin sáng chế chất lượng cao; trợ giúp tra cứu thông tin sáng chế; đào tạo tra cứu thông tin sở hữu công nghiệp… Trong số đó, có 12 viện nghiên cứu, trường đại học được lựa chọn để hỗ trợ hoạt động chuyển giao công nghệ trên cơ sở các giải pháp kỹ thuật có giá trị của đơn vị, gắn hoạt động nghiên cứu-triển khai của đơn vị với doanh nghiệp, hình thành đội ngũ chuyên nghiệp về SHTT tại các viện nghiên cứu trường đại học…

    Quản lý, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ theo hướng bền vững đang được các địa phương chú trọng triển khai, ông có thể nêu một số ví dụ về doanh nghiệp, nhà sáng chế, sản phẩm đem lại hiệu quả phát triển bền vững điển hình?

    Ông Đinh Hữu Phí: Trong thời gian gần đây, trước những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, các sáng chế ngày càng tập trung vào giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn liên quan đến công nghệ môi trường như: tái chế, làm sạch nước, xử lý khí thải độc hại thanh lọc không khí, bảo toàn năng lượng, hoặc công nghệ xanh theo hướng bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái… Có thể kể đến giải pháp công nghệ như:

    Công ty Thoát nước và Phát triển đô thị Bà Rịa – Vũng Tàu (Busadco) là Doanh nghiệp KH&CN điển hình đã thành công trong khai thác quyền SHTT, trong đó có các sáng chế bảo vệ môi trường, đặc biệt là các giải pháp chống ngập úng, chống ô nhiễm môi trường nước tại tất cả các đô thị; "Thiết bị xử lý khí thải XLKT-HB0005GPCN", tác giả Hoàng Hữu Bình; "Thiết bị thu hồi và tái chế chất thải nguy hại trong công nghiệp", tác giả Trần Bá Phước Anh; "Máy xử lý rác đa năng và công nghệ xử lý rác thải HKM", tác giả Ngô Thái Nguyên,.. là các sáng chế điển hình liên quan đến công nghệ xử lý khí thải, chất thải công nghiệp độc hại và rác thải đã được áp dụng hiệu quả trên thực tiễn…

    Tuy nhiên, để Việt Nam có nhiều sáng chế, giải pháp hữu ích hơn cũng như tăng cường bảo hộ quyền SHTT để phục vụ cho phát triển bền vững, cần có sự chung tay chung sức của tất cả các chủ thể, nâng cao nhận thức về vai trò của SHTT trong đổi mới sáng tạo, hình thành văn hóa sở hữu trí tuệ trong toàn xã hội.

    Các chủ thể sáng tạo cần nâng cao hơn nữa năng lực sử dụng công cụ sở hữu trí tuệ vào hoạt động nghiên cứu triển khai cũng như kịp thời đăng ký xác lập quyền SHTT đối với các thành quả nghiên cứu của mình.

    Doanh nghiệp cần phát huy vai trò chủ đạo trong việc tạo ra và khai thác tài sản trí tuệ. Để thu hẹp khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng thực tiến, doanh nghiệp cần chủ động và tích cực đồng hành với các trường đại học, viện nghiên cứu để tạo ra những sản phẩm, công nghệ giải quyết các vấn đề thiết thực của Việt Nam, đặc biệt là vấn đề môi trường đảm bảo phát triển bền vững.

    Một vấn đề quan trọng nữa là cần tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao ý thức tôn trọng quyền SHTT, khuyến khích người tiêu dùng ủng hộ các sản phẩm và dịch vụ áp dụng công nghệ sạch.

    Ngày SHTT thế giới" (World Intellectual Property Day – viết tắt là IP Day) ra đời vào năm 2000 khi các quốc gia thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) quyết định ngày 26 tháng 4 hàng năm – ngày mà Công ước WIPO chính thức có hiệu lực vào năm 1970 – là ngày để các quốc gia cùng nhau gia tăng sự hiểu biết chung về SHTT trên toàn thế giới. Kể từ đó, "IP Day" đã trở thành ngày mà mọi người trên thế giới cùng nhau tìm hiểu và cổ vũ cho những đóng góp của SHTT đối với sự phát triển của văn hóa nghệ thuật, công nghệ và những đổi mới sáng tạo vì cuộc sống con người.

    Trong 5 năm qua (2015 – 2019), sự kiện "IP Day" tại Việt Nam đã được tổ chức một cách sáng tạo, thu hút sự quan tâm, tham gia của nhiều thành phần xã hội cũng như tạo được những tác động truyền thông đáng kể về lĩnh vực SHTT.

     

    WIPO và nhiều tổ chức quốc tế thường liên tục truyền thông về các chiến lược đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển bền vững. Tuy nhiên, liệu thông điệp này đã được nhận thức đầy đủ, đúng mức trong các cấp, các ngành cũng như cộng đồng xã hội?

    Ông Đinh Hữu Phí: Đảng và Nhà nước ta luôn coi đổi mới sáng tạo là công cụ then chốt để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Có thể thấy, làn sóng đổi mới sáng tạo đã xuất hiện ở mọi ngành nghề, lĩnh vực, địa phương phục vụ tăng trưởng kinh tế, xã hội song hành với bảo tồn môi trường tạo động lực phát triển đất nước. Có thể kể đến sự lan tỏa mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp trên khắp cả nước giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

    Bên cạnh ghi nhận những chuyển biến tích cực ban đầu, thì chúng ta cũng phải thẳng thắn nhìn nhận thực tế là vẫn có một số các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và người dân chưa nhận thức đầy đủ về phát triển bền vững. Do đó, hoạt động đổi mới sáng tạo thiên về tăng trưởng nhanh về kinh tế và ổn định xã hội mà chưa quan tâm tới yếu tố môi trường và chưa đồng đều giữa các vùng, các doanh nghiệp.

    Chúng ta cũng cần lưu ý đến cải thiện vấn đề về thể chế, nhân lực, cơ sở hạ tầng đồng bộ. Tăng trưởng bền vững cần liên kết tất cả các nguồn lực, đặc biệt là thúc đẩy sự sáng tạo năng động trong khu vực tư nhân. Chú trọng hơn nữa đến các viện/trường để có những nghiên cứu và công nghệ phù hợp hơn, gia tăng số lượng đơn đăng ký của người Việt Nam so với nước ngoài.

     

    Một hoạt động ý nghĩa trong ngày IP Day tổ chức tại Hà Nội.

     

    Theo ông, vấn đề hoàn thiện và đổi mới cơ chế bảo hộ SHTT cho các đối tượng SHTT mới được tạo ra từ CMCN 4.0 đang là một thách thức không nhỏ đối với hệ thống SHTT (bảo hộ sáng chế trong lĩnh vực AI, Internet vạn vật, in 3D, công nghệ nano, công nghệ sinh học,…)?

    Ông Đinh Hữu Phí: Thống kê cho thấy, năm 2016 có hơn 5.000 đơn sáng chế liên quan đến Internet kết nối vạn vật (IoT) đã được nộp tại Cơ quan Sáng chế châu Âu, với mức tăng trưởng 54% chỉ trong 3 năm (2014-2016). Điều này khẳng định, các đơn sáng chế thuộc các lĩnh vực công nghệ thông minh sẽ gia tăng nhanh chóng cùng với sự ra đời của các vật liệu mới và các sáng chế được tạo ra bằng trí tuệ nhân tạo (AI).

    Do vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho hệ thống SHTT là phải được vận hành thật sự hiệu quả, kiến tạo cho đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    Để được như vậy cần hoàn thiện và đổi mới cơ chế bảo hộ SHTT cho các đối tượng SHTT mới được tạo ra từ CMCN 4.0. Muốn vậy, cần hoàn thiện cơ chế và nâng cao năng lực thực thi quyền SHTT, đặc biệt trên môi trường internet. Cần quan tâm đến vấn đề nâng cao năng lực của cơ quan SHTT trong việc xử lý đơn đăng ký các đối tượng mới; thúc đẩy hợp tác về bảo hộ và thực thi quyền SHTT ở quy mô khu vực và toàn cầu, bởi nhiều vấn đề SHTT đã vượt ra khỏi biên giới một quốc gia và bản thân mỗi quốc gia riêng rẽ không thể xử lý được.

    Bên cạnh đó, việc thực thi quyền SHTT trong môi trường số sẽ trở nên khó khăn hơn, vì vậy các chính sách cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để vừa không ngăn cản sự phát triển của khoa học và công nghệ, vừa đảm bảo được an ninh, bảo mật và đảm bảo quyền SHTT được bảo hộ thỏa đáng.

    Đặc biệt, cần có sự kết nối giữa SHTT và các ngành công nghiệp, bởi hệ thống SHTT đã và đang hỗ trợ cho sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp. Để bắt kịp với xu thế CMCN 4.0, các cơ quan SHTT cần có kế hoạch hành động sử dụng AI cho từng đối tượng từ sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu.

    Những thông điệp mà Cục truyền tải đến xã hội trong bối cảnh đại dịch COVID-19 (đối với DN, tổ chức cá nhân, địa phương…)?

    Ông Đinh Hữu Phí: Với tinh thần cần giữ an toàn cho tất cả mọi người, theo khuyến nghị của WIPO, Việt Nam đã và đang triển khai các hoạt động tuyên truyền, chào mừng sự kiện này trên các kênh truyên thông với phạm vi rộng khắp.

    Các địa phương, các trường đại học, viện nghiên cứu đã sớm nhận được thông điệp Ngày Sở hữu trí tuệ năm nay và triển khai hoạt động chào mừng tùy theo thực tế của từng địa phương và tổ chức.

    Thông qua các kênh truyền thông đại chúng, thông điệp "Đổi mới sáng tạo vì tương lai xanh" của Ngày SHTT năm nay vẫn sẽ lan tỏa khắp cả nước, tới tất cả các nhóm chủ thể trong xã hội để cùng phát huy trí tuệ, chung sức vượt qua những khó khăn thử thách hướng tới một tương lai xanh, một xã hội phát triển bền vững.

    Xin cảm ơn ông!

    Nguồn: Báo điện tử VTV News – Đài truyền hình Việt Nam

    Liên kết nguồn tin: https://vtv.vn/cong-nghe/ngay-so-huu-tri-tue-the-gioi-2020-doi-moi-sang-tao-vi-mot-tuong-lai-xanh-20200423165222062.htm

  • Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục đối mặt với hạn hán, xâm nhập mặn

    Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục đối mặt với hạn hán, xâm nhập mặn

    Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục đối mặt với hạn hán

    Lượng mưa sụt giảm

    Văn phòng Thường trực Ủy ban sông Mê Công Việt Nam cho biết: Theo số liệu quan trắc, lượng mưa trên các vùng thuộc Lưu vực sông Mê Công, kể cả phần lưu vực thuộc Trung Quốc, vẫn đều bị sụt giảm mạnh so với trung bình nhiều năm, đặc biệt ở khu vực hạ nguồn Lưu vực, bao gồm cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.

    Cụ thể, vùng Vân Nam (Trung Quốc) giảm 72% so với TBNN, vùng Bắc Lào và Thái Lan giảm 82%, vùng Đông Bắc Thái Lan giảm 85%, vùng Trung Nam Lào và Tây Nguyên giảm 80%, vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long giảm 84% so với TBNN.

    Do việc dòng chảy từ Trung Quốc xả về hạ du bị sụt giảm và mưa rất ít trên toàn bộ các vùng ở Hạ lưu vực sông Mê Công nên các quốc gia thượng nguồn gia tăng khai thác sử dụng nước trên các sông nhánh, thậm chí cả trên dòng chính sông Mê Công, do đó dòng chảy về vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam qua hai trạm thủy văn Tân Châu và Châu Đốc cũng bị sụt giảm. So với trung bình nhiều năm, tổng lượng dòng chảy về Tân Châu và Châu Đốc giảm 19%, và xấp xỉ với dòng chảy tháng 2/2016.

    Xâm nhập mặn là nỗi lo lớn của người dân đồng bằng sông Cửu Long

    Do dòng chảy về Đồng bằng sông Cửu Long ít và chế độ triều bất lợi nên hiện tượng xâm nhập mặn vùng ven biển vẫn tương tự như mức độ xâm nhập mặn tháng 1/2020. Đường ranh mặn 4g/l vào sâu nhất trên ba nhánh sông lớn là sông Hậu (nhánh Cổ Chiên), sông Tiền (nhánh Hàm Luông) và sông Vàm Cỏ Tây đều vào sâu hơn so với trung bình nhiều năm từ 14 đến 24 km, và vào sâu hơn so với tháng 2/2016 từ 2 đến 6 km.

    Diễn biến tài nguyên nước tháng 3: Dự báo xâm nhập mặn tiếp tục tăng

    Theo Văn phòng Thường trực Ủy ban sông Mê Công Việt Nam, dự báo dòng chảy tại Tân Châu và Châu Đốc: Dựa trên các kết quả dự báo mưa trên Lưu vực sông Mê Công, xu thế xả nước của các đập thủy điện Trung Quốc, tình hình sử dụng nước trên lưu vực và dự báo chế độ triều cho tháng 3/2020, tổng lượng dòng chảy tới vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam qua hai trạm thủy văn Tân Châu và Châu Đốc dự kiến sẽ bị sụt giảm tới 13% so với trung bình nhiều năm và thấp hơn tổng lượng dòng chảy tháng 2/2016 khoảng 5%.

    Dự báo xâm nhập mặn (ranh mặn 4g/l) tháng 3/2020

    Căn cứ dự báo dòng chảy về Đồng bằng sông Cửu Long vẫn sẽ bị sụt giảm và dự báo chế độ triều, hiện tượng xâm nhập mặn tháng 3/2020 dự kiến vẫn sẽ tăng mạnh. Đường ranh mặn 4g/l trên ba nhánh sông lớn là sông Hậu (nhánh Cổ Chiên), sông Tiền (nhánh Hàm Luông) và sông Vàm Cỏ Tây dự kiến đều tiếp tục vào sâu hơn so với trung bình nhiều năm từ 18 đến 28 km, và xấp xỉ mức xâm nhập mặn so với tháng 3/2016 từ 4 đến 8 km.

    Mức xâm nhập mặn vào sâu nhất của đường ranh mặn 4g/l trên ba nhánh sông chính trong trường hợp Trung Quốc xả nước dự kiến sẽ giảm từ 4-6 km so với dự báo nêu trên; và đối với đường ranh mặn 1 g/l sẽ giảm từ 2-7 km.

    Xâm nhập mặn đã gây ảnh tới nhiều diện tích lúa Đông Xuân các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên theo thông tin từ các địa phương, do đã sớm có các biện pháp chủ động ứng phó với hạn mặn mùa khô năm nay, khoảng 70% diện tích lúa Đông Xuân đã được hoặc sắp thu hoạch, nên dự kiến trong tháng 3/2020 diện tích lúa Đông Xuân có khả năng chịu tác động của xâm nhập mặn sẽ nhỏ hơn nhiều.

    Thực hiện: Bình Dương

    Nguồn: Báo tài nguyên môi trường

  • Tọa đàm, gặp mặt và đề xuất hợp tác với các đối tác quốc tế

    Tọa đàm, gặp mặt và đề xuất hợp tác với các đối tác quốc tế

    Buổi tọa đàm có sự góp mặt gần 50 đại biểu đến từ 10 quốc gia khác nhau bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Ý, Hà Lan, New Zealand, Lào, Thái Lan, Trung Quốc, Ba Lan và Pháp, trong đó có những đối tác đã trở thành những người bạn thân thiết của trường hơn 20 năm qua. Đến dự sự kiện, Nhà trường cũng vinh dự đón tiếp Ngài Antonio Alessandro – Đại sứ Ý tại Việt Nam đi cùng với Hiệu trưởng ĐH Brescia – GS. Maurizio Tira.

    GS. Trịnh Minh Thụ – Hiệu trưởng Trường ĐHTL phát biểu khai mạc buổi tọa đàm

    Trở lại 60 năm trước, nhiều thế hệ cán bộ, giảng viên và sinh viên đã xây dựng Nhà trường trở thành trung tâm giáo dục và nghiên cứu uy tín trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến ngành nước ở Việt Nam và gần đây đã có những thay đổi đáng kể về quy mô cán bộ giảng viên và sinh viên cũng như các lĩnh vực nghiên cứu đa ngành, bao gồm cả công nghệ thông tin, kinh tế, điện tử, cơ khí, kỹ thuật hóa học, công nghệ vi sinh….

    Trong quá trình phát triển đó, Trường ĐHTL đã nhận được sự hỗ trợ, hợp tác và tình hữu nghị to lớn từ nhiều đối tác quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc, Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu, Ấn Độ, Hà Lan, Đức, Ý, Nhật Bản, ASEAN, gần đây là từ Hàn Quốc, New Zealand, Bỉ và Hoa Kỳ. Cho đến nay, Nhà trường đã thiết lập và triển khai các hoạt động hợp tác với gần 80 trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức quốc tế và các công ty trên toàn thế giới. Ngoài ra, GS. Trịnh Minh Thụ cũng cảm ơn sâu sắc sự ủng hộ mạnh mẽ từ các nhà tài trợ và đại sứ quán các nước tại Việt Nam, bởi nếu không có sự hỗ trợ này thì các hợp tác của Nhà trường sẽ bị hạn chế và thậm chí không thể thực hiện được.

    Sự kiện được mở đầu bằng Chương trình trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” và “Vì sự nghiệp giáo dục” (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho 04 Giáo sư nước ngoài bao gồm GS. Marcel Stive (ĐH TU Delft, Hà Lan), GS. Roberto Ranzi (ĐH Brescia, Ý), GS. Hitoshi Tanaka (ĐH Tohoku, Nhật Bản) và GS. Kazuaki Hiramatsu (ĐH Kyushu, Nhật Bản). Đây là phần thưởng cao quý của Chính phủ Việt Nam trao tặng các cá nhân người nước ngoài đã có những đóng góp quan trọng cho đất nước.

     

    GS. Marcel Stive, GS. Roberto Ranzi, GS. Hitoshi Tanaka và GS. Kazuaki Hiramatsu (thứ tự từ trên xuống dưới, từ trái qua phải).

    Tiếp theo, trước sự chứng kiến của nhiều quan khách, Trường ĐHTL đã tiến hành ký kết gia hạn Biên bản ghi nhớ với Đại học Quốc gia Lào (NUOL); Thỏa thuận hợp tác bổ sung với ĐH JeonJu (JJU), Hàn Quốc và Chương trình hợp tác đào tạo nhân tài với Viện Công nghệ tiên tiến Thâm Quyến (SIAT), Trung Quốc.

    Tóm tắt các hợp tác giữa Trường ĐHTL và ĐHQG Lào (NUOL), ĐH Jeonju, Hàn Quốc, và Viện Công nghệ tiên tiến Thâm Quyến (SIAT), Trung Quốc:

    Từ những năm 1980, Trường ĐHTL đã có hợp tác đào tạo và trao đổi chuyên môn với các trường đại học và viện nghiên cứu của Lào. Năm 2003, Biên bản ghi nhớ (MOU) đầu tiên đã được kí kết giữa Trường ĐHTL và ĐHQG Lào (NUOL). Từ đó đến nay, mối quan hệ giữa hai trường vốn đã gắn kết, nay lại càng khăng khít, bền chặt bằng những hoạt động cụ thể, thiết thực như hợp tác trong đào tạo cao học quốc tế về “Quản lý và Kỹ thuật Môi trường”, các nghiên cứu khoa học chung, và số lượng cựu sinh viên đến từ Lào tăng hàng năm. Việc gia hạn Biên bản ghi nhớ lần này hứa hẹn nhiều hợp tác hiệu quả trong tương lai giữa hai trường, khẳng định tình hữu nghị, đoàn kết đặc biệt giữa hai nước Việt Nam-Lào.

    Sau chuyến thăm đầu tiên của ĐH Jeonju, Hàn Quốc đến Trường ĐHTL cuối năm 2018, hai trường đã ký kết MOU thiết lập quan hệ hợp tác chính thức. Thỏa thuận hợp tác bổ sung (MOA) lần này đưa ra các nội dung chi tiết hơn cho việc triển khai Chương trình 2+2 cho các ngành Kỹ thuật Cơ khí, Công nghệ thông tin, Quản lý, Điện tử và Kỹ thuật điện.

    Đối với Viện Công nghệ tiên tiến Thâm Quyến (SIAT), Nhà trường đã triển khai các hợp tác nghiên cứu khoa học chung mang tầm cỡ quốc tế từ năm 2018. Chương trình hợp tác đào tạo nhân tài được ký kết lần này nhằm mở rộng hợp tác giữa hai bên trong đào tạo Thạc sỹ và Tiến sỹ tại SIAT do SIAT cấp bổng toàn phần cũng như trao đổi giảng viên và các nhà nghiên cứu trẻ ngắn hạn và dài hạn các ngành Công nghệ và khoa học máy tính, Kỹ thuật điện tử viễn thông và các ngành liên quan.

    BGH chụp ảnh với đại diện các đoàn đại biểu quốc tế

    Ngoài ra, đại diện các trường tham dự như ĐH Công nghệ Cracow, Ba Lan, dẫn đầu là GS. Jan Kazior – Hiệu trưởng; ĐH Chuo, Nhật Bản cũng có bài phát biểu cảm ơn lời mời, sự đón tiếp nồng hậu và chúc mừng Trường ĐHTL nhân dịp 60 năm thành lập cũng như chúc Nhà trường ngày một phát triển, đổi mới toàn diện hơn nữa, vững bước trở thành một cơ sở đào tạo và nghiên cứu có uy tín trong khu vực và trên thế giới.

    Đáp lại tình cảm chân thành của các đối tác đã hết sức nhiệt tình đến chung vui trong sự kiện quan trọng của Nhà trường, GS. Trịnh Minh Thụ phát biểu thay cho lời kết: “Tôi chân thành tin rằng sau buổi hôm nay cũng như sau chuyến thăm lần này, các đại biểu ở đây, với tư cách là khách mời danh dự của chúng tôi, sẽ nhận được nhiều thông tin hữu ích, chia sẻ những ý tưởng và nỗ lực giữa tất cả chúng ta đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Chúng tôi hiểu rằng hội nhập quốc tế ở quy mô khu vực và trên toàn thế giới ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết vì những thách thức mới mà tất cả chúng ta đang đối phó không chỉ giới hạn trong biên giới của một quốc gia, như biến đổi khí hậu, an ninh nước và lương thực, công nghiệp 4.0. Mặc dù Việt Nam không còn là đối tượng được nhận viện trợ, tuy nhiên với đội ngũ có năng lực và cam kết cao, Trường ĐHTL tự tin tiếp tục đóng góp cho sự hợp tác hiệu quả với tất cả các đối tác, song phương và đa phương”.

    Buổi tọa đàm giao lưu đã diễn ra trong không khí ấm cúng, vui vẻ với những thước phim ghi lại hình ảnh Hợp tác quốc tế do chính các thầy cô của Nhà trường chuẩn bị; các ngôn ngữ gồm Anh, Pháp, Trung Quốc, Ba Lan, Nhật Bản đã được sử dụng, và đặc biệt, nhiều bạn bè quốc tế cũng có thể giao tiếp bằng tiếng Việt như các cựu sinh viên Lào, các bạn Nhật Bản và Pháp đang công tác tại Nhà trường.

    Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm

    Có thể thấy, trao đổi giảng viên và sinh viên của Trường ĐHTL với các trường quốc tế ngày càng phát triển và mở rộng. Hàng năm, số lượng sinh viên từ nhiều quốc gia khác nhau đến học tập ngắn hạn, giao lưu văn hóa, học văn bằng hai và nghiên cứu khoa học tăng đáng kể.  Nhà trường luôn ưu tiên thúc đẩy mọi hợp tác và kết nối toàn cầu bởi đó là điều kiện tốt cho cán bộ, giảng viên, sinh viên Nhà trường được học tập, rèn luyện và chuẩn bị hành trang cho các thách thức trong tương lai. Đây cũng là một trong những chiến lược chính trong chiến lược phát triển Nhà trường trong giai đoạn mới.

    Hà Ngân – Phòng Hợp tác quốc tế