Danh mục: Tin tức & thông báo

  • ĐH Thuỷ Lợi thắng thuyết phục và thẳng tiến vào chung kết

    ĐH Thuỷ Lợi thắng thuyết phục và thẳng tiến vào chung kết

    Sáng 5/3, trong khi các nữ cán bộ, giáo viên và sinh viên đang bận rộn với cuộc thi “Khéo tay hay làm” tại Trường trong điều kiện thời tiết không ủng hộ, thì tại sân vận động Đại học Bách Khoa Hà Nội, đội Bóng đá của Trường cũng vào cuộc trong trận Bán kết vòng bảng khu vực Hà Nội – Giải bóng đá sinh viên toàn Quốc năm 2006 với đội Đại học Dân lập Phương Đông.





    Do có sự chuẩn bị tương đối tốt cộng với sự quan tâm động viên kịp thời của lãnh đạo Nhà trường và các tập thể, cá nhân và lực lượng cổ động viên nên đội đã vào cuộc hết sức hứng khởi và tạo được ưu thế dẫn điểm 2 -1 ngay trong hiệp đầu tiên với những pha làm bàn đẹp mắt của các tiền đạo. Trong hiệp thi đấu thứ 2, mặc dù chủ động lui về phòng ngự để giữ vững tỉ số nhưng chúng đã có bàn thắng nâng tỷ số lên 3 – 1 sau một pha dứt điểm thành công của Văn Tú (tiền đạo đang bị chấn thương). Tuy nhiên, các cầu thủ tiền đạo của chúng ta cũng nhiều lần bỏ lỡ cơ hội ghi bàn mười mươi hết sức đáng tiếc. Những giây cuối cùng của trận đấu, đội bạn gỡ lại được một bàn nữa từ chấm phạt đền do lỗi của thủ môn đội nhà. Chúng ta đã vào trận chung kết với tỷ số 3- 2.


    Ngay sau khi két thúc trận đấu, PGS.TS Phạm Ngọc Quý ( Bí thư Đảng uỷ, Phó Hiệu trưởng Nhà trường) đã thưởng nóng cho đội 600.000 đ ngay tại khu vực kỹ thuật (200.000 đ/ 1 bàn thắng) bằng tiền cá nhân của Thầy. Đội cũng đã nhận được sự động viên từ thầy Đỗ Khắc Phương (600,000) và thầy Tuấn (HLV) 500.000 đ.


    Chiều chủ nhật này 12/3, vào lúc 14h00 trên sân vận động Bách Khoa, đội bóng sẽ đấu trận Chung kết vòng bảng với đội bóng Cao đẳng Du lịch. Đây là đội bóng mới nổi, gây nhiều bất ngờ cho giải bằng việc hạ nhiều đối thủ có tên tuổi như Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Giao thông vận tải… Chúng ta có quyền hy vọng rằng “lần đầu tiên bóng đá Đại học Thuỷ lợi sẽ bước lên bục vinh quang của chiến thắng trong các trường Đại học – Cao đẳng khu vực Hà Nội và vào vòng chung kết với tư cách đứng đầu bảng I, mùa giải năm nay.


    Chúc các bạn thành công.

    PV_100

  • 45 năm Đào tạo và 25 năm thành lập – Quá trình phát triển và trưởng thành của Khoa Cơ khí – Trường Đại học Thủy lợi

    45 NĂM ĐÀO TẠO VÀ 25 NĂM THÀNH LẬP-


    QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ TRƯỞNG THÀNH


    CỦA KHOA CƠ KHÍ – ĐẠI HỌC THỦY LỢI


     


     


     Báo cáo của PGS.TS Vũ Minh Khương -Trưởng khoa-


    trình bày tại lễ kỷ niêm 25 năm thành lập khoa Cơ khí


     


    Kính thưa các quý vị đại biểu,


    Kính thưa các thầy cô giáo, cùng toàn thể các thế hệ sinh viên đã và đang công tác, học tập tại Khoa Cơ Khí – Trường Đại Học Thủy Lợi.


    Cho phép tôi thay mặt  tập thể cán bộ, giáo viên và sinh viên khoa Cơ Khí – Trường Đại Học Thủy Lợi báo cáo tóm tắt về quá trình phát triển và trưởng thành của tập thể Khoa Cơ Khí trong những năm qua.


     







    PGS.TS Vũ Minh Khương – Trưởng Khoa Cơ khí – Trường Đại học Thủy lợi


    Kính thưa quý vị đại biểu,


    Sau một chặng đường dài, hôm nay chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại các bước đường phát triển, đánh giá lại những thành tựu đã đạt được, những việc chưa làm được để có một chiến lược lâu dài phát triển Khoa Cơ Khí – Trường ĐHTL, nhằm đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao trong công cuộc cơ giới hóa, hiện đại hóa của đất nước.


     


     Thực tế, ngành Cơ Khí – Trường ĐHTLợi đã bắt đầu chiêu sinh từ năm 1966, cách đây hơn 45 năm, như một ngành của Khoa Thi Công Thiết Bị. Hơn 50 kĩ sư cơ khí (Lớp 8K) ngày ấy ra trường vào năm 1971 đã tỏa đi khắp mọi miền đất nước và đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Toàn bộ thế hệ sinh viên cơ khí đầu tiên ấy cũng đã về hưu nhưng họ đã để lại những dấu ấn đậm nét trong ngành cơ khí của nước nhà. Vì nhiều lí do, sau khóa chiêu sinh đầu tiên ấy, việc đào tạo kĩ sư cơ khí của trường bị gián đoạn.


     


    Bảy năm sau, từ năm 1978, trường ĐHTL đã từng bước khôi phục lại ngành cơ khí. Mười sinh viên năm cuối của khóa 16 thuộc Khoa Thi Công Thiết Bị được lựa chọn để bổ túc, thực tập và làm đồ án về các loại máy móc xây dựng. Những năm tiếp theo, mỗi năm chiêu sinh một lớp về Máy Xây Dựng. Đó là các lớp từ 17TK đến 22TK.


    Khi Khoa Thi Công Thiết Bị được sát nhập với Khoa Thủy Công thành Khoa Công Trình thì ngành Máy Xây Dựng lại được sát nhập với Khoa Thủy Điện thành Khoa Thủy Điện và Thiết Bị Thủy Lợi. Cũng từ đó, các lớp ngày máy được đổi từ TK thành M, tức là từ lớp 23M cho đến ngày nay.


     


    Ngày 19 tháng 12 năm 1986, Bộ Thủy Lợi (nay là Bộ NN & PTNT) đã ra quyết định thành lập Khoa Cơ Khí Thủy Lợi được tách ra từ khoa Thủy điện và Thiết bị Thủy Lợi với 4 bộ môn: Máy xây dựng, Chế tạo máy, Cơ lý thuyết và Hình họa – vẽ kỹ thuật, để quản lý và đào tạo kỹ sư ngành Máy xây dựng và Thiết bị Thủy Lợi, nhằm phục vụ cho việc xây dựng và khai thác công trình thủy lợi, thủy điện và các ngành xây dựng khác. Sau này khoa được đổi tên thành Khoa Máy Xây Dựng và Thiết Bị Thủy Lợi cho phù hợp với các chuyên ngành đào tạo.


    Năm 1992 Nhà trường có quyết định sát nhập Xưởng cơ khí vào Khoa Cơ khí Thủy Lợi. Năm 1994 Bộ thủy lợi cho thành lập Trung tâm khoa học công nghệ cơ học máy thủy lợi trực thuộc Khoa để nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất.  


    Đồng hành với Chiến lược phát triển trường Đại học Thủy lợi giai đoạn 2006-2020 và để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, từ năm 2007 Khoa Máy Xây Dựng và Thiết Bị Thủy Lợi đã được đổi tên thành Khoa Cơ Khí để đào tạo kĩ sư ngành Kĩ Thuật Cơ Khí với các chuyên ngành: Thiết Bị Làm Đất, Thiết Bị Nâng Chuyển, và Thiết Bị Thủy Công. Ba trong bốn bộ môn của khoa cũng được đổi tên cho phù hợp hơn về chuyên môn. Bộ Môn Cơ Lí Thuyết đổi thành Bộ Môn Cơ Kĩ Thuật, Bộ Môn Hình Họa Vẽ Kĩ Thuật đổi thành Bộ Môn Đồ Họa Kĩ Thuật, Bộ Môn Chế Tạo Máy đổi thành Bộ Môn Công Nghệ Cơ Khí. Kể từ đây Khoa Cơ khí đã bước sang một thời kỳ phát triển mới với sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng sinh viên được đào tạo cũng như đội ngũ cán bộ giảng viên.


     


    Đội ngũ cán bộ giảng viên trong Khoa đã có nhiều thay đổi kể cả về số lượng và chất lượng. Từ những buổi ban đầu khi thành lập ngành cơ khí chỉ có một Bộ môn Cơ Diện chưa đến 10 người, đến năm 1986 là năm chính thức có quyết định thành lập, tổng số giáo viên trong Khoa cũng chỉ có hơn 20 người. Số giảng viên có trình độ trên đại học chỉ có 5 người. Đặc biệt là Bộ môn Máy Xây Dựng là bộ môn chuyên ngành chính nhưng khi đó chưa có ai có trình độ trên đại học.


    Xác định  chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định của mọi thắng lợi và phát triển, đặc biệt là trong công tác đào tạo thì vấn đề này càng trở nên quan trọng hơn, BCN Khoa qua các thời kì luôn có định hướng đào tạo phát triển, nâng cao trình độ cán bộ giáo viên trong khoa. Trong những điều kiện vô cùng khó khăn của những năm bao cấp, đội ngũ giáo viên trong khoa đã không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ về mọi mặt. Sự cố gắng đã được đền đáp. Nhiều giáo viên trong khoa đã lần lượt được cử đi nước ngoài đào tạo ở các trình độ thạc sỹ và tiến sỹ song song với việc đào tạo trong nước ở các bậc học trên đại hoc. Số lượng giáo viên cũng được bổ sung để đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của công tác đào tạo nhân lực kĩ thuật cho ngành cơ khí.


    Đến nay, Khoa có tổng số 40 giảng viên, trong đó bao gồm:


    –            3 Phó giáo sư, 6 Tiến sỹ,


    –            23 Thạc sỹ và nhiều giảng viên chính khác.


    Ngoài ra còn có 9 thầy giáo là GS. TS., PGS.TS. và nhiều giảng viên chính đã nghỉ hưu nhưng vẫn tiếp tục cộng tác cùng Khoa trong công tác đào tạo. Lớp giáo viên trẻ cũng không ngừng cố gắng học tập nâng cao trình độ chuyên môn và ngoại ngữ. Hiện Khoa đang có 6 giảng viên đang làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài và  01 NCS ở Việt Nam.


    Từ ngày thành lập đến nay, đã có 10 giảng viên bảo vệ thành công Luận án Tiến sỹ và 33 người bảo vệ thành công Luận văn Thạc sỹ cả ở trong và ngoài nước.


    Trong dịp kỉ niệm Ngày Nhà Giáo Việt Nam và trong không khí phấn khở của Lễ Kỉ Niệm 25 năm ngày thành lập khoa, tập thể khoa Cơ Khí vinh dự được Thủ Tướng chính phủ tặng bằng khen, 02 cá nhân được Chủ tich nước tặng thưởng huân chương lao động Hạng Ba và nhiều cá nhân được tặng các phần thưởng cao quí khác.


    Cho đến nay, Khoa đã có 7 thầy cô giáo được Nhà nước tặng thưởng huân chương lao động hạng Ba, 6 giáo viên được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, nhiều người là chiến sỹ thi đua, giáo viên dạy giỏi các cấp, nhiều thầy cô giáo được tặng thưởng huy chương vì sự nghiệp giáo dục đào tạo, huy chương vì sự nghiệp nông nghiệp và phát triển nông thôn, bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và bằng khen Bộ trưởng.


     


    Về cơ sở vật chất


    Trong những năm đầu được thành lập, cơ sở vật chất đào tạo của khoa hết sức lạc hậu. Cả Khoa chỉ có một phòng thí nghiệm Máy Xây Dựng với những máy móc của Liên Xô, Trung Quốc, được sản xuất từ những năm sáu mươi của thế kỉ trước. Các giáo trình cũng cũ kĩ lạc hậu. Với tinh thần vượt khó, đội ngũ giáo viên trong khoa đã liên kết với các cơ sở sản xuất ngoài trường để đảm bảo kế hoạch thực tập, nâng cao kiến thức thực hành, thực tế cho sinh viên.


    Cơ sở vật chất đào tạo cũng dần được đầu tư bổ sung theo năm tháng. Hiện nay Khoa có Trung tâm cơ khí quản lí một Xưởng Cơ khí, các Phòng thí nghiệm Máy xây dựng, công nghệ chế tạo, đồ họa, cơ kỹ thuật, thiết kế, công nghệ mới, phòng thực hành phần mềm để phục vụ thực tập cho sinh viên. Một số thiết bị cũ đã được nghiên cứu cải tiến để thành các thiết bị học tập sinh động – tốt hơn và cũng đã được trang bị một số thiết bị mới hiện đại như Cabin điện tử, Dàn thủy lực, máy phay CNC… Hầu hết giáo viên đã được trang bị máy tính thế hệ mới và trang thiết bị đồng bộ để phục vụ cho việc soạn bài giảng theo phương pháp mới, nghiên cứu khoa học.


    Trong năm năm gần đây, cùng với chủ trương của nhà trường về đổi mới giáo dục từ Đào tạo theo niên chế sang chế độ đào tạo theo tín chỉ, lấy người học là trung tâm, các bộ môn trong khoa đã biên soạn, biên dịch 29 giáo trình mới theo chương trình đào tạo kĩ sư ngành cơ khí của Hoa Kỳ, cập nhật các thông tin kiến thức tiên tiến trên thế giới vào công tác giảng dạy và nghiên cứu KH.


     


    Về công tác đào tạo và các kết quả đạt được


    Khoa Cơ khí đào tạo ngành và các chuyên ngành thuộc lĩnh vực Cơ khí, Máy xây dựng và Thiết bị Thủy lợi theo niên chế đến hết khóa 48. Theo quyết định của nhà trường, từ khóa 49,  khoa bắt đầu đào tạo ngành kỹ thuật cơ khí theo học chế tín chỉ với thời gian đào tạo 4,5 năm với ba chuyên ngành là Thiết Bị Làm Đất, Thiết Bị Nâng Chuyển, và Thiết Bị Thủy Công. Sinh viên được trang bị kiến thức về xã hội, kỹ năng giao tiếp, các kiến thức khoa học cơ bản, tin học, ngoại ngữ, và đặc biệt là cơ sở kỹ thuật ngành rộng, chuyên ngành máy xây dựng, máy thuỷ lực, thiết bị thuỷ lợi, thuỷ điện, thiết kế chế tạo, kỹ thuật điện, và điều khiển tự động.


    Để đáp ứng yêu cầu nhân lực của thị trường lao động trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, Nhà trường và Khoa đã đổi mới phương thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ, dựa theo chương trình kỹ thuật cơ khí của Mỹ. Sau khi nghiên cứu chương trình đào tạo ngành kỹ thuật cơ khí của nhiều trường đại học tiên tiến của Hoa Kỳ và các nước trên thế giới, Nhà trường đã nhập toàn bộ chương trình, tài liệu đào tạo Kỹ sư cơ khí của Mỹ để tham khảo và giảng dạy theo phương châm chỉ đào tạo những kiến thức mà nền sản xuất, xã hội cần, lấy người học làm trung tâm, coi trọng phát huy khả năng tự học, tự làm việc và phương pháp tư duy sáng tạo.


    Theo chương trình đào tạo này, các môn được giảm bớt thời lượng lên lớp lý thuyết, tăng  cường khả năng tự đọc và thực hành gắn với thực tiễn sản xuất. Nhờ vậy, thời gian đào tạo được rút xuống chỉ còn 4,5 năm (thay cho 5 năm như trước đây). Chương trình mở tạo điều kiện cho người học tiếp tục học tập để có bằng cấp của các chuyên ngành mới và chuyên sâu để nhận học vị cao hơn. Nếu như trước đây mỗi khóa chỉ chiêu sinh một lớp từ 20 đến 30 sinh viên thì những năm gần đây mỗi năm chiêu sinh từ 100 đến 160 sinh viên, nâng tổng số sinh viên thường xuyên theo học tại khoa lên từ 600 đến 700 người.


    Theo kế hoạch từ năm 2012, Khoa sẽ bắt đầu đào tạo cao học ngành kĩ thuật cơ khí với hai chuyên ngành Máy Xây Dựng và Thiết Bị Thủy Công, tạo điều kiện cho các kĩ sư ra trường có thể tiếp tục học tập nghiên cứu ở các bậc học cao hơn ngay tại khoa mà họ đã hoàn thành chương trình đại học.


    Cho đến nay, Khoa Cơ Khí – Trường ĐHTL đã đào tạo được tổng số 1402 kỹ sư, 5 Tiến sỹ, 25 Thạc sỹ chuyên ngành cơ học công trình và cơ học máy. Hầu hết các kỹ sư cơ khí sau khi ra trường đã xin được việc làm ổn định với mức thu nhập đảm bảo và điều kiện làm việc tốt, có khả năng phát triển và thành đạt. Có những sinh viên cơ khí Đại học Thuỷ lợi sau 7 đến 8 năm ra trường đã trở thành giám đốc, phó giám đốc, trưởng phó phòng của những tập đoàn và các công ty lớn. Nhiều cựu sinh viên của khoa đã trở thành chủ các doanh nghiệp lớn, làm ăn hiệu quả.


    Nhiều kỹ sư cơ khí đã trở thành các cán bộ cấp cao quan trọng trong bộ máy quản lý nhà nước. Có những người đang đảm nhiệm những chức vụ quan trọng như: Phó chủ tịch tỉnh, Vụ trưởng, Vụ phó, Phó viện trưởng, Bí thư huyện ủy, Chủ tịch huyện, Hiệu trưởng trường đại học, Tổng giám đốc, Giám đốc các công ty,…


    Kỹ sư cơ khí của trường ĐHTL được các cơ sở sản xuất sử dụng đánh giá cao về năng lực làm việc và tính năng động, sáng tạo. Nhiều người sau khi ra trường đã tiếp tục học tập và trở thành thạc sỹ, tiến sỹ, phó giáo sư, có những đóng góp khoa học quan trọng trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.


    Trong nghiên cứu khoa học: Trong những năm qua, các thầy cô giáo trong khoa đã thực hiện hàng chục đề tài cấp trường, 19 đề tài cấp bộ và 6 đề tài cấp nhà nước, trên 145 bài báo thuộc lĩnh vực cơ học và cơ khí được công bố trên các tạp chí có uy tín trong nước. Đã có 49 giáo trình được biên soạn và xuất bản, dịch giáo trình mới của Mỹ với hàng vạn trang. Có 15 đề tài thiết kế, 70 sản phẩm chế tạo phục vụ sản xuất.


    Nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng được quan tâm và đã được nhiều thầy cô hưởng ứng. Hàng năm có từ 3 đến 7 đề tài được giải cao trong Hội nghị khoa học sinh viên của trường. Các đội tuyển tham dự Olympic Cơ học, Nguyên lý máy, Chi tiết máy đã đạt 57 giải. Trong 21 lần tham gia đã có 6 giải nhất, 9 giải nhì, 13 giải ba và  29 giải khuyến khích. Đặc biệt đội Robocon Đại học Thuỷ lợi, trong đó nòng cốt là sinh viên khoa Cơ khí được sự quan tâm khuyến khích hỗ trợ của các thầy giáo trẻ trong khoa lần đầu tiên thi đấu đã đạt thành tích đáng khích lệ là lọt vào vòng chung kết toàn quốc.


    Để đáp ứng các yêu cầu phát triển của đất nước, ngành cơ khí ngày càng cần có nhiều cán bộ giỏi. Tập thể Khoa phải vươn lên và cần được quan tâm đầu tư để phát triển. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ cao, cơ sở vật chất tốt đòi hỏi ngày một cao hơn không những phục vụ cho đào tạo mà còn phục vụ nghiên cứu khoa học và sản xuất.


     


    Kính thưa quý vị đại biểu,


    Nhìn lại chặng đường phát triển và trưởng thành của Khoa Cơ Khí – Trường ĐHTL trong những thập kỉ qua, chúng ta thấy đó là sự phát triển thăng trầm cùng với nền kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, đó là sự phát triển đi lên mạnh mẽ. Mặc dù còn những việc chưa làm được, Tập thể khoa đã đạt được những thành tích đáng khích lệ, đã viết nên một truyền thống đáng tự hào của Khoa Cơ Khí. Những thành tích trên là kết quả của quá trình làm việc nghiêm túc, phấn đấu không mệt mỏi của các thế hệ giáo viên và sinh viên trong khoa, sự quan tâm chỉ đạo của Bộ chủ quản, đảng ủy, ban giám hiệu nhà trường qua các thời kì.


    Nhân dịp này, thay mặt tập thể giáo viên, học sinh đang làm việc và học tập tại khoa xin gửi tới lãnh đạo Bộ NN & PTNT, Đảng ủy, BGH Trường ĐHTL, toàn thể quí vị đại biểu, các thế hệ thầy cô giáo, cán bộ nhân viên và các thế hệ sịnh viên đã từng học tập làm việc tại Khoa lời cảm ơn chân thành về những đóng góp quí báu về vật chất và tinh thần  để góp phần làm nên một khoa Cơ Khí ngày càng phát triển.


     Những lời cuối, tôi muốn dành riêng với các anh, các chị thuộc các thế hệ cựu sinh viên của Khoa Cơ Khí rằng: sự thành công của các anh, các chị chính là những đóng góp thiết thực nhất vào truyền thống phát triển của khoa. Khoa Cơ Khí – Trường ĐHTL – nơi các anh các chị đã sống và học tập trong những năm tháng đẹp đẽ nhất của tuổi thanh xuân – luôn rộng mở đón các anh các chị về với mái nhà xưa, thăm khoa, thăm trường và chia sẻ những kinh nghiệm quý báu của các anh các chị từ cơ sở sản xuất và làm việc. Khoa hy vọng sẽ tiếp tục nhận được sự giúp đỡ về mọi mặt của các anh các chị để khoa ngày càng phát triển, làm tròn sứ mệnh đào tạo của mình, nhằm đáp ứng yêu cầu nhân lực về cán bộ kĩ thuật cơ khí của toàn xã hội.


    Cuối cùng xin kính chúc quý vị đại biểu mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.


    Xin trân trọng cảm ơn!

  • Phiên họp lần thứ 10 Khóa I của Hội đồng trường Đại học Thủy lợi.

    Phiên họp lần thứ 10 Khóa I của Hội đồng trường Đại học Thủy lợi.

    Sáng ngày 18/10/2011, tại Hội trường 223 trường Đại học Thủy lợi đã diễn ra phiên họp lần thứ 10 Khóa I của Hội đồng trường dưới sự chủ trì của GS.TS Dương Thanh Lượng – Chủ tịch Hội đồng trường. Tham dự phiên họp có các thành viên Hội đồng trường.









    Hội đồng trường phiên họp thứ 10 Khóa I


    Phiên họp đã thông qua hai báo cáo quan trọng: Báo cáo của Hội đồng trường  Đại học Thủy lợi và báo cáo của Ban giám hiệu về tình hình thực hiện công tác 6 tháng cuối năm 2011.


    Theo đó, báo cáo của Hội đồng trường đã đề cập đến tình hình thực hiện các nhiệm vụ của Hội đồng trường từ tháng 6 đến tháng 10/2011 như: theo dõi việc thực hiện các mục tiêu chiến lược và các kế hoạch phát triển; theo dõi các hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ; về chủ trương xây dựng bộ máy tổ chức nhân sự của Nhà trường; theo dõi việc sử dụng các nguồn vốn, nguồn lực của Nhà trường; theo dõi việc thực hiện quy chế dân chủ trong Nhà trường; giám sát các hoạt động quản lý trong Nhà trường và công tác xây dựng Hội đồng trường.Về một số đề nghị của Hội đồng trường về các công việc chính của nhà trường, Hội đồng trường đề câp đến nhiệm vụ tổng kết 4,5 năm đào tạo tín chỉ, 3 năm đào tạo chương trình tiên tiến, 3 năm thực hiện chương trình hành động của trường về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2012 để đánh giá chất lượng hiệu quả đào tạo; trong công tác kế hoạch cần nhanh chóng xây dựng Chiến lược chi tiết giai đoạn 2011 – 2015, lập công tác năm 2012 trên tất cả các mặt…


    Sau khi nghe các báo cáo trình bày, Hội đồng trường đã thảo luận tập trung nhiều ý kiến đóng góp cho báo cáo của Hội đồng trường và xác định nhiệm vụ, vai trò hoạt động của Hội đồng trường đối với sự phát triển chung của Nhà trường trong nhiệm kỳ tiếp theo…


    Hội đồng trường Đại học Thủy lợi Khóa I được thành lập và hoạt động từ tháng 12/2006 đến tháng 12/2011 là kết thúc nhiệm kỳ. Hội đồng trường  đã xây dựng đề án nhân sự và kế hoạch chi tiết thành lập Hội đồng trường Khóa II , xin ý kiến thảo luận của các thành viên Hội đồng trường tại phiên họp, tại phiên họp tới sẽ thông báo chính thức.









    Các thành viên Hội đồng trường thảo luận về Đề án nhân sự Hội đồng trường Khóa II


    Phiên họp cuối nhiệm kỳ I đầu nhiệm kỳ II của Hội đồng trường sẽ diễn ra vào tháng 12 năm 2011, trong thời gian từ nay đến cuối năm 2011, Hội đồng trường tiếp tục thực hiện các công tác thường xuyên và tổng kết đánh giá hoạt động cả nhiệm kỳ Khóa I cũng như xây dựng phương hướng hoạt động cho nhiệm kỳ Khóa II của Hội đồng trường.


    Tin và ảnh: Hà Linh Ngọc


     

  • Tin về lễ công bố quyết định kéo dài thời hạn giữ chức vụ Phó Hiệu Trưởng của GS.TS Phạm Ngọc Quý.

    Tin về lễ công bố quyết định kéo dài thời hạn giữ chức vụ Phó Hiệu Trưởng của GS.TS Phạm Ngọc Quý.


    Trên cơ sở kế hoạch công tác Tổ chức cán bộ năm 2011 của trường Đại học Thủy lợi, ngày 25 tháng 08 năm 2011, tại Hội trường 223 Đại học Thuỷ lợi, Nhà trường đã tổ chức Lế công bố quyết định kéo dài thời hạn giữ chức vụ Phó hiệu trưởng trường Đại học Thuỷ lợi của GS.TS Phạm Ngọc Quý. Theo đó GS. TS Phạm Ngọc Quý sẽ tiếp tục giữ cương vị Phó hiệu trưởng trường Đại học Thuỷ Lợi cho đến khi đủ tuổi nghỉ chế độ quản lý. Cho đến nay, GS.TS đã hết hạn nhiệm kỳ 5 năm lần 2.


    Đến dự với buổi lễ quan trọng này có ông Vũ Trọng Hà – Uỷ viên Ban Cán bộ Đảng bộ, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng các cán bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Về phía Nhà trường có GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng trường Đại học Thủy lợi, các thầy trong Ban Giám hiệu, đại diện Đoàn Thanh niên, lãnh đạo các Phòng Khoa, Ban trong trường.











    Ông Vũ Trọng Hà trao Quyết định và tặng hoa chúc mừng GS.TS Phạm Ngọc Quý 


    Phát biểu tại buổi lễ, ông Vũ Trọng Hà đã chúc mừng GS.TS Phạm Ngọc Quý tiếp tục giữ chức vụ Phó hiệu trưởng trường Đại học Thủy lợi, khẳng định trong thời gian nhiệm kỳ  vừa qua, GS.TS Phạm Ngọc Quý cùng BGH trường Đại học Thủy Lợi và đội ngũ cán bộ của trường đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, giúp sức cho sự phát triển lớn mạnh của Bộ và của Nhà trường. Ông Vũ Trọng Hà cũng bày tỏ mong muốn trong thời gian tới, trên cương vị Bí thư Đảng Ủy – Phó hiệu trưởng Nhà trường, với kinh nghiệm lãnh đạo của mình, GS tiếp tục giúp sức cho sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa của trường Đại học Thủy lợi. Thay mặt Bộ Nông nghiệp và PTNT, ông Hà cũng vui mừng khẳng định tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng trường Đại học Thủy lợi luôn thể hiện vai trò quan trọng, thực hiện hiệu quả trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Ngành.


    Cũng trong buổi lễ, GS.TS Nguyễn Quang Kim đã thay mặt lãnh đạo Nhà trường đã chúc mừng tới GS.TS Phạm Ngọc Quý và khẳng định sự đóng góp vô cùng to lớn của thầy đối với sự Phát triển chung của Nhà trường. Trên cương vị Bí thư Đảng ủy, Phó hiệu trưởng Nhà trường, GS.TS Phạm Ngọc Quý không những hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giảng dạy mà còn góp phần to lớn trong việc phát triển và xây dựng Đảng bộ trường Đại học Thủy lợi vững mạnh, cùng lãnh đạo Nhà trường xác định hướng đi đúng đắn, xây dựng tình đoàn kết gắn bó trong đội ngũ Đảng viên, giảng viên và nhân viên trong trường, đóng góp to lớn trong việc xây dựng hình ảnh và thương hiệu trường Đại học Thủy lợi. GS.TS Nguyễn Quang Kim cũng chia sẻ mong muốn GS.TS Phạm Ngọc Quý, ngoài việc đào tạo và giảng dạy, cùng Ban lãnh đạo và cán bộ Nhà trường xây dựng lộ trình phát triển trường, phát triển ngành nghề, nâng cao chất lượng đào tạo, xây dựng thương hiệu trường Đại học Thủy lợi vươn lên tầm cao mới, có uy tín trên trường Quốc tế.










    GS.TS Phạm Ngọc Quý chụp ảnh lưu niệm cùng Ban lãnh đạo Nhà trường


    Chỉ còn ít năm nữa, GS.TS Phạm Ngọc Quý sẽ đến tuổi nghỉ quản lý, nhưng với tấm lòng yêu nghề, yêu trường của mình, cho đến nay GS đã có đóng góp to lớn và vô cùng quan trọng cho sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và sự phát triển chung của Nhà trường, luôn là một người thầy tận tâm và được sinh viên hết mực yêu mến, là người lãnh đạo luôn được các giảng viên, cán bộ trong trường kính trọng, yêu mến. Trong không khí long trọng của buổi lễ, GS xúc động gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Bộ NN&PTNT, Ban lãnh đạo Nhà trường, các cán bộ giảng viên đã  tin tưởng và tiếp tục giao trọng trách cao cả cho mình. GS đã bày tỏ mong muốn gắn bó với sự nghiệp giảng dạy, hứa sẽ cố gắng hết sức mình hoàn thành tốt nhiệm vụ Phó hiệu trưởng, trách nhiệm của Bí thư Đảng ủy trong công cuộc chủ động hội nhập và của Trường, mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của BGH, cán bộ giảng viên nhân viên trong trường nhằm xây dựng Nhà trường phát triển không ngừng. Cùng với tình cảm sâu sắc nhất từ cán bộ, sinh viên Nhà trường kính chúc cho GS luôn tràn đầy sức khỏe, sự nhiệt huyết, cùng kinh nghiệm lãnh đạo của mình, ngày càng đưa hình ảnh của trường Đại học Thủy Lợi bay cao bay xa hơn.


     


    Tin và Ảnh: Ngọc Thăng


     


     

  • Buổi gặp mặt kỉ niệm 86 năm ngày truyền thống báo chí Việt Nam

    Buổi gặp mặt kỉ niệm 86 năm ngày truyền thống báo chí Việt Nam

    Mỗi ngành nghề trong năm sẽ có những ngày kỉ niệm trọng đại để tôn vinh. Nghề y có ngày thầy thuốc Việt Nam, nghề dạy học có ngày Nhà giáo Việt Nam, những người làm công tác báo chí, tuyên truyền cũng có ngày được quan tâm đó là ngày Báo chí Việt Nam ngày 21/6. Như thường lệ hàng năm, Trường Đại học Thủy Lợi đều thể hiện sự quan tâm, chia sẻ với những người làm báo – họ là những người song hành cùng với Website và Tạp chí Khoa học Thủy Lợi môi trường, nhằm động viên, thúc đẩy và khuyến khích họ sáng tạo nhiều hơn nữa trong nhiệm vụ báo chí, mảng truyền thông của Đại học Thủy Lợi.


    Buổi gặp mặt diễn ra vào ngày 20/6, có sự hiện diện của GS.TS Phạm Ngọc Qúy – Bí thư Đảng ủy, Phó hiệu trưởng nhà trường, đồng thời là Phó Trưởng Ban biên tập Website và Trưởng ban biên tập tạp chí Khoa học Thủy Lợi môi trường; PGS.TS Lê Đình Thành – Phó hiệu trưởng nhà trường; đại diện của phòng Công tác chính trị & Quản lý sinh viên, Trung tâm tin học, tạp chí Khoa học Thủy Lợi môi trường, các cộng tác viên Website.







     GS.TS Phạm Ngọc Quý phát biểu chỉ đạo những định hướng trọng tâm của công tác báo chí và tuyên truyền trong Nhà trường



    Hiểu được tầm quan trọng của công tác truyền thông, những hoạt động đáp ứng nhu cầu cập nhật thông tin cho các thế hệ sinh viên, các độc giả yêu quý của Website, đặc biệt là chiếc cầu nối giữa sinh viên và Nhà trường, Nhà trường và sinh viên, cựu sinh viên…đồng thời cũng là công cụ trong việc xây dựng vững vàng  hệ tư tưởng chính trị và vun đắp tình yêu nghề, yêu cuộc sống cho sinh viên. Vì vậy mà Nhà trường luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến hoạt động này, quan tâm đến sự phát triển lớn mạnh của Website cũng như Tạp chí. Đặc biệt, nhân dịp này Nhà trường cũng đã dành cho các cộng tác viên của Website lời cảm ơn và những món quà nhỏ như một sự khích lệ để họ có thể đóng góp nhiều hơn nữa những bài viết, phản ánh được cuộc sống, sinh hoạt của sinh viên, đồng thời đưa ra những định hướng sắp tới cho hoạt động báo chí của trường, với mong muốn trong thời gian tới Website và Tạp chí làm được nhiều và nhiều hơn nữa để xây trường Thủy Lợi thân yêu ngày một phát triển.









     Nhân ký nhiệm 86 năm ngày báo chí Cách mạng Việt Nam, các CTV Website WRU chụp ảnh lưu niệm với lãnh đạo Nhà trường  


    Buổi gặp gỡ diễn ra thân thiện và đầm ấm, trong không khí cởi mở như một gia đình mọi người ngồi lại chụp với nhau những bức ảnh kỉ niệm cho ngày lễ đáng nhớ này. Nhân dịp kỷ niệm 86 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, xin chúc cho Tạp chí Khoa học Thủy Lợi môi trường, Website trường Đại học Thủy Lợi ngày một phát triển và lớn mạnh, đội ngũ những người viết báo luôn giữ vững niềm đam mê và sáng tạo thật nhiều những tác phẩm báo chí chất lượng góp phần quảng bá hình ảnh và xây dựng trường Đại học Thủy Lợị tươi đẹp hơn, bay xa hơn..


    Nguyễn Thị Văn.


  • Hội nghị Tiếp xúc cử tri – Khu vực bỏ phiếu số 2.

    Hội nghị Tiếp xúc cử tri – Khu vực bỏ phiếu số 2.

    Toàn cảnh Hội nghị Tiếp xúc cử tri.

    Hôm qua ngày 11/5/2011, tại Hội trường T45 Trường Đại học Thủy Lợi đã diễn ra Hội nghị Tiếp xúc cử tri khu vực bỏ phiếu số 2. Tham dự Hội nghị có bà Ngô Thị Doãn Thanh – Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội; ông Nguyễn Huy Tưởng – Ủy viên thường vụ Thành ủy Hà Nội; bà Nguyễn Thị Hường – Bí thư Đảng ủy khối các Trường Đại học, Cao đẳng Hà Nội, lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành thành phố Hà Nội, quận Đống Đa, và gần 500 cử tri đến từ các trường Đại học, Cao đẳng trực thuộc quận Đống Đa, đặc biệt không thể không kể đến sự có mặt của 5 ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XIII: bà Bùi Thị An; ông Phạm Quang Nghị; ông Nguyễn Toàn Phong; bà Ngô Thị Lan Phương; ông Đỗ Kim Tuyến.


    5 ứng cử viên đại biểu Quốc hội tại Hội nghị Tiếp xúc cử tri 11/5/2011

    Tại Hội nghị tiếp xúc cử tri, các ứng cử viên đại biểu Quốc hội lần lượt trình bày chương trình hành động của mình nếu trúng cử vào đại biểu Quốc hội.

    Bà Bùi Thị An

    Theo đó, bà Bùi Thị An – hiện là Chủ tịch Hội hóa học Hà Nội, Viện trưởng Viện tài nguyên, môi trường và phát triển cộng đồng, đã nêu rõ ba chương trình hành động chính, đó là: luôn gần gũi, lắng nghe tiếp nhận ý kiến của nhân dân, của cử tri và phản ánh tâm tư nguyện vọng của họ đến với Quốc hội, bên cạnh đó có thể tác động đến các cơ quan chức năng trong phạm vi cho phép để giải quyết các vấn đề của nhân dân; Đề đạt những chính sách đầu tư thỏa đáng cho khoa học công nghệ, giáo dục, đảm bảo cho cán bộ mức sống và làm giàu bằng chính nghề của mình, nghiên cứu để nâng cao chính sách tiền lương cho cán bộ, giáo viên, tạo sự bình đẳng cho phụ nữ về vấn đề việc làm như nam giới; Bản thân sẽ không ngững phấn đấu nâng cao toàn diện trình độ của mình, tham gia tích cực các hoạt động của đoàn đại biểu Quốc hội, là cầu nối giữa nhân dân và đại biểu Quốc hội, nghiêm chỉnh thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước mọi lúc, mọi nơi.

    Ông Phạm Quang Nghị

    Ông Phạm Quang Nghị – hiện là Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội cũng nhấn mạnh vào những nhiệm vụ trọng tâm: Luôn lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, đề xuất các chủ trương, chính sách, giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc của nhân dân, đẩy mạnh cải cách hành chính, bài trừ tham ô, tham nhũng; Cùng đoàn đại biểu Quốc hội hoàn thành nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội, thực hiện tốt chức năng giám sát, cụ thể hóa các cơ chế, chính sách đặc thù; bên cạnh đó ông Phạm Quang Nghị cũng mong muốn mọi người hãy cùng đóng góp sức mình, cùng xây dựng thủ đô Hà Nội ngày càng văn minh – hiện đại.

    Ông Nguyễn Toàn Phong

    Ông Nguyễn Toàn Phong, hiện là  Phó Giám đốc Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội, Phó Bí thư chi bộ cơ sở. Ông Phong nhấn mạnh vào 4 vấn đề chính sẽ làm nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội: Sẽ quan tâm đến việc làm, thu nhập của sinh viên, của người dân trên cơ sở nghiên cứu những đặc thù chính của 2 quận Đống Đa và quân Hai Bà Trưng đó là dân số đông, số lượng sinh viên lớn. Do có nhiều kinh nghiệm cũng như hiện công tác tại Trung tâm giới thiệu việc làm, ông sẽ phối hợp cùng với các trường Đại học, Cao đẳng để giới thiệu việc làm và tuyển dụng sinh viên; Tăng cường đối thoại với bà con, thôn xóm, đối thoại trực tiếp với người dân để hiểu vấn đề của nhân dân, giải đáp các vấn đề của người dân trong thẩm quyền không né tránh, đồng thời kiến nghị lên cơ quan có thẩm quyền để giải quyết thắc mắc cho nhân dân; Tiến hành khảo sát tình hình đời sống của người dân tại 2 quận, chú ý đến những khó khăn của người dân ở đây cũng như vấn đề việc làm của sinh viên hiện nay; Tiếp tục xây dựng và phát triển Trung tâm giới thiệu việc làm tại Hà Nội thành Trung tâm giới thiệu việc làm phía Bắc, xây dựng Trung tâm là một tập thể đoàn kết và thống nhất.

    Bà Ngô Thị Lan Phương

    Bà Ngô Thị Lan Phương – hiện là Phó Hiệu trưởng trường THPT Kim Anh – Thị trấn Sóc Sơn. Trong chương trình hành động của mình, bà Phương cho rằng: sẽ quan tâm đến các vấn đề của Quốc hội; quan tâm đến sự nghiệp phát triển của giáo dục; có nhiều biện pháp để phát triển toàn diện cả về trí tuệ và nhân cách cho học sinh; tăng cường đầu tư cho giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất cho các trường, đặc biệt là các trường Đại học; cải cách chính sách tiền lương cho giáo viên và tiếp tục đổi mới giáo dục ở tất cả các bậc học.

    Ông Đỗ Kim Tuyến

    Ông Đỗ Kim Tuyến – hiện là Thiếu tướng, Tổng Cục phó Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, Bộ Công an. Với đặc thù nghề nghiệp của mình, ông Tuyến nhấn mạnh đến các vấn đề về tập trung sửa đổi các bộ luật, hoàn thành các văn bản pháp luật; kiến nghị, giải pháp những vấn đề liên quan đến trật tự trị an, tình hình giao thông trên địa bàn thành phố cũng như của 2 quận Đống Đa và Hai Bà Trưng.

    Sau khi nghe chương trình hành động của các ứng cử viên, các cử tri có mặt tại Hội nghị đã đặt rất nhiều câu hỏi liên quan đến các vấn đề mà ứng cử viên đưa ra. Rất nhiều câu hỏi đã được đặt ra, trong thời lượng của chương trình, nhiều câu hỏi đã được giải đáp, bên cạnh đó còn nhiều câu hỏi các ứng viên cho rằng cần phải được nghiên cứu cụ thể và đưa ra bàn luận tại Quốc hội (nếu được bầu làm đại biểu) để có giải pháp thực tế, rõ ràng.

    Hội nghị tiếp xúc cử tri ngày 11/5/2011 của khu vực bỏ phiếu số 2 diễn ra tại Trường Đại học Thủy Lợi được đánh giá là khá thành công về thời gian, địa điểm, số lượng cử tri tham gia hội nghị, cách đón tiếp và tình hình an ninh được đảm bảo.

    Anh Nguyễn

  • Nghị quyết hướng dẫn một số điểm về tổ chức cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII, và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016





    Ủy ban thường vụ Quốc hội

    Nghị quyết số: 1020/2011/UBTVQH12                                     


    NGHỊ QUYẾT


    HƯỚNG DẪN MỘT SỐ ĐIỂM VỀ VIỆC TỔ CHỨC CUỘC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XIII
    VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2011 – 2016


    ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
                                 NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    – Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 31/2001/QH10;


    – Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11;


    – Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12,


    NGHỊ QUYẾT

    Điều 1. Cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử


    Cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử, ứng cử theo quy định tại Điều 2 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và năm 2010 (sau đây gọi chung là Luật bầu cử đại biểu Quốc hội) và Điều 2 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (sau đây gọi chung là Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) được thực hiện như sau:


    1. Tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân được tính từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong Giấy khai sinh đến ngày bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (sau đây gọi là ngày bầu cử) đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định (ngày 22/5/2011). Trường hợp không có Giấy khai sinh thì căn cứ vào Sổ hộ khẩu hoặc Giấy chứng minh nhân dân để tính tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.


    Mỗi tuổi tròn được tính từ ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm trước đến ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm sau.


    2. Trường hợp không xác định được ngày sinh thì lấy ngày 01 của tháng sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Trường hợp không xác định được ngày và tháng sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.


    Điều 2. Lập danh sách cử tri và niêm yết danh sách cử tri


    Việc lập danh sách cử tri, niêm yết danh sách cử tri theo quy định tại các điều 22, 24 và 27 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, các điều 23, 24 và 28 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:


    1. Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, đủ mười tám tuổi trở lên và không thuộc các trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri quy định tại khoản 8 của điều này thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký thường trú và thực hiện quyền bầu cử tại nơi đó;


    2. Trong thời gian lập danh sách cử tri, những người có giấy chứng nhận chuyển đi của cơ quan có thẩm quyền ở nơi cư trú cũ thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi cư trú mới để tham gia bầu cử, cụ thể như sau: thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú đến đơn vị hành chính cấp tỉnh khác thì được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội.


    3. Sinh viên, học sinh, học viên có sổ tạm trú ở các trường chuyên nghiệp, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi học tập, công tác hoặc nơi đóng quân để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.


    4. Cử tri là người lao động tại các khu công nghiệp tập trung, các doanh nghiệp có đăng ký tạm trú, lưu trú thì được ghi tên vào danh sách cử tri để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.


    5. Kể từ ngày niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bỏ phiếu, cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị vũ trang nhân dân đang đi công tác và những người di cư tự do, đi lao động, làm việc, đi thăm người thân, đi du lịch ở nơi nào thì xuất trình với Uỷ ban nhân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi mới đến Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” do Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc do chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân cấp để được ghi tên bổ sung vào danh sách cử tri, tham gia bỏ phiếu ở nơi đó và được tính vào tổng số cử tri ở nơi mới đến. Nếu họ chưa có Thẻ cử tri, Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi mới đến yêu cầu những người này liên hệ với Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc chỉ huy đơn vị nơi lập danh sách cử tri trước ngày niêm yết danh sách cử tri để nhận Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” để được bầu cử ở nơi mới đến. Nếu thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện thì được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh thì được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú đến đơn vị hành chính cấp tỉnh khác thì được bầu đại biểu Quốc hội.


    6. Công dân Việt Nam công tác, lao động, học tập, du lịch, thăm người thân hoặc định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ, thì đến Uỷ ban nhân dân cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký thường trú); được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (nếu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú).


    7. Đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh lập danh sách cử tri và cấp giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác”.


    8. Những trường hợp không được ghi tên, xóa tên hoặc bổ sung tên vào danh sách cử tri được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 25 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.


    Điều 3. Về việc ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân


    Công dân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 2, Điều 3 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Điều 2, Điều 3 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân không quá hai cấp; nếu đã ứng cử đại biểu Quốc hội thì chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp.


    Những người không được ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại Điều 29 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 31 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.


    Điều 4. Về việc kê khai tài sản, thu nhập khi ứng cử


    Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải kê khai tài sản, thu nhập theo quy định tại mục 4 chương II của Luật phòng, chống tham nhũng; Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập; Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP ngày 13 tháng 11 năm 2007 của Thanh tra Chính phủ.


    Bản kê khai tài sản, thu nhập của người ứng cử là tài liệu trong Hồ sơ ứng cử.


    Điều 5. Căn cứ tính số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân


    1. Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân của mỗi đơn vị hành chính được tính trên cơ sở dân số theo quy định tại Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Số liệu dân số do Cục Thống kê cung cấp tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2010.


    2. Đối với các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có từ ba mươi đơn vị hành chính trực thuộc trở lên được bầu trên bốn mươi đại biểu; số lượng cụ thể do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.


    Điều 6. Đơn vị bầu cử


    Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) được xác định là huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), liên huyện hoặc liên xã; đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện được xác định là xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), liên xã hoặc liên thôn; đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã được xác định là thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố, khối phố (gọi chung là thôn, tổ dân phố), hoặc liên thôn, liên tổ dân phố.


    Trường hợp thành lập hai đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở một đơn vị hành chính huyện, xã hoặc ở một thôn, tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân cấp bầu cử có trách nhiệm xác định ranh giới rõ ràng, hợp lý giữa các đơn vị bầu cử để tổ chức thực hiện bầu cử thuận lợi.


    Điều 7. Số người ứng cử ở đơn vị bầu cử


    1. Số người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử được thực hiện theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.


    Trường hợp Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội làm cho số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi thống nhất với Uỷ ban bầu cử, chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội và báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định; nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người đạt yêu cầu trên thì Uỷ ban bầu cử báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định việc chuyển người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử có số dư nhiều nhất trong cùng tỉnh, thành phố đến đơn vị bầu cử không có số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu Quốc hội được bầu. Trong trường hợp không chọn được người có tín nhiệm cao nhất trong danh sách đã Hiệp thương lần thứ ba và không thể chuyển người ứng cử từ đơn vị bầu cử khác đến thì Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.


    2. Số người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử được thực hiện theo quy định tại Điều 42 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.


    Trường hợp Uỷ ban bầu cử quyết định xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân làm cho số người trong danh sách ứng cử ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn hai người so với số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Uỷ ban bầu cử sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người đạt yêu cầu trên thì Uỷ ban nhân dân cấp bầu cử quyết định việc giảm số đại biểu được bầu ở đơn vị bầu cử khuyết người ứng cử, trình Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; đối với đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thì do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Chính phủ phê chuẩn.


    Điều 8. Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội


    Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định tại Điều 29 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội được thực hiện như sau:


    1. Người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị chết, thì Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử để xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội.


    2. Trường hợp người ứng cử đã được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, nhưng trong thời gian Hội đồng bầu cử chưa công bố danh sách này mà người đó có hành vi vi phạm pháp luật thì xử lý như sau:


    a) Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc xoá tên người ứng cử đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật đã được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu;


    b) Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi trao đổi ý kiến với Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc xoá tên người ứng cử đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật đã được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giới thiệu.


    Điều 9. Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân


    Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại Điều 31 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:


    Người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị chết, thì Uỷ ban bầu cử, sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.


    Điều 10. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Quốc hội và ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân


    1. Trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định tại Điều 49 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội được thực hiện như sau:


    a) Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử. Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo quy định của pháp luật.


    Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử thì có quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với Hội đồng bầu cử. Quyết định của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng.


    b) Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử ngưng việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử.


    Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội thì Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.


    c) Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.


    d) Hội đồng bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.


    2. Trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại Điều 43 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:


    a) Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử. Ban bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo thẩm quyền.


    Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì có quyền khiếu nại với Uỷ ban bầu cử. Quyết định của Uỷ ban bầu cử là quyết định cuối cùng.


    b) Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử ngưng việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử.


    Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân thì Uỷ ban bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.


    c) Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.


    d) Uỷ ban bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Thường trực Hội đồng nhân dân khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.


    Điều 11. Vận động bầu cử của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân


    Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm.


    Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương nào thì thực hiện quyền vận động bầu cử ở địa phương đó.


    Điều 12. Mục đích, yêu cầu vận động bầu cử


    1. Việc tổ chức vận động bầu cử có mục đích sau đây:


    a) Tạo điều kiện cho người ứng cử gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri để báo cáo với cử tri dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu;


    b) Tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.


    2. Việc tổ chức vận động bầu cử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:


    a) Công khai, dân chủ, bình đẳng và xây dựng trong vận động bầu cử, tạo không khí trao đổi thẳng thắn, cởi mở giữa người ứng cử và cử tri;


    b) Không được lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, uy tín và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;


    c) Không biến vận động bầu cử thành nơi để khiếu nại, tố cáo hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo;


    d) Không được lạm dụng uy tín, chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử;


    đ) Không được lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình;


    e) Không được sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân để lôi kéo, mua chuộc cử tri;


    g) Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình vận động bầu cử.


    Điều 13. Hình thức, nội dung vận động bầu cử


    1. Việc vận động bầu cử của người ứng cử được tiến hành thông qua việc gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương nơi mình ứng cử tổ chức; trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng; gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người ứng cử công tác.


    2. Nội dung vận động bầu cử của người ứng cử bao gồm:


    a) Người ứng cử trình bày dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;


    b) Người ứng cử trình bày ý kiến của mình về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;


    c) Người ứng cử và cử tri trao đổi về những vấn đề cùng quan tâm;


    d) Người ứng cử trả lời các câu hỏi của cử tri.


    Điều 14. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong vận động bầu cử


    1. Uỷ ban bầu cử chỉ đạo công tác vận động bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về vận động bầu cử ở địa phương.


    2. Các cơ quan báo chí ở trung ương có trách nhiệm đưa tin về tình hình vận động bầu cử trong phạm vi cả nước, đưa tin về hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình tổ chức bầu cử.


    3. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong việc tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.


    4. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và chính quyền địa phương các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tạo điều kiện cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình; bảo đảm cho việc tổ chức vận động bầu cử được tiến hành công khai, dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật.


    5. Các cơ quan thông tin đại chúng ở địa phương có trách nhiệm đưa tin về Hội nghị tiếp xúc cử tri, trả lời phỏng vấn của những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và tình hình vận động bầu cử ở địa phương.


    Điều 15. Tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử


    1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp giới thiệu những nội dung cơ bản về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương để người ứng cử đại biểu Quốc hội xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình.


    Người được trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương nào cần kết hợp nghiên cứu tình hình địa phương đó và tình hình chung của cả nước để xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình;


    2. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì phối hợp với Uỷ ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; thành phần gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.


    Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã phối hợp với Uỷ ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri, thành phần gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.


    Uỷ ban nhân dân nơi tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri có trách nhiệm thông báo về thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị để cử tri tham dự đông đủ.


    3. Chương trình hội nghị tiếp xúc cử tri gồm các nội dung sau đây:


    a) Tuyên bố lý do;


    b) Đại diện Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc chủ trì cuộc tiếp xúc cử tri, giới thiệu và đọc tiểu sử tóm tắt của người ứng cử;


    c) Từng người ứng cử báo cáo với cử tri về dự kiến việc thực hiện trách nhiệm của người đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;


    d) Cử tri nêu ý kiến, đề đạt nguyện vọng của mình với những người ứng cử. Người ứng cử và cử tri trao đổi dân chủ, thẳng thắn và cởi mở những vấn đề cùng quan tâm;


    đ) Người chủ trì Hội nghị phát biểu ý kiến kết thúc Hội nghị.


    4. Sau Hội nghị tiếp xúc cử tri, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương, ý kiến của cử tri về từng người ứng cử đại biểu Quốc hội gửi đến Hội đồng bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính phủ; Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương mình gửi Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp.


    Điều 16. Vận động bầu cử trên các phương tiện thông tin đại chúng


    1. Người ứng cử đại biểu Quốc hội tiếp xúc, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội của Hội đồng bầu cử để trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội.


    Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử của Uỷ ban bầu cử (nếu có) để trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân.


    Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quản lý trang thông tin điện tử thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc đăng tải nội dung vận động bầu cử;


    2. Trên cơ sở chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sở Thông tin và Truyền thông cùng cấp tổ chức việc đăng tải nội dung phỏng vấn người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương, bảo đảm bình đẳng, đúng pháp luật, công bằng giữa những người ứng cử, tuân thủ các quy định về vận động bầu cử.


    Điều 17. Kinh phí vận động bầu cử


    Kinh phí vận động bầu cử do ngân sách nhà nước cấp từ kinh phí hoạt động thường xuyên của các cơ quan, tổ chức và kinh phí phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.


    Điều 18. Thời gian tiến hành vận động bầu cử


    Việc tổ chức để những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện quyền vận động bầu cử được bắt đầu từ ngày công bố danh sách những người ứng cử và kết thúc hai mươi bốn giờ trước giờ bỏ phiếu.


    Điều 19. Thẻ cử tri


    Người đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì được phát thẻ cử tri


    Thẻ cử tri của công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú ký tên và đóng dấu; đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ký tên và đóng dấu.


    Thẻ cử tri của công dân ở đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị ký tên và đóng dấu.


    Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri.


    Điều 20. Về biểu mẫu và dấu bầu cử


    Hội đồng bầu cử quy định mẫu thẻ cử tri, mẫu phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội, mẫu phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, mẫu Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” và các biểu mẫu khác phục vụ bầu cử.


    Hội đồng bầu cử quy định mẫu dấu của các tổ chức phụ trách bầu cử và giao cho Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc khắc dấu bầu cử trong địa phương mình.


    Điều 21. Địa điểm bỏ phiếu


    Địa điểm bỏ phiếu (phòng bỏ phiếu) phải được trang trí trang nghiêm, tiết kiệm, thuận tiện cho cử tri đến bầu cử, có đầy đủ bàn, ghế, bút, mực và các vật dụng khác phục vụ cho việc bầu cử.


    Điều 22. Xác định phiếu hợp lệ và phiếu không hợp lệ


    1. Những phiếu sau đây là phiếu hợp lệ:


    a) Phiếu bầu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát, có dấu của Tổ bầu cử;


    b) Phiếu bầu đủ hoặc ít hơn số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;


    c) Phiếu bầu gạch tên ứng cử viên không được tín nhiệm bằng cách gạch chéo, gạch xiên, gạch dọc hoặc gạch ngang, nhưng phải gạch hết họ và tên.


    2. Những phiếu sau đây là phiếu không hợp lệ:


    a) Phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát;


    b) Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử;


    c) Phiếu để số người được bầu quá số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;


    d) Phiếu gạch, xoá hết họ, tên những người ứng cử;


    đ) Phiếu ghi tên người ngoài danh sách những người ứng cử; phiếu có viết thêm; phiếu gạch vào khoảng cách giữa họ và tên hai ứng cử viên; phiếu khoanh tròn họ và tên ứng cử viên.


    Điều 23. Báo cáo tình hình trong ngày bầu cử


    1. Trong ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo với Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ; Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và cấp trên trực tiếp về các nội dung sau:


    a) Các điều kiện phục vụ cho ngày bầu cử;


    b) Những thuận lợi, khó khăn về giao thông, thời tiết ảnh hưởng đến việc bầu cử;


    c) Số cử tri đi bầu và tiến độ cử tri đi bầu;


    d) Dư luận trong nhân dân về cuộc bầu cử và những người ứng cử;


    đ) Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội;


    e) Những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn.


    2. Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo trực tiếp bằng điện thoại, thư điện tử hoặc fax đến Hội đồng bầu cử theo tiến độ hai giờ một lần. Kết thúc ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo đầy đủ với Hội đồng bầu cử các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này bằng fax; ở những nơi có sự cố đột xuất xảy ra, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc bầu cử thì phải báo cáo ngay với Hội đồng bầu cử để xin ý kiến chỉ đạo.


    3. Uỷ ban bầu cử có bộ phận thường trực để tiếp nhận thông tin từ các Ban bầu cử, Tổ bầu cử gửi đến.


    Điều 24. Biên bản xác định kết quả bầu cử


    1. Sau khi kết thúc cuộc bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương theo mẫu do Hội đồng bầu cử ban hành.


    2. Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ và Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp. Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp. Ban bầu cử gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Uỷ ban bầu cử.


    3. Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử có bộ phận tiếp nhận Biên bản xác định kết quả bầu cử.


    Hội đồng bầu cử tiếp nhận Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội tại những điểm sau:


    a) Văn phòng Quốc hội, số 37 đường Hùng Vương, quận Ba Đình, Hà Nội;


    b) Vụ Công tác miền Trung và Tây nguyên, số 4 đường Trần Quý Cáp, thành phố Đà Nẵng;


    c) Nhà khách Văn phòng Quốc hội – 165 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.


    Điều 25. Công bố kết quả bầu cử


    1. Sau khi nhận và kiểm tra Biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng bầu cử lập Biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước, Uỷ ban bầu cử lập Biên bản tổng kết cuộc bầu cử ở địa phương mình.


    2. Căn cứ vào Biên bản tổng kết cuộc bầu cử, Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước, Uỷ ban bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử ở địa phương mình.


    Điều 26. Tổng kết cuộc bầu cử


    Hội đồng bầu cử có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử trong phạm vi cả nước; Uỷ ban bầu cử có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương.


    Nội dung tổng kết cuộc bầu cử bao gồm:


    1. Đánh giá quá trình chuẩn bị cuộc bầu cử:


    a) Các bước chuẩn bị bầu cử theo quy định của pháp luật, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;


    b) Việc tổ chức tiếp xúc cử tri nơi công tác, nơi cư trú, nơi bầu cử, vận động bầu cử của những người ứng cử;


    c) Việc hướng dẫn, chỉ đạo công tác bầu cử của Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử ở địa phương;


    d) Việc tổ chức các Hội nghị hiệp thương;


    đ) Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quy định của pháp luật về bầu cử và các văn bản hướng dẫn bầu cử của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;


    e) Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương trong thời gian chuẩn bị bầu cử và trong ngày bầu cử;


    g) Việc xem xét, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến cuộc bầu cử;


    h) Sự phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức phụ trách bầu cử và các cơ quan, tổ chức hữu quan;


    i) Việc sử dụng kinh phí bầu cử.


    2. Những kinh nghiệm từ việc tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016:


    a) Việc chuẩn bị các điều kiện cho cuộc bầu cử;


    b) Việc chuẩn bị nhân sự ứng cử đại biểu;


    c) Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến cuộc bầu cử;


    d) Đánh giá về công tác lãnh đạo, chỉ đạo bầu cử ở địa phương.


    3. Kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc tổ chức cuộc bầu cử.


    Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi Báo cáo tổng kết bầu cử tại địa phương đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã gửi Báo cáo tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp.


    Điều 27. Không tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường ở các địa phương đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân


    Các huyện, quận, phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân theo Điều 1 của Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì không tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016 của cấp đó, không thành lập Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.


    Điều 28. Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân


    Việc thành lập Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện theo các quy định của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.


    Danh sách Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn phải được báo cáo lên Uỷ ban nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện.


    Điều 29. Thành lập Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tại phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân


    Uỷ ban nhân dân phường sau khi thống nhất với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt người gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, tập thể cử tri ở địa phương.


    Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ bầu cử thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 1 và khoản 6 Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.


    Điều 30. Gửi biên bản Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện, quận đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân


    Sau khi kết thúc các Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn, biên bản hiệp thương phải được gửi ngay đến Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện và Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban bầu cử cùng cấp.


    Điều 31. Tổ chức hội nghị cử tri ở phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân


    Hội nghị cử tri ở phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân để lấy ý kiến nhận xét những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức theo đơn vị tổ dân phố nơi cư trú thường xuyên của người ứng cử do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc phường phối hợp với Uỷ ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì.


    Điều 32. Gửi biên bản xác định kết quả bầu cử, biên bản tổng kết và báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện, quận đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân


    Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân gửi biên bản xác định kết quả bầu cử, biên bản tổng kết và báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình đến Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, thị trấn và Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện, quận.


    Điều 33. Hiệu lực thi hành


    Các tổ chức phụ trách bầu cử và các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan có trách nhiệm thực hiện Nghị quyết này.


    Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày ký.


    Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 1078/2007/NQ/UBTVQH11 ngày 29/01/2007.


                                                            Hà Nội, ngày 14 tháng 2 năm 2011


                                                         TM. UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI


                                                                                CHỦ TỊCH



                                                                        Nguyễn Phú Trọng (đã ký)

  • Hướng dẫn tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016


    Thực hiện Chỉ thị 50-CT/TW ngày 5/1/2011 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016; Chỉ thị 192-CT/TTg ngày 30/1/2011 về tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, Ban Tuyên giáo Trung ương đã có Hướng dẫn số 01-HD-BTGTW ngày 25 tháng 02 năm 2011 về tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 như sau:


    I. Mục đích, yêu cầu


    – Làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII Và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 là bầu ra những đại biểu xứng đáng đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân tham gia cơ quan quyền lực cao nhất, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.


    – Làm cho mọi tầng lớp nhân dân thấy rõ được vị trí, vai trò, tổ chức của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; nắm vững các quan điểm chỉ đạo và quy định của Đảng và Nhà nước về bầu cử để tạo ra sự thống nhất trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong toàn xã hội về công tác bầu cử, bảo đảm thực hiện thành công cuộc bầu cử.


    – Làm cho một cử tri nắm vững quyền và nghĩa vụ của công dân trong bầu cử ứng cử, nắm vững tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân để lựa chọn, bầu được những người đủ tiêu chuẩn, xứng đáng vào Quốc hội, vào Hội đồng nhân dân.


    – Thông qua tuyên truyền cuộc bầu cử, khẳng định với thế giới mục tiêu, bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa mà thể chế chính trị Việt Nam hướng tới; đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, những âm mưu và hoạt động phá hoại cuộc bầu cử của các thế lực thù địch; phê phán, uốn nắn những hành vi mất dân chủ, xâm phạm quyền bầu cử, ứng cử của công dân; xử lý những hành vi vi phạm Luật bầu cử Quốc hội và Luật bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp và các vi phạm pháp luật khác để cuộc bầu cử diễn ra theo đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và trở thành ngày hội của toàn dân.


    – Năm 2011 là năm đầu tiên cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được thực hiện trong cùng một ngày, đồng thời là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2015, công tác tuyên truyền phải đóng góp thiết thực vào việc tổ chức thành công cuộc bầu cử, góp phần tham gia bảo đảm sự đồng bộ trong bố trí sắp xếp cán bộ trong hệ thống chính trị; tạo không khí phấn khởi thi đua lao động sản xuất trong nhân dân ngay từ những tháng đầu triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng.


    II. Nội dung tuyên truyền


    – Tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016. Giới thiệu các nội dung lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử Trung ương; hướng dẫn tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng về cuộc bầu cử.


    – Tuyên truyền đặc trưng cơ bản của Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; quyền và nghĩa vụ của nhân dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Hội đồng nhân dân các cấp. Khẳng định thành tựu của Quốc hội và Hội đồng nhân dân qua các thời kỳ, đặc biệt đổi mới của Quốc hội trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện trách nhiệm của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương … Vai trò, trách nhiệm của Quốc hội khóa XIII và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 trong việc thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2015 và các Nghị quyết của Đại hội lần thứ XI của Đảng.


    – Giới thiệu nội dung của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; làm rõ những điểm mới trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp năm 2010.


    – Chú trọng tuyên truyền các nguyên tắc bầu cử, tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, quyền bầu cử và ứng cử của công dân, trách nhiệm của cử tri trong quá trình bầu cử, các hoạt động trong quá trình vận động bầu cử, nội dung tiếp xúc cử tri, chương trình hành động của các ứng cử viên. 


    – Tuyên truyền công tác chuẩn bị bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, điều kiện vật chất, kỹ thuật, tài chính bảo đảm thành công cho cuộc bầu cử, các phương án chủ động ứng phó với những tình huống thiên tai diễn ra trong thời gian tiến hành bầu cử. Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo của công dân, ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng dân chủ, vi phạm pháp luật về bầu cử. Đấu tranh chống mọi luận điệu xuyên tạc, những âm mưu, hành động phá hoại cuộc bầu cử, lợi dụng bầu cử để gây rối, chia rẽ của các thế lực thù địch.


    – Phản ánh quá trình diễn ra và kết quả bầu cử ở các ngành, địa phương, khu vực, vùng, miền trên toàn quốc.


    – Tuyên truyền về sự ủng hộ, tham gia của nhân dân đối với cuộc bầu cử; kết quả phong trào thi đua lập thành tích chào mừng bầu cử, biểu dương kịp thời những đơn vị và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bầu cử, nhất là bầu cử ở nơi biên giới, hải đảo, các vùng còn nhiều khó khăn, các vùng có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào theo các tôn giáo.


    – Phản ánh không khí dân chủ và các hoạt động tự giác nhân dân tham gia bầu cử ra nước ngoài và sự quan tâm tích cực của thế giới đối với sự kiện này của đất nước.


    III. Tổ chức thực hiện


    Công tác tuyên truyền được bắt đầu sau Hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bần cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 (ngày 10, 11/2/2011). Theo tiến độ chung, công tác tuyên truyền được chia làm ba đợt:


    Đợt một, từ 12/2/2011 đến 15/4/2011:


    Phổ biến các văn bản, tài liệu về bầu cử như: Hiến pháp, Chỉthị của Bộ Chính trị, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp năm 2010, các văn bản của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng bầu cử Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, các quy định về giới thiệu người ứng cử, tự ứng cử, về quyền bầu cử của công dân, các bước hiệp thương của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức, hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử…


    Đợt hai, từ 16/4/2011 đến 22/5/2011:


    Tiếp tục tuyên truyền về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; quyền và nghĩa vụ của người ứng cử; quyền và nghĩa vụ của cử tri; các quy định về trình tự bầu cử và thể thức bầu cử; công tác chuẩn bị bầu cử và hoạt động bầu cử trên toàn quốc.


    Đợt ba, từ 23/5/2011 đến 16/6/2011: Tuyên truyền về kết quả bầu cử.


    IV. Các khẩu hiệu tuyên truyền.


    1. Cử tri cả nước tích cực tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 !


    2. Nhiệt liệt chào mừng ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 – ngày 22 tháng 5 năm 2011 !


    3. Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân là quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân !


    4. Bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm !


    5 . Sáng suốt lựa chọn những người tiêu biểu có đủ đức, đủ tài bầu vào Quốc hội khóa XIII và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 !


    6. Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là trực tiếp góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân !


    7. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua lập thành tích chào mừng cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 !


    8. Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm !


    9. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm !


    10. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta


    (Theo Website Sở nội vụ TPHCM)

  • Làm gì  – nói gì – thể hiện gì?

    Làm gì – nói gì – thể hiện gì?

    Đó là điều mà Nhà trường muốn các bạn thể hiện trong mùa quảng bá tuyển sinh năm 2011.









    GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường phát biểu tại buổi tập huấn.



    Như thường lệ hàng năm vào thời điểm này Nhà trường tiến hành công tác quảng bá tuyển sinh thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và đặc biệt là qua các bạn sinh viên – hiện đang học tập tại Nhà trường. Đây là cách làm đặc biệt, mang lại hiệu quả cao bởi chính sinh viên sẽ là người trực tiếp truyền ngọn lửa đam mê đến các học sinh đang chuẩn bị lựa chọn cho mình những ngôi trường Đại học phù hợp cho mùa tuyển sinh  năm nay, để khiến các bạn học sinh tự tin với quyết định của mình khi lựa chọn vào Trường Đại học Thủy Lợi.Khi các bạn sinh viên tham gia công tác quảng bá tuyển sinh hẳn các bạn đã biết được việc của mình là gì và trách nhiệm công việc của mình đến đâu. Trước tiên các bạn phải là người yêu ngôi trường mình học, không yêu nó các bạn sẽ không mang hết sự nhiệt tình, sự thu hút của các em học sinh đến với ngôi trường Đại học Thủy Lợi.


    Nhằm giúp các bạn sinh viên có một hành trang tự tin khi thực hiện nhiệm vụ này, thứ 6 ngày14/1/2011, tại Hội trường T45 đã tiến hành buổi lễ tập huấn quảng bá tuyển sinh. Tham dự có GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường; các phòng liên quan như Phòng Công tác chính trị & Quản lý sinh viên, Phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học.









    Chia sẻ kinh nghiệm của sinh viên Đinh NGọc Thăng – 49M2


    Các bạn sinh viên đã được cung cấp những thông tin cơ bản về tuyển sinh năm 2011 như các ngành nghề tuyển sinh, số lượng, điểm chuẩn hàng năm, các nguyện vọng..công việc sẽ thực hiện như thế nào khi đến với các trường PTTH. Đặc  biệt các bạn còn được lắng nghe những tâm sự của những người đã từng tham gia công tác này trong nhiều năm qua, những vướng mắc mà các bạn sinh viên có thể gặp phải khi đến với các ngôi trường PTTH.









    TH.s Đặng Hương Giang – Trưởng phòng CTCT&QLSV cùng sinh viên tháo gỡ các vướng mắc gặp phải khi đi quảng bá Tuyển sinh.


    Trong buổi tập huấn, GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường đã có những chia sẻ hết sức thú vị song cũng là những ý kiến chỉ đạo của Ban Giám hiệu Nhà trường đối với các bạn sinh viên khi thực hiện nhiệm vụ này. Theo đó, GS.TS Phạm Ngọc Quý cho rằng đây là việc làm tự nguyện và không ép buộc, do vậy các bạn phải đảm bảo sức khỏe và sự an toàn cho chính mình; bên cạnh đó thông tin đưa truyền đạt đến phải là thông tin chính xác, vì vậy cần chuẩn bị kiến thức tốt, đồng thời thái độ tôn trọng, lắng nghe và cách hành xử văn minh….tất cả sẽ làm cho hành trình của các bạn thành công, và đó là điều mà các bạn cùng Nhà trường mong muốn.


    Với gần 500 sinh viên tham gia quảng bá hình ảnh trường lần này, Nhà trường hy vọng các bạn thể hiện được đúng tinh thần mà Nhà trường mong muốn, để mùa tuyển sinh năm 2011 Trường Đại học Thủy Lợi tiếp tục nhận được sự hưởng ứng của các thí sinh đến từ khắp mọi miền Tổ quốc.


    Anh Nguyễn

  • Gặp mặt các viên chức nghỉ hưu năm 2010

    Gặp mặt các viên chức nghỉ hưu năm 2010

    Ngày 23/12/2010, Nhà trường tổ chức buổi gặp mặt thân mật chia tay với các giáo viên, cán bộ công nhân viên nghỉ hưu trong năm 2010. Trong không khí trang trọng và ấm áp, những lời sẻ chia chân tình của lãnh đạo Nhà trường là lời cảm ơn sư tận tụy và tinh thần trách nhiệm đối với 22 cán bộ, giáo viên (trong đó 3 đồng chí ở Cơ sở 2) đã hoàn thành nhiệm vụ công tác nay về nghỉ chế độ.








    GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường báo cáo những kết quả đạt được của Nhà trường trong năm học vừa qua, nhiều bước phát triển mới, nhiều thành tựu trên mọi mặt. Tuy nhiên,  khó khăn  vẫn còn rất nhiều đòi hỏi nỗ lực cao độ của tập thể Nhà trường để Trường Đại học Thủy lợi hoàn thành tốt các nhiệm vụ năm học và nhiều thành công hơn nữa trong tương lai, vươn lên là một trong những trường hàng đầu trong nước và khu vực.


    Hiệu trưởng Nhà trường đã bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn của toàn thể CBCNV, sinh viên của Nhà trường với các đồng chí cán bộ đã có thời gian công tác, cống hiến, vun đắp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển chung của Trường. Hiệu trưởng cũng khẳng định thành công của Nhà trường hôm nay có công lao, sự đóng góp của nhiều thế hệ cán bộ, giảng viên trong hơn 50 năm qua, mong rằng sau khi nghỉ hưu, Nhà trường vẫn tiếp tục nhận được những quan tâm, đóng góp ý kiến của các đồng chí cho Nhà trường. Thay mặt lãnh đạo Nhà trường, GS.TS Nguyễn Quang Kim kính chúc các thầy cô năm mới an khang thịnh vượng, các thầy cô có sức khỏe dồi dào, cuộc sống hạnh phúc bên gia đình, vui vầy bên con cháu và  có ích cho xã hội.


    Với niềm xúc động của buổi chia tay, các đồng chí cán bộ nghỉ hưu đã cùng ôn lại những kỷ niệm trong thời gian công tác tại trường, vui mừng trước những bước phát triển mới của Nhà trường và cùng chia sẻ những tâm huyết, những băn khoăn trăn trở để xây dựng thương hiệu Trường Đại học thủy lợi ngày càng lớn mạnh. Các đồng chí cũng cảm ơn sự quan tâm của  lãnh đạo Nhà trường đã tạo điều kiện cho bản thân hoàn thành tốt nhiệm vụ và khẳng định sẽ còn đóng góp cho Nhà trường với tất cả sức lực, tâm huyết của mình của mình.








    Tin và ảnh: Hà Linh Ngọc