Danh mục: Tin tức & thông báo

  • Công bố QĐ của Hiệu trưởng bổ nhiệm: Phó Trưởng Khoa Q, Phó Trưởng Phòng KHCN

    Công bố QĐ của Hiệu trưởng bổ nhiệm: Phó Trưởng Khoa Q, Phó Trưởng Phòng KHCN

         Ngày 9/1/2007, Nhà trường tổ chức lễ công bố Quyết định bổ nhiệm phó Trưởng Khoa Quy hoạch và Quản lý hệ thống công trình, bổ nhiệm Trưởng Phòng Khoa học công nghệ. Đến dự buổi lễ có GS.TS Đào Xuân Học – Hiệu trưởng, PGS.TS Vũ Thanh Te, PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng Nhà trường; PGS.TS Dương Thanh Lượng – Chủ tịch Hội đồng trường cùng đại diện lãnh đạo Khoa Q, lãnh đạo phòng Khoa học Công nghệ, phòng Tổ chức cán bộ, phòng Công tác chính trị và QLSV…









    Từ trái qua phải: GS. TS Đào Xuân Học – Hiệu trưởng Nhà trường; KS. Ngô Đăng Hải – Phó Trưởng phòng KHCN; TS. Nguyễn Thu Hiền – Phó trưởng khoa Quy hoạch và QLHT công trình

         Buổi lễ đã công bố Quyết định của Hiệu trưởng về việc bổ nhiệm TS.Nguyễn Thu Hiền (BM Thuỷ lực) giữ chức vụ Phó Trưởng khoa Quy hoạch và Quản lý hệ thống công trình. Đây là nữ Phó Trưởng Khoa đầu tiên tại Trường Đại học Thuỷ lợi, thể hiện sự tín nhiệm đặc biệt của tập thể Khoa và lãnh đạo Nhà trường. Trong thời gian tới đây, Khoa Quy hoạch và Quản lý hệ thống công trình đảm nhận những nhiệm vụ hết sức vinh dự và nặng nề, giữ vị trí tiên phong đi đầu trong việc thực hiện kế hoạch giảng dạy ngành nhập khẩu. Do vậy, với bước tiến trên trong công tác kiện toàn cán bộ, lãnh đạo Khoa Q có điều kiện phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm trong xây dựng Khoa, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao trong chiến lược phát triển Nhà trường.


         Sau Quyết định tách phòng và bổ nhiệm Trưởng các phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế đã được công bố vào ngày 4/1 vừa qua, cũng trong khuôn khổ buổi lễ, Quyết định bổ nhiệm phó Trưởng phòng Khoa học công nghệ cũng được công bố. Chức vụ Phó Trưởng phòng Khoa học công nghệ được trao cho KS.Ngô Đăng Hải, phòng Khoa học công nghệ

    Linh Ngọc


    ( Ảnh HMT)

  • TIN VỀ TRAO TẶNG DANH HIỆU  NGND, NGUT CÔNG NHẬN CHỨC DANH GS, PGS NĂM 2006

    TIN VỀ TRAO TẶNG DANH HIỆU NGND, NGUT CÔNG NHẬN CHỨC DANH GS, PGS NĂM 2006

     


    Trong sự phát triển chung của nền giáo dục nước nhà, với những đòi hỏi không ngừng về nhận thức và nâng cao trình độ, các thầy cô giáo ngoài việc tận tuỵ dìu dắt bao lớp học trò trưởng thành, bên cạnh đó luôn tìm tòi và phát triển những kiến thức ngày một hoàn thiện hơn. Tôn vinh nét đẹp truyền thống của nhà giáo Việt Nam, ngày 20/11 hàng năm là ngày mà vẻ đẹp ấy lại được thăng hoa trong sự biết ơn trân trọng của các thế hệ học trò đã dành cho các thầy cô giáo. Đồng thời nhân dịp này, Nhà nước cũng trao tặng những danh hiệu cao quý Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú, các chức danh Giáo sư, Phó giáo sư…cho sự cống hiến không mệt mỏi mà các thầy cô đã vun đắp cho sự nghiệp trồng người.



         Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn có 01 Nhà giáo Nhân dân và 17 Nhà giáo ưu tú, 02 Giáo sư, 17 Phó Giáo sư được phong tặng và công nhận đợt này.











     

     NGƯT GS. TS Phạm Ngọc Quý tại Lễ công bố Quyết định công nhận chức danh Giáo sư đợt năm 2006
    (Văn Miếu – 09/11/06)



         Ngày 9/11/2006, Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước đã tổ chức trọng thể lễ công bố Quyết định và trao giấy chứng nhận cho các Giáo sư tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, trường Đại học đầu tiên tại Việt Nam, nơi ghi danh biết bao nhiêu hiền tài của đất Việt. Thầy giáo Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng uỷ, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ Lợi –  là một trong hai Giáo sư của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn đã vinh dự nhận được chức danh cao quý này. Phát biểu tại buổi Lễ công bố Quyết định công nhận chức danh Giáo sư tại Văn Miếu – Quốc tử giám, GS.TS Nguyễn Thiện Nhân – Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo đã chúc mừng các tân Giáo sư và bày tỏ niềm hy vọng vào những đóng góp nhiều hơn nữa của các Giáo sư cho nền giáo dục nước nhà.

         
    Ngày 20/11, tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng trang trọng diễn ra lễ Công bố các quyết định các danh hiệu Nhà giáo Nhân dân,  nhà giáo ưu tú, chức danh Phó Giáo sư.  GS.TS Lê Kim Truyền – nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Thuỷ Lợi – đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân.











    Lễ công bố quyết định công nhận chức danh Phó giáo sư và phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân – Nhà giáo Ưu tú
    (Bộ NN&PTNT – 20/11/06)


    Danh hiệu Nhà giáo ưu tú thuộc về các thầy cô giáo:
       1.   GS.TS Đào Xuân Học – Hiệu trưởng Nhà trường
       2.   GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng uỷ, phó Hiệu trưởng Nhà trường
       3.   PGS.TS Nguyễn Đăng Cường – Trưởng khoa Cơ khí.
       4.   PGS.TS Lê Thị Nguyên – Phó trưởng Bộ môn Cải tạo đất
       5.  PGS.TS Nguyễn Xuân Phú – Khoa Kinh tế thuỷ lợi
       6.  PGS.TS Dương Thanh Lượng – Trưởng Khoa Quy hoạch và Quản lý hệ thống công trình
       7.  PGS.TS Nguyễn Chiến – Trưởng Khoa Công trình Thuỷ lợi. 
       8. PGS. TS Vũ Minh Cát – Trưởng Khoa Kỹ thuật Bờ biển
    Chức danh Phó Giáo sư gồm các thầy cô giáo:
       1.   TSKH. Nguyễn Trung Dũng – Phó trưởng khoa Kinh tế thuỷ lợi
       2.   TS.Phạm Hùng – Trưởng Phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học
       3.   TS. Vũ Minh Khương – Trưởng Bộ môn Máy Xây dựng và thiết bị Thuỷ Lợi
       4.  TS.Trần Viết Ổn – Phó Trưởng Khoa Quy hoạch và Quản lý hệ thống công trình
       5.  TS. Nguyễn Bá Uân – Trưởng Khoa Kinh tế thuỷ lợi
       6.  TS. Lê Văn Ứơc – Phó Trưởng Phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học
       7.  TS. Ngô Thị Thanh Vân – Khoa Kinh tế Thuỷ Lợi (đây cũng là tân Phó giáo nữ  trẻ nhất của Trường Đại học Thuỷ Lợi).













    Toàn cảnh hội nghị 


         Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Diệp Kỉnh Tần và GS.TSKH Trịnh Trọng Hàn đã trao bằng và giấy chứng nhận cho các thầy cô giáo được nhận danh hiệu và chức danh cao quý trên.












     

     Thứ trưởng Bộ NN & PTNT Diệp Kỉnh Tần trao huy hiệu Nhà giáo Nhân dân cho GS. TS Lê Kim Truyền


    Nhà giáo Nhân dân – GS.TS Lê Kim Truyền trong bài phát biểu của mình đã nói: Đây là vinh dự lớn lao mà Đảng, Nhà nước đã dành cho chúng tôi. Để có được kết quả này là do công lao bồi dưỡng của các thế hệ thầy cô giáo, của các cấp lãnh đạo, các cơ quan và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện trong thời gian qua. GS nhấn mạnh: chúng tôi sẽ cống hiến hết mình cho sự phát triển của ngành thuỷ lợi nói riêng và góp phần phát triển nền giáo dục nước nhà nói chung, như lời mà thuở sinh thời Bác Hồ kính yêu đã mong muốn đất nước Việt Nam có thể sánh vai với các cường quốc năm châu.













    Trao tặng danh hiệu và huy hiệu


        Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Diệp Kỉnh Tần đánh giá cao vai trò đội ngũ Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo ưu tú, cùng các Giáo sư các Phó Giáo sư. Thứ trưởng cũng mong muốn, đội ngũ này với vị trí của mình sẽ tiếp tục cống hiến và phát huy hơn nữa cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đặc biệt cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.



         Niềm vui này một lần nữa càng làm tăng ý nghĩa của ngày Nhà giáo Việt
    Nam. Kính chúc các thầy giáo, các cô giáo sức khoẻ và hạnh phúc để mãi cống hiến cho sự nghiệp trồng người.


     


    N.V.A


    (Ảnh HMT)


     

  • Tổng kết năm học 2005 – 2006 khối sinh viên

    Tổng kết năm học 2005 – 2006 khối sinh viên

    Năm học 2005 – 2006 kết thúc mở ra một năm học mới, đây cũng là lúc chúng ta cùng nhìn lại và đánh giá những kết qủa đạt được trong một năm học vừa qua, đồng thời đề ra những phương hướng, nhiệm vụ cho năm học mới, năm học 2006 – 2007, năm học bản lề triển khai, thực hiện chiến lược phát triển của Nhà trường giai đoạn 2006 – 2020 đã được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt. Trên tinh thần đó ngày 14/10/2006 tại Hội trường T45, trường Đại học Thuỷ Lợi đã tổ chức Hội nghị tổng kết năm học 2005 – 2006 khối sinh viên.


    Đến dự Hội nghị có các thầy cô giáo trong Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, các Phòng, Khoa, Ban, các thầy cô giáo và đại diện sinh viên trong toàn trường.


    Những điểm nổi bật nhất trong năm học vừa qua đã được thể hiện một cách tóm tắt trong Báo cáo tổng kết năm học. Bản báo cáo đã nêu rõ những kết quả đạt được và chưa đạt được trên các lĩnh vực: chính trị tư tưởng, tình hình học tập,Olympic, NCKH, công tác rèn luyện và tham gia phong trào sinh viên, qua đó đưa ra những phương hướng, nhiệm vụ cho năm học mới, với mong muốn sinh viên cùng thực hiện nhẳm đem lại một kết quả cao hơn với năm học trước, và đặc biệt góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển Nhà trường.









    Phát biểu của PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng Nhà trường
    Phát biểu trong Hội nghị, PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ Lợi đã nhắn nhủ đến các sinh viên nhận thức được mục tiêu khi vào trường là phải học ngay từ những ngày đầu, làm chủ kiến thức của mình, để có một kết quả tốt nhất khi ra trường, trở thành những kỹ sư phục vụ cho đất nước. Bên cạnh đó các hoạt động khác về tư tưởng, ý thức… đều phải luôn trau dồi, rèn luyện, đặc biệt học cách làm việc, cách tư duy, quan hệ xã hội…Nhà trường luôn cố gắng để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho sinh viên, ngược lại sinh viên cũng phải nỗ lực cố gắng để học tập tốt, học không chỉ cho bản thân mà còn cho những người thân và tương lai đất nước.


    Trong chương trình, Hội nghị còn được nghe các ý kiến phát biểu của sinh viên đại diện lớp xuất sắc toàn diện (44Đ2), lớp có phong trào học tập tốt (44V), lớp có phong trào rèn luyện tốt (44C3)…Các ý kiến đều tổng kết những kết qủa đạt được và chia sẻ kinh nghiệm mà trong năm học vừa qua toàn thể các thành viên trong lớp đã phấn đấu và đạt được thành tích nêu trên. 
                Chương trình hành động nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục cũng được Nhà trường phát động và được sự hưởng ứng của cán bộ, giáo viên và sinh viên trong toàn Hội nghị.


    Nhân dịp này, Nhà trường cũng đã tặng cờ cho lớp 44Đ2 là tập thể xuất sắc toàn diện tiêu biểu nhất trường, trao phần thưởng cho những sinh viên đạt kết quả cao trong các kỳ thi Olympic cấp trường, cấp Quốc gia, tập thể và sinh viên đạt thành tích tốt trong học tập và rèn luyện năm học 2005 – 2006. Hy vọng với sự quan tâm và động viên này, sinh viên Đại học Thuỷ Lợi sẽ luôn nỗ lực và cố gắng để phấn đấu và học tập tốt hơn nữa, xây dựng Nhà trường ngày càng vững mạnh, đúng với truyền thống của ngôi trường Anh hùng trong thời kỳ mới.









    ThS.Dương Văn Bá – trưởng Phòng CTCT và QLSV đọc báo cáo tổng kết năm học 2005 – 2006 khối sinh viên







     

    KS Hoàng Xuân Bách – Bí thư Đoàn thanh niên Nhà trường hưởng ứng chương trình hàng động nói không với tiêu cực trong thi cử










    SV Dương Trọng Huy – Chủ tịch Hội sinh viên trường thay mặt sinh viên hưởng ứng chương trình hàng động nói không với tiêu cực trong thi cử








    Phát biểu của đại diện các lớp đạt thành tích cao trong học tập và rèn luyện năm học 2005 – 2006









     
    Phát biểu của đại diện các lớp đạt thành tích cao trong học tập và rèn luyện năm học 2005 – 2006 PGS.TS Phạm Ngọc Quý – Phó Hiệu trưởng Nhà trường trao khen thưởng cho sinh viên đạt thành tích cao trong kỳ thi Olympic Quốc gia năm 2006









    PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng Nhà trường trao khen thưởng cho các tập thể và cá nhân có thành tích cao trong học tập và rèn luyện năm học 2005 – 2006


    NVA
    Ảnh HMT

  • Kế hoạch Tổ chức lễ khai giảng năm học 2006-2007






    BỘ NN & PTNT
    Trường Đại học Thủy Lợi


    ——————

    Số  870  ĐHTL/QLSV/KH



    Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    — ***—
    Hà Nội, ngày 06 tháng 9 năm 2006



    KẾ HOẠCH


    Tổ chức lễ khai giảng năm học 2006-2007


               


    Theo kế hoạch năm học, lễ khai giảng năm học 2006-2007 tại Hà Nội sẽ được tổ chức vào ngày 18/09/2006 (Cơ sở 2 có kế hoạch riêng). Đây là công việc quan trọng khởi đầu cho năm học mới và là ngày hội của toàn thể Thầy cô giáo, cán bộ công nhân viên và sinh viên Nhà trường, Ban giám hiệu lên kế hoạch và phân công cụ thể như sau:


    1. Thời gian khai giảng:     Buổi sáng, ngày 18/9/2006 (thứ 2)


    2. Địa điểm:                         Hội trường T45



    3. Thành phần:


    – Khách mời (Phòng HC Tổng hợp trình BGH và mời)


    – Đảng ủy, Ban giám hiệu


    – Công đoàn, Đoàn TN, Hội sinh viên, TTGD


    – Các Phòng, Khoa, Ban, Trung tâm, Công ty, Văn phòng


    – Toàn thể các Thầy cô giáo, Cán bộ CNV Nhà trường


    – Bí thư, Phó bí thư các Liên chi; Lớp trưởng các lớp; Bí thư các Chi đoàn trong toàn trường.


    – Toàn thể sinh viên khóa 48 chính quy, 48 Cao đẳng, Dự bị 49 và sinh viên các lớp Tại chức khóa 41.



    4. Phân công chuẩn bị và thực hiện:


    – Phòng Hành chính Tổng hợp: Chuẩn bị thư của Chủ tịch nước; Lên kế hoạch chi tiết về khách mời trình Ban giám hiệu duyệt và tiến hành gửi giấy mời, đăng lịch; Chuẩn bị chương trình, khai mạc tuyên bố lý do giới thiệu Đại biểu, bế mạc và dẫn chương trình buổi lễ; Lập kế hoạch và kinh phí đón tiếp khách mời trình Ban giám hiệu duyệt và thực hiện; Bố trí nước phục vụ khai giảng; Theo dõi nhắc nhở các đơn vị thực hiện theo kế hoạch của Ban giám hiệu.


    – Phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên: Trang trí khánh tiết ngày khai giảng, Hội trường T45, lên sơ đồ vị trí khách mời, cán bộ giáo viên và vị trí các lớp sinh viên dự buổi lễ; Chuẩn bị diễn văn Khai giảng của Ban giám hiệu, quyết định thành lập các lớp khóa 48 Chính quy, Cao đẳng và khóa 41 Tại chức; Chuẩn bị danh sách, quyết định, giấy khen và phần thưởng cho các sinh viên khóa 48 đạt điểm cao; Chịu trách nhiệm về âm thanh, ánh sáng phục vụ buổi lễ; Phối hợp chuẩn bị chương trình văn nghệ chào mừng ngày khai giảng; Liên hệ mời và đón tiếp Đài truyền hình, báo chí về đưa tin ngày khai giảng; Chuẩn bị trống Khai giảng; Bố trí và mua hoa trang trí Hội trường, hoa tặng sinh viên được khen thưởng.


    – Phòng Đào tạo:  Chuẩn bị báo cáo kết quả tuyển sinh 2006.


    – Phòng Tài vụ: lập dự trù kinh phí trình BGH duyệt, thực hiện theo dự toán được duyệt.


    – Ban quản lý ký túc xá: tổ chức vệ sinh sạch sẽ khu Ký túc xá, đốc thúc sinh viên nội trú đi dự lễ khai giảng đầy đủ, đúng giờ và đúng thành phần.


    – Phòng Quản trị: làm vệ sinh sạch sẽ, bố trí 2 dãy bàn đầu Hội trường (lấy bàn ở SĐH), chuẩn bị đủ ghế (tổng cộng khoảng 1200 ghế) tại Hội trường T45; Vệ sinh khu vực trường, đặc biệt là khu vực sân vườn nhà hành chính và cổng chính; Làm việc với chi nhánh điện Đống đa để đảm bảo phương án cấp điện ngày khai giảng; Bố trí tổ giảng đường trực để phục vụ học bù theo lịch.


    – Trạm y tế: chuẩn bị thuốc và trực y tế ngày khai giảng tại phòng làm việc.


    – Phòng Bảo vệ: lên phương án đảm bảo trật tự an ninh trong toàn bộ khu vực trường.


    – Đoàn Thanh niên và Hội sinh viên: Lên kế hoạch, triển khai chương trình văn nghệ chào mừng khai giảng; Chỉ đạo và bố trí Thanh niên tình nguyện tham gia công tác tổ chức; Tổ chức các hoạt động văn thể chào mừng.


    – Ban văn thể: Cùng với Đoàn Thanh niên lên kế hoạch, triển khai chương trình văn nghệ chào mừng khai giảng


    5. Điều chỉnh lịch học:


    Nhà trường mời tất cả các Thầy, Cô giáo và đại diện các lớp trong toàn trường đến dự buổi khai giảng năm học mới, vì vậy các lớp học buổi sáng thứ 2 ngày 18/9/2006 sẽ nghỉ học và học bù vào sáng thứ 7 ngày 23/9/2006.


                Nhận được kế hoạch này yêu cầu các đơn vị khẩn trương xây dựng kế hoạch chi tiết, chỉ đạo và phối hợp với các đơn vị liên quan để thực hiện nghiêm túc.









    Nơi nhận:


    – ĐU, BGH



    – CĐ, ĐTN, HSV, Ban văn thể
    – Các P, K, B, TT,  TTGD


    – Lưu VT, P7


           HIỆU TRƯỞNG

     


                 (Đã ký)


     


     GS.TS Đào Xuân Học

  • Chương trình hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học

    Chương trình hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học

    CHƯƠNG TRÌNH HỘI NGHỊ


     


    8h00 – 8h30: Đón tiếp đại biểu và Ca nhạc chào mừng


    8h30: Khai mạc hội nghị (PGS. TS. Vũ Thành Te – Phó Hiệu trưởng)


    8h35-8h50: Báo cáo tổng kết công tác NCKHSV năm học 2004 – 2005 (TS. Hoàng Thái Đại – Phó trưởng phòng QLKH&HTQT)
    8h55-10g10:
    Các báo cáo khoa học điển hình: (15 phút báo cáo)




















    1.


    Nghiên cứu đập ngăn sông lớn vùng thủy triều dùng phao và bơm chìm


    GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Quốc


    SVTH: Phạm Lan Anh (44C1) – Phạm Tuấn Sơn (43C2)


    2.


    Nghiên cứu xây dựng phần mềm xác định điện năng bảo đảm và xây dựng biểu đồ, điều phối cho các trạm thủy điện có khả năng điều tiết khác nhau.


    GVHD: PGS.TS. Nguyễn Duy Liêu


    SVTH: Phạm Văn Khởi (43Đ)


    3.


    Chương trình tính thủy lực cống ngầm


    GVHD: ThS. Trần Hữu Hoàng


    SVTH: Trần Trường Vũ


    4.


    Hệ thống trả lời điểm thi qua mạng điện thoại- TelMark


    GVHD: GV Đỗ Văn Hải


    SVTH: Nguyễn Huy Hùng, Nguyễn Ngọc Đăng (44TH)


    5.


    Thiết kế và chế tạo Robot điều khiển bằng cơ khí nén trong cuộc thi sáng tạo Robocon 2006.


    GVHD: ThS. Phạm Đức Đại – ThS. Trương Chí Công


    SVTH: Nguyễn Tô Phương (44M) và đội tuyển  Robocon 2006 ĐHTL


    10g10-10g55: Khen thưởng (ThS. Đặng Hương Giang – Phó Trưởng phòng CTCT&QLSV ). Trao giải thưởng Vifotech 2006
    10g55-11g20 : Đại biểu phát biểu


    11g20-11g30: BGH trường ĐHTL tổng kết hội nghị

  • GS.TS. Harianto Rahardjo đã có chuyến thăm, làm việc tại trường Đại học Thuỷ lợi

    GS.TS. Harianto Rahardjo đã có chuyến thăm, làm việc tại trường Đại học Thuỷ lợi


     Từ ngày 22/02/2006 đến ngày 26/02/2006 GS.TS. Harianto Rahardjo đã có chuyến thăm, làm việc tại trường Đại học Thuỷ lợi. Trong thời gian  thăm, GS.TS Harianto Rahardjo đã có buổi làm việc với GS.TS. Đào Xuân Học hiệu trưởng nhà trường.  Trong buổi làm việc này, hai bên đã bàn về chương trình hợp tác trong các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học cũng như việc trường Đại học Công nghệ Nanyang giúp đỡ học bổng đào tạo bậc tiến sỹ cho các giảng viên trường Đại học Thuỷ lợi.  Hai bên cũng đã đặt vấn đề về cùng hợp tác giảng dạy bậc đại học và sau đại học tại trường Đại học thuỷ lợi.


     Chiều ngày 25/02/2005, tại hội trường 223, dưới sự chủ trì của PGS.TS. Lê Đình Thành, phó hiệu trưởng nhà trường, GS.TS. Harianto Rahardjo đã trình bày về chương trình đào tạo bậc Đại học và sau đại học ngành Xậy dựng và môi trường nói chung cũng như chuyên ngành Địa kỹ thuật nói riêng của trường Đại học Công nghệ Nanyang. Tham dự buổi hội thảo này gồm có: PGS.TS. Phạm Ngọc Quý, Phó  hiệu trưởng nhà trưòng, Đại diện các phòng, khoa và các thầy cô giáo bộ môn Địa kỹ thuật. Buổi hội thảo đã diễn ra trong không khí rất sôi nổi mang lại nhiều thông tin bổ ích về chương trình đào tạo đại học và sau đại học.


     Cũng trong thời gian này GS.TS Harianto Rahardjo đã có một ngày giảng bài cho các học viên cao học Đại học Thuỷ lợi về “Mất ổn định mái dốc do mưa”.  Ngoài các học viên cao học tham dự lớp học này, còn có các GS.TS, các giảng viên trẻ, cán bộ đang công tác trong và ngoài trường.  Buổi học ngắn hạn này đã mang lại nhiều kiến thức, thông tin bổ ích cho các cán bộ đang học tập, giảng dạy, nghiên cứu và làm việc trong lĩnh vực Địa kỹ thuật công trình. Trong thời gian này, GS cũng đã kiểm tra tiếng Anh của ứng cử viên làm nghiên cứu sinh bậc tiến sỹ tại trường Đại học Công nghệ Nanyang Singapore.


    Chuyến thăm và làm việc của GS.TS trong khuôn khổ hợp tác giữa trường Đại học Thuỷ lợi và trường NTU đã đạt hiệu quả như dự định.


    Đôi nét về GS.TS.  Harianto Rahardjo:


    GS.TS. Harianto Rahardjo tốt nghiệp Tiến sĩ, Thạc sĩ chuyên ngành Địa kỹ thuật tại trường Học viện Saskatchewan, Saskatoon, Canada và tốt nghiệp Đại học ngành Xây dựng tại Học viện công nghệ Bản đung, Inđônêsia.


    GS.TS Rahardjo đã có hơn 25 năm kinh nghiệm trong tư vấn, giảng dạy và nghiên cứu trong lĩnh vực Địa kỹ thuật.  GS. TS là thành viên chuyên ngành hội các kỹ sư của Singapore và Saskatchewan, Canada.  GS.TS là thành viên chủ chốt trong uỷ ban thuộc hội cơ học đất và Địa kỹ thuật công trình  về cơ học đất không bão hoà (ISSMGE) và thành viên của uỷ ban Kỹ thuật Địa kỹ thuật Châu Á (ATC3) về các tai biến tự nhiên.


    GS.TS. Rahardjo đã nghiên cứu rất sâu rộng về cơ học đất không bão hoà để giải các bài toán về Địa kỹ thuật liên quan tới đất tàn tích vùng nhiệt đới, trương nở, đất lún sụt.  Các nghiên cứu hiện tại của GS. TS tập trung về trượt mái dốc do mưa, đó là một trong những vấn đề môi trường chính ảnh hưởng tới rất nhiều nước trong vùng nhiệt đới.  Hoạt động nghiên cứu này đã đưa sự phát triển kỹ thuật đất trong phòng của đất không bão hoà vùng nhiệt đới  tại học viện Công nghệ Nanyang (NTU).  GS. TS là đồng tác giả của cuốn sách giáo khoa đầu tiên về Cơ học đất không bão hoà “Cơ học đất cho đất không bão hoà”, xuất bản tại nhà xuất bản John Wiley năm 1993 và khoảng hơn 200 bài báo về kỹ thuật.  GS.TS đồng thời đã trình bày nghiên cứu của mình tại rất nhiều bài giảng chính/bài giảng được mời và các khoá học ngắn hạn tại rất nhiều nước khác nhau.


    GS. TS Rahardjo đã làm việc như các nhà tư vấn cho các dự án khác nhau cho 1 số công ty và viện quốc gia ở Singapore, Malaysia, Hồng kông, Trung quốc, Canada và Inđônêsia.


     


     Một số hình ảnh :


















    Tiếp đón GS Rahardjo ở phòng khách
    Chụp ảnh lưu niệm với GS
    GS Rahardjo đang giảng bài

  • Chùm ảnh tại hồ chứa nước Cửa Đạt

    Chùm ảnh tại hồ chứa nước Cửa Đạt




    Một số hình ảnh của Đoàn công tác Trường ĐH Thuỷ lợi do PGS.TS Lê Đình Thành làm trưởng đoàn tại “Dự án hồ chứa Của Đạt”




























     

  • Nội dung ý tưởng dự án đê biển VŨNG TÀU – GÒ CÔNG

    Ý TƯỞNG DỰ ÁN TUYẾN ĐÊ BIỂN VŨNG TÀU – GÒ CÔNG

     

     

     
    GS.TS. Đào Xuân Học-Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy Lợi, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Thủy Lợi

    1.Đặt vấn đề
        Dự án đê biển từ Vùng Tàu đến Gò Công liên quan trực tiếp đến vùng đất trũng thấp thuộc lưu vực sông Vàm Cỏ và hệ thống sông Đồng Nai, bao gồm khu vực Đồng Tháp Mười và khu vực thành phố Hồ Chí Minh.
        Khu vực TP. Hồ Chí Minh nằm ở vùng cửa nhiều con sông lớn thuộc hệ thống sông Đồng Nai, sát với biển nên chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những biến động dòng chảy trên sông, dòng triều trên biển, trong đó ảnh hưởng của biển mang tính thống trị. Địa hình thấp trũng, hướng ra biển với trên 60% đất đai thành phố có cao trình thấp dưới 2m, những vùng trũng thấp có cao trình từ 0m đến 0.5m là những vùng ngập triều thường xuyên đất hoang hóa. Nhiều hồ chứa lớn đã và đang được xây dựng ở thượng lưu, lượng lũ được giữ lại, lưu lượng bình quân muầ lũ giảm nhiều, nên dòng chảy trong sông yếu dần. Ngược lại dòng triều tác động ngày càng mạnh lên và đang có xu thế ngày càng gia tăng, vấn đề xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt đã và đang xảy ra nghiêm trọng trên sông Sài Gòn, ảnh hưởng trực tiếp đến nhà máy cấp nước cho thành phố. Việc san lấp các vùng trũng lấy đất xây dựng, xây dựng đê ngăn lũ, ngăn triều, ngăn mặn dọc sông làm tập trung dòng chảy, dòng triều vào trong sông, làm dâng cao mức nước đỉnh triều và hạ thấp mức nước chân triều. Biên độ triều tăng dẫn đến năng lượng triều gia tăng, thời gian truyền triều từ biển vào rút ngắn, dòng chảy trên sông bị dồn nén, xói lở bờ gia tăng, khả năng tiếp nhận nước mưa từ hệ thống tiêu không thuận lợi. Cùng với tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng làm cho vấn đề ngập úng của TP. HCM ngày càng thêm trầm trọng.
        Vùng Đồng Tháp Mười ĐTM cũng là vùng trũng thấp khó thoát nước, xu hướng ngập lũ trong nội đồng ngày càng gia tăng về chiều sâu ngập và thời gian ngập. Việc tiêu nước ra sông Tiền ngày càng hạn chế do chiều dài kênh dẫn nước ngày càng dài do các khu dân cư tiếp tục phát triển sâu vào vùng Đồng tháp Mười. Hướng tiêu thuận lợi cho vùng ĐTM là sông Vàm Cỏ, tuy nhiên do tác động của nước biển dâng, sự gia tăng của động năng dòng triều nên vấn đề tiêu thoát theo hướng này cũng ngày càng khó khăn. Nhiều vùng chua phèn của tỉnh Long An vẫn chưa được giải quyết, môi trường vùng giáp nước không được cải thiện. Vấn đề xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt xảy ra thường xuyên tác động lớn đến sản xuất của Tỉnh Long An. Vào mùa khô phải xả nước từ hồ Dầu Tiếng xuống sông Vàm Cỏ để đẩy mặn là giải pháp tình thế không phù hợp về dài lâu. Hệ thống thủy lợi Gò Công đã được hoàn chỉnh, tuy nhiên những năm qua nước mặn xâm nhập bao quanh toàn hệ thống dẫn đến tình trạng thiếu nước ngọt và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
        Vấn đề biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã và đang tác động mạnh mẽ tới vấn đề xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt ở tỉnh Long An trên sông Vàm Cỏ, ở hệ thống thủy lợi Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang, ở TP. HCM trên sông Sài Gòn, tác động đến vấn đề úng ngập của TP. HCM, đến vấn đề ngập lũ của vùng ĐTM. Mưa cực đoan trên lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn và tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, kết hợp triều cường – nước biển dâng sẽ càng gây sức ép đến hệ thống tiêu thoát nước làm gia tăng tình trạng ngập lụt cho Thành phố.
        Để giải quyết tình trạng ngập úng do triều và lũ ở TP. HCM, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trình Chính phủ phê duyệt quy hoạch với việc xây dựng hệ thống đê bao và cống ở các kênh lớn ven bờ hữu sông Sài Gòn, Nhà Bè, Soài Rạp và bờ tả sông Vàm Cỏ và Vàm Cỏ Đông. Quy hoạch chủ yếu tập trung giải quyết vùng đô thị đông dân cư, các vùng còn lại sẽ được giải quyết và xem xét ở giai đoạn II. Trong giai đoạn II trong chương trình chống ngập úng cho TP.HCM cần phải xây dựng cống lớn trên sông Lòng Tàu và Soài Rạp. Để giải quyết vấn đề xâm nhập mặn, trữ ngọt và tăng cường khả năng thoát lũ cho vùng ĐTM trên sông Vàm Cỏ, chúng ta cũng cần sớm xây dựng cống lớn trên sông Vàm Cỏ. Chương trình đê biển tử Quảng Ngãi đến Kiên Giang đã được Chính phủ phê duyệt và đang thực hiện. Đê biển thuộc khu vực Thành phố Hồ Chí Minh cũng rất cần được xây dựng ngay nhưng đang khó khăn trong việc lựa chọn phương án tuyến vì hệ thống kênh rạch lớn quá nhiều.
        Việc xây dựng tuyến đê biển từ Vũng Tàu đến Gò Công là công trình sẽ đem lại hiệu ích tổng hợp cho phát triển kinh tế xã hội trong vùng và vùng miền Tây Nam Bộ.

    2.       Mục tiêu của dự án
        Chống lũ lụt và ngập úng cho toàn vùng TP. Hồ Chí Minh trước mắt và lâu dài, tăng cường khả năng thoát lũ, chống ngập úng, chống xâm nhập mặn cho TP. Hồ Chí Minh và vùng ĐTM trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng; phòng chống thiên tai và các tác động từ biển cho toàn bộ khu vực TP. Hồ Chí Minh và vùng ĐTM, rút ngắn khoảng cách giao thông, tạo sự liên kết giữa các tỉnh miền Tây với Vũng Tầu và các tỉnh ở Nam Trung Bộ, mở rộng các khu đô thị mới cho TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, phát triển du lịch, điện năng và phát triển kinh tế xã hội cho khu vực.

    3. Nội dung đề xuất dự án
    Xuất phát từ nhu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, quản lý nước và phát triển bền vững kinh tế xã hội trong vùng, dự án đê biển bao gồm một tuyến đê dài 32 km, xuất phát từ Vũng Tàu đến Gò Công, chiều sâu nước  trung bình 6 m, nơi sâu nhất 12m và một cống kiểm soát triều, thoát lũ và các âu thuyền phục vụ giao thông thủy, mặt đê rộng 50m. Sau khi đê được xây dựng sẽ tạo được một hồ chứa với diện tích mặt nước 56.000ha chưa kể diện tích bán ngập, dung tích hồ chứa khoảng 3,3 tỷ m3 chưa kể khối lượng nước ở trong các sông khoảng gần 2 tỷ m3, trục giao thông kết nối Vũng Tàu với miền Tây.

    4. Những tác động tích cực của dự án
        a. Chống lũ, chống ngập lụt và các thiên tai từ biển: Thông qua cống kiểm soát triều ở đê, ta có thể  khống chế mực nước trong hồ theo yêu cầu; với diện tích mặt nước 56.000ha và dung tích hồ chứa 3,3 tỷ m3, ta có thể chứa lũ, chứa nước mưa khi triều lên, khi triều rút thì xả nước mưa và lũ, như vậy khả năng thoát lũ của các sông sẽ tăng lên tạo điều kiện thoát lũ vùng ĐTM và khu vực TP.HCM, theo kết quả tính toán sơ bộ tổng lượng nước được tiêu sẽ tăng lên xấp xỉ 2 lần trong cùng một đơn vị thời gian. Do đó mực nước trên sông sẽ được hạ thấp, tạo điều kiện tăng khả năng thoát nước mưa từ hệ thống cống rãnh trong thành phố. Con đê lớn và bền vững có thể ngăn chặn tất cả các loại thiên tai từ biển như bão, sóng thần, nơi tránh trú bão cho các loại tầu thuyền ở khu vực.
        b. Kiểm soát mặn: Đỉnh triều cao là nguyên nhân chính gây nên tình trạng xâm nhập mặn, do chủ động kiểm soát được mực nước trong hồ, nên tình trạng xâm nhập mặn sẽ không sâu vào đất liền và có thể khống chế theo mong muốn.
        c.  Tạo ra trục giao thông thuận lợi kết nối các vùng: Hiện nay từ các Tỉnh miền Tây đi Vũng Tàu phải lên TP.HCM và từ TP Hồ Chí Minh đi Vũng Tàu dài 116 km đường bộ. Khi trục đê biển hình thành, từ thị xã  Tiền Giang đi đến Vũng Tàu chỉ còn 70km.  Đặc biệt khi tuyến đê biển kết hợp với đường giao thông ven biển được thi công xong sẽ tạo sự kết nối rất thuận lợi dọc theo đường biển từ Phan Rang – Phan Thiết – Vũng Tàu – các tỉnh miền Tây Nam bộ. Tạo quỹ đất rộng rãi dọc hai bên đê để xây dựng cảng biển cho Vũng Tàu, Tiền Giang và các tỉnh trong vùng.
        d. Tạo quỹ đất để phát triển: Với diện tích 56.000 ha mặt nước mới được tạo ra và còn khoảng 5.000ha vùng trũng thấp bán ngập ven hồ, ven sông chưa được sử dụng, chúng ta sẽ dành một phần đất để phát triển các khu công nghiệp, du lịch, dịch vụ và các khu đô thị thuộc thành phố Vũng Tàu, Tp. HCM, Tiền Giang và Long An. Riêng TP. HCM diện tích vùng trũng thấp khoảng gần 100.000ha chưa được khai thác, hoặc khai thác chưa hiệu quả sẽ trở thành vùng đất màu mỡ hoặc phát triển đô thị, mở rộng thành phố ra phía biển một cách rất an toàn.
    Bà Rịa – Vũng Tàu có một vị trí thuận lợi cho việc phát triển du lịch, được đánh giá là một trong những điểm du lịch trọng tâm của đất nước. Sau khi xây dựng xong đê, có thể tiến hành xây dựng khu đô thị an toàn giữa hồ chứa sẽ tạo khu du lịch độc đáo và hấp dẫn, vừa có cảnh quan độc đáo vừa có môi trường sinh thái tự nhiên đặc biệt.
        e.  Sử dụng năng lượng thuỷ triều, điện gió: Hiện nay trên thế giới đang khuyến khích sử dụng năng lượng sạch, dự án sẽ sử dụng dung tích của hồ để khai thác năng lượng thuỷ triều phục vụ phát triển kinh tế xã hội trong vùng. Theo tính toán sơ bộ nếu đầu tư xây dựng trạm thủy điện sử dụng năng lượng thủy triều có thể đem lại:  Công suất lắp máy khoảng 300.000kw, điện lượng 2,0 *109 kwh đã trừ 3 tháng mùa lũ không điều hành phát điện. Ngoài ra dọc theo tuyến đê có thể bố trí một số quạt gió để phát điện.
        f. Là nơi dự trữ nguồn nước ngọt trong tương lai: Về lâu dài trong điều kiện BĐKH, những tác động từ phía thượng lưu gây nên cạn kiện về nguồn nước, không đủ nước ngọt cung cấp cho khu vực TP.HCM và vùng ĐTM khi đó ta có chuyển hồ thành hồ nước ngọt để phục vụ cho dân sinh kinh tế trong vùng, khi đó các hệ sinh thái nước lợ sẽ được chuyển dần sang sinh thái nước ngọt. Với khoảng gần 5 tỷ m3 kể cả trong sông chúng ta có thể đảm bảo an ninh về nước trong bất kể sự diễn biến nào ở thượng lưu.
       g. Giảm vốn đầu tư xây dựng các cống lớn và hệ thống đê trong khu vực: Xây dựng đê biển và một sống ngăn triều chúng ta giảm được ít nhất 3 cống lớn sẽ phải xây dựng trong thời gian tới: Cống Vàm Cỏ khoảng 800m đã nghiên cứu xây dựng tiền khả thi năm 2005; cống trên sông Lòng Tàu đáy sông sâu 30m, rộng khoảng 300m và Soài  Rạp rộng khoảng 3km, sâu khoảng 20m. Cống trên đê sẽ nhỏ hơn ba cống ở trên. Các cống trong dự án chống ngập úng ở TP. HCM sẽ được xem xét lại về sự cần thiết và quy mô trong thời gian tới. Hệ thống đê sông của Long An, hệ thống đê biển của TP.HCM và vùng Gò Công của Tiền Giang khoảng 300km không cần xây dựng mới ở TP. HCM và nâng cấp.
       i. Tạo động lực phát triển kinh tế xã hội trong vùng: Những vùng đất rộng lớn được khai thác cho phát triển nông nghiệp, du lịch, dịch vụ, các khu công nghiệp, khu đô thị, tạo sự kết nối và rút ngắn khoảng cách giao thông; toàn vùng sẽ an toàn trước thiên tai từ biển, từ lũ lụt, xâm nhập mặn là tiền đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế xã hội trong vùng.
      
     5.  Những tác động tiêu cực
    – Về môi trường: Với mục tiêu chính đã nêu ở trên do có cống điều tiết chỉ ngăn đỉnh triều để chống ngập triều, ngập lũ cho thành phố và tăng khả năng tiêu thoát lũ, hồ phía trong đê vẫn là hồ nước mặn nên không ảnh hưởng đáng kể đến hệ sinh thái khu vực bên trong đặc biệt là khu dự trữ sinh quyển rừng Cần Giờ.
        – Giao thông thủy: Các tàu thuyền đi vào trong hồ và các sông đều phải đi qua âu thuyền, đây là khó khăn lớn nhất cần quam tâm giải quyết, tuy nhiên với công nghệ hiện nay ta có thể xây dựng nhiều âu thuyền hiện đại không gây ách tắc giao thông thủy trong khu vực.
        – Ảnh hưởng đến luồng cá đi, trong thiết kế sẽ bố trí luồng cá đi.

      6. Cơ chế thực hiện
        Kinh phí xây dựng đê, cống, thủy điện sử dụng năng lượng triều và đường giao thông sẽ chủ yếu do các thành phần kinh tế, các tập đoàn được hưởng lợi từ quỹ đất để xây dựng đô thị, du lịch và các dịch vụ. Nhà nước hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, lập dự án, thiết kế và một phần nhỏ trong xây dựng.


    Tuyến đê biển nối Vũng Tàu đến Gò Công

    Các thông tin cơ bản về tuyến đê từ Vũng Tàu đến Gò Công
        + Chiều dài tuyến đê:     32.000 m
        + Diện tích mặt mước:    56.000 ha
        + Độ sâu nước trung bình:    6 m, sâu nhất 12m
        + Dung tích hồ chứa:    3.300.000.000 m3 chưa kể trong sông
        + Mặt đê làm trục giao thông rộng 50m, dài 32km
        + Kinh phí ước tính sơ bộ:    30.000.000.000.000 đ

    (Theo www.wrd.gov.vn)