Danh mục: Tin tức & thông báo

  • Chùm hoạt động của Trường Đại học Thủy lợi nhân dịp kỷ niệm 64 năm ngày thương binh liệt sỹ 27/7

    Chùm hoạt động của Trường Đại học Thủy lợi nhân dịp kỷ niệm 64 năm ngày thương binh liệt sỹ 27/7

    Chuyến thăm Trung tâm Điều dưỡng thương binh Duy Tiên – Hà Nam


    Nhân dịp kỷ niệm 64 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2011),ngày 26/7, GS.TS. Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường đã thay mặt Nhà trường tới thăm và tặng quà Trung tâm điều dưỡng thương binh Duy Tiên, Hà Nam – Một trong những trung tâm nuôi dưỡng thương binh lớn nhất cả nước. Hiện nay trung tâm đang nuôi dưỡng và điều trị cho hơn 60 thương binh, bệnh binh nặng hạng ¼ của 18 tỉnh thành trên cả nước với tình trạng bản thân liệt cột sống, cụt cả hai chân, mù hai mắt.








    (Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu và lãnh đạo các đơn vị, tổ chức tại buổi lễ)


    Những năm qua, trường Đại học Thủy Lợi là một trong rất nhiều các đơn vị tổ chức từ Trung ương đến địa phương cho đến cả các doanh nghiệp tư nhân đã tới đây thể hiện sự quan tâm và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với những thương binh, bệnh binh – Những người đã hy sinh một phần thân thể của mình tại nơi chiến trường ác liệt vì sự độc lập tự do của Tổ quốc, hạnh phúc ấm no cho nhân dân. Năm nay, Trung tâm vinh dự được đón tiếp Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu và gần 20 đơn vị, tổ chức doanh nghiệp cá nhân trong đó có trường Đại học Thủy Lợi đến thăm, tặng quà động viên thương, bệnh binh.








    ( Đoàn đại biểu trường Đại học Thủy Lợi tại buổi lễ)


    Có thể nói, trong những ngày tháng 7 qua, khắp mọi miền trên cả nước đã và đang có những hoạt động thiết thực kỷ niệm ngày thương binh liệt sỹ 27/7, tri ân những người đã ngã xuống, đền đáp công ơn các thương, bệnh binh. Những hoạt động đền ơn đáp nghĩa như thế này là những sự chia sẻ kịp thời, những tình cảm quý giá của những con người đang được hưởng cuộc sống bình yên, ấm no ngày nay bày tỏ sự biết ơn tới những người chiến sĩ đã không quản khó khăn, dũng cảm đối mặt với nguy hiểm, đạn bom giành lại chủ quyền cho đất nước, trong đó biết bao nhiêu những người đã không thể trở về, và những người trở về quê nhà với thân thể không lành lặn. Giám đốc Trung tâm Nguyễn Duy Lương đã bày tỏ, cuộc viếng thăm của Bộ trưởng và các cơ quan, đơn vị là những liều thuốc hữu hiệu nhất, những tình cảm quý báu đã giúp cho thương binh vượt qua khó khăn, đau đớn và sự ám ảnh của chiến tranh, chiến thắng thương tật, sống vui tươi và hạnh phúc, không những vậy những sự động viên hết sức quý báu đó sẽ giúp cho cán bộ công nhân viên trung tâm hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn.








    Ngay trong ngày, đoàn công tác do GS.TS Phạm Ngọc Quý dẫn đầu tiếp tục hành trình vào với miền đất Quảng Bình – Quê hương của liệt sĩ Nguyễn Kỳ Sơn một trong những cựu sinh viên của Nhà trường, tác giả của cuốn Nhật ký bằng thơ nổi tiếng đã lên đường chiến đấu và hy sinh tại Quảng Trị trong những ngày tháng ác liệt tháng 5 năm 1972. Ngày 23 /7 vừa qua, hài cốt của liệt sỹ Nguyễn Kỳ Sơn đã được tìm thấy tại mảnh đất Quảng Trị. Cũng trong chuyến công tác 3 ngày từ 26/7 đến 28/7/2011, GS.TS đã làm việc với lãnh đạo sở Xây dựng Hà Tĩnh, Đại học Hà Tĩnh, gặp mặt các cựu sinh viên của trường hiện nay đang là lãnh đạo của công ty Lớn nhỏ miền Trung


    Lãnh đạo Nhà trường gặp mặt và tặng quà các đồng chí thương binh và gia đình liệt sỹ công tác tại trường chiều 27/7


    Tại buổi gặp gỡ nhiều ý kiến xúc động ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc, biết ơn các anh hùng liệt sỹ, các đồng chí thương binh, cựu chiến binh, gia đình có công với cách mạng… đã anh dũng hy sinh bảo vệ độc lập của Tổ quốc, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.


    PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng Nhà trường gửi lời tri ân sâu sắc tới các CBCNV là thương binh, bệnh binh, thân nhân các liệt sĩ – những người đã không tiếc xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đồng thời mong muốn các đồng chí thương binh, thân nhân các gia đình liệt sĩ tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, phẩm chất anh bộ đội cụ Hồ là tấm gương sáng để giáo dục các thế hệ trẻ hôm nay.


    Các đồng chí thương binh, con liệt sỹ, cựu chiến binh cảm ơn sự quan tâm của Đảng uỷ và Lãnh đạo Nhà trường, hứa sẽ luôn gương mẫu trong công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển Nhà trường nói riêng, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung.






    Nhân dịp này, Nhà trường cũng tặng quà các đồng chí thương binh và con liệt sỹ công tác tại trường.


     Ngọc Thăng  – Linh Ngọc

    Thư cảm ơn của cán bộ nhân viên Trung tâm Điều dưỡng thương binh Duy Tiên

  • Chùm ảnh Hồ Chí Minh và những lần tham gia bầu cử.

    Chùm ảnh Hồ Chí Minh và những lần tham gia bầu cử.

    Kính mời độc giả xem những bức ảnh giá trị về Bác Hồ và những lần bầu cử.









    Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận lá phiếu bầu cử Quốc hội và HĐND khóa II ngày 8/5/1960








    Tận tay Bác bỏ lá phiếu bầu cử tại Hà Nội năm 1960








    Bác Hồ tham gia bầu cử Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hà Nội và khu phố Ba Đình ngày 25/4/1965








    Thẻ cử tri của Chủ tịch Hồ Chí Minh cấp ngày 15/4/1965








    Bài viết “Tìm người tài đức” của Bác năm 1946 đăng trên báo Cứu Quốc số 411 ngày 20/11/1946.








    Giấy chứng minh Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa chứng nhận cụ Hồ Chí Minh là đại biểu tỉnh Hà Nội tại Toàn quốc Đại biểu Đại hội năm 1946.








    Nhân dân Sài Gòn trong ngày bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa 23/12/1945








    Nhân dân lao động thủ đô Hà Nội cổ động cho ngày tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 6/1/1946








    Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi chuyện một cử tri cao tuổi sau khi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội khóa II








    Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa sau cuộc tổng tuyển cử trong cả nước năm 1946, Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch nước








    Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Quốc hội đầu tiên của Hà Nội ra mắt cử tri tháng 2/1946








    Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa I (12/1956) Chủ tịch Hồ Chí Minh xúc động khi nói đến đồng bào Miền Nam








    Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh công bố Hiến Pháp sửa đổi năm 1960








    Bác thăm khu vực bầu cử A.10, Khu Ba Đình, Hà Nội tháng 4/1964








    Bác Hồ tham gia bầu cử HĐND thành phố Hà Nội ngày 27/4/1969 – Năm cuối cùng Bác bầu cử trước khi qua đời








     Sau khi Bác mất, Quốc Hội khóa III kì họp thứ 5 tổ chức trọng thể lễ Truy điệu. Quốc hội nhất trí bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước và đồng chí Nguyễn Lương Bằng làm Phó Chủ tịch nước – Báo Nhân Dân ngày 25/9/1969




    (Anh Nguyễn sưu tầm theo Dantri.com)

  • Nghị quyết hướng dẫn một số điểm về tổ chức cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.

    UỶ BAN THƯỜNG VỤ
    QUỐC HỘI

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Nghị quyết số: 1020/2011/UBTVQH12

    Hà Nội, ngày 14 tháng 02 năm 2011

     

    NGHỊ QUYẾT

    HƯỚNG DẪN MỘT SỐ ĐIỂM VỀ VIỆC TỔ CHỨC CUỘC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XIII VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2011 – 2016

    ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
    NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    – Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 31/2001/QH10;
    – Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11;
    – Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12,

    QUYẾT NGHỊ:

    Điều 1. Cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử

    Cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử, ứng cử theo quy định tại Điều 2 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và năm 2010 (sau đây gọi chung là Luật bầu cử đại biểu Quốc hội) và Điều 2 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (sau đây gọi chung là Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) được thực hiện như sau:

    1. Tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân được tính từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong Giấy khai sinh đến ngày bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (sau đây gọi là ngày bầu cử) đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định (ngày 22/5/2011). Trường hợp không có Giấy khai sinh thì căn cứ vào Sổ hộ khẩu hoặc Giấy chứng minh nhân dân để tính tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.

    Mỗi tuổi tròn được tính từ ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm trước đến ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm sau.

    2. Trường hợp không xác định được ngày sinh thì lấy ngày 01 của tháng sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Trường hợp không xác định được ngày và tháng sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.

    Điều 2. Lập danh sách cử tri và niêm yết danh sách cử tri

    Việc lập danh sách cử tri, niêm yết danh sách cử tri theo quy định tại các điều 22, 24 và 27 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, các điều 23, 24 và 28 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:

    1. Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, đủ mười tám tuổi trở lên và không thuộc các trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri quy định tại khoản 8 của điều này thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký thường trú và thực hiện quyền bầu cử tại nơi đó;

    2. Trong thời gian lập danh sách cử tri, những người có giấy chứng nhận chuyển đi của cơ quan có thẩm quyền ở nơi cư trú cũ thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi cư trú mới để tham gia bầu cử, cụ thể như sau: thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú đến đơn vị hành chính cấp tỉnh khác thì được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội.

    3. Sinh viên, học sinh, học viên có sổ tạm trú ở các trường chuyên nghiệp, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi học tập, công tác hoặc nơi đóng quân để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.

    4. Cử tri là người lao động tại các khu công nghiệp tập trung, các doanh nghiệp có đăng ký tạm trú, lưu trú thì được ghi tên vào danh sách cử tri để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.

    5. Kể từ ngày niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bỏ phiếu, cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị vũ trang nhân dân đang đi công tác và những người di cư tự do, đi lao động, làm việc, đi thăm người thân, đi du lịch ở nơi nào thì xuất trình với Uỷ ban nhân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi mới đến Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” do Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc do chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân cấp để được ghi tên bổ sung vào danh sách cử tri, tham gia bỏ phiếu ở nơi đó và được tính vào tổng số cử tri ở nơi mới đến. Nếu họ chưa có Thẻ cử tri, Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi mới đến yêu cầu những người này liên hệ với Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc chỉ huy đơn vị nơi lập danh sách cử tri trước ngày niêm yết danh sách cử tri để nhận Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” để được bầu cử ở nơi mới đến. Nếu thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện thì được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh thì được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú đến đơn vị hành chính cấp tỉnh khác thì được bầu đại biểu Quốc hội.

    6. Công dân Việt Nam công tác, lao động, học tập, du lịch, thăm người thân hoặc định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ, thì đến Uỷ ban nhân dân cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký thường trú); được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (nếu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú).

    7. Đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh lập danh sách cử tri và cấp giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác”.

    8. Những trường hợp không được ghi tên, xóa tên hoặc bổ sung tên vào danh sách cử tri được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 25 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Điều 3. Về việc ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

    Công dân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 2, Điều 3 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Điều 2, Điều 3 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân không quá hai cấp; nếu đã ứng cử đại biểu Quốc hội thì chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp.

    Những người không được ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại Điều 29 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 31 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Điều 4. Về việc kê khai tài sản, thu nhập khi ứng cử

    Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải kê khai tài sản, thu nhập theo quy định tại mục 4 chương II của Luật phòng, chống tham nhũng; Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập; Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP ngày 13 tháng 11 năm 2007 của Thanh tra Chính phủ.

    Bản kê khai tài sản, thu nhập của người ứng cử là tài liệu trong Hồ sơ ứng cử.

    Điều 5. Căn cứ tính số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân

    1. Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân của mỗi đơn vị hành chính được tính trên cơ sở dân số theo quy định tại Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Số liệu dân số do Cục Thống kê cung cấp tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2010.

    2. Đối với các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có từ ba mươi đơn vị hành chính trực thuộc trở lên được bầu trên bốn mươi đại biểu; số lượng cụ thể do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

    Điều 6. Đơn vị bầu cử

    Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) được xác định là huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), liên huyện hoặc liên xã; đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện được xác định là xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), liên xã hoặc liên thôn; đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã được xác định là thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố, khối phố (gọi chung là thôn, tổ dân phố), hoặc liên thôn, liên tổ dân phố.

    Trường hợp thành lập hai đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở một đơn vị hành chính huyện, xã hoặc ở một thôn, tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân cấp bầu cử có trách nhiệm xác định ranh giới rõ ràng, hợp lý giữa các đơn vị bầu cử để tổ chức thực hiện bầu cử thuận lợi.

    Điều 7. Số người ứng cử ở đơn vị bầu cử

    1. Số người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử được thực hiện theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.

    Trường hợp Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội làm cho số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi thống nhất với Uỷ ban bầu cử, chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội và báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định; nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người đạt yêu cầu trên thì Uỷ ban bầu cử báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định việc chuyển người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử có số dư nhiều nhất trong cùng tỉnh, thành phố đến đơn vị bầu cử không có số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu Quốc hội được bầu. Trong trường hợp không chọn được người có tín nhiệm cao nhất trong danh sách đã Hiệp thương lần thứ ba và không thể chuyển người ứng cử từ đơn vị bầu cử khác đến thì Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.

    2. Số người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử được thực hiện theo quy định tại Điều 42 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Trường hợp Uỷ ban bầu cử quyết định xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân làm cho số người trong danh sách ứng cử ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn hai người so với số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Uỷ ban bầu cử sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người đạt yêu cầu trên thì Uỷ ban nhân dân cấp bầu cử quyết định việc giảm số đại biểu được bầu ở đơn vị bầu cử khuyết người ứng cử, trình Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; đối với đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thì do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Chính phủ phê chuẩn.

    Điều 8. Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội

    Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định tại Điều 29 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội được thực hiện như sau:

    1. Người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị chết, thì Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử để xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội.

    2. Trường hợp người ứng cử đã được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, nhưng trong thời gian Hội đồng bầu cử chưa công bố danh sách này mà người đó có hành vi vi phạm pháp luật thì xử lý như sau:

    a) Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc xoá tên người ứng cử đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật đã được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu;

    b) Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi trao đổi ý kiến với Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc xoá tên người ứng cử đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật đã được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giới thiệu.

    Điều 9. Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân

    Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại Điều 31 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:

    Người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị chết, thì Uỷ ban bầu cử, sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Điều 10. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Quốc hội và ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân

    1. Trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định tại Điều 49 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội được thực hiện như sau:

    a) Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử. Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theoquy định của pháp luật.

    Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử thì có quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với Hội đồng bầu cử. Quyết định của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng.

    b) Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử ngưng việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử.

    Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội thì Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.

    c) Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.

    d) Hội đồng bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.

    2. Trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại Điều 43 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:

    a) Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử. Ban bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo thẩm quyền.

    Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì có quyền khiếu nại với Uỷ ban bầu cử. Quyết định của Uỷ ban bầu cử là quyết định cuối cùng.

    b) Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử ngưng việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử.

    Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân thì Uỷ ban bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.

    c) Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.

    d) Uỷ ban bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Thường trực Hội đồng nhân dân khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.

    Điều 11. Vận động bầu cử của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

    Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm.

    Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương nào thì thực hiện quyền vận động bầu cử ở địa phương đó.

    Điều 12. Mục đích, yêu cầu vận động bầu cử

    1. Việc tổ chức vận động bầu cử có mục đích sau đây:

    a) Tạo điều kiện cho người ứng cử gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri để báo cáo với cử tri dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu;

    b) Tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    2. Việc tổ chức vận động bầu cử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

    a) Công khai, dân chủ, bình đẳng và xây dựng trong vận động bầu cử, tạo không khí trao đổi thẳng thắn, cởi mở giữa người ứng cử và cử tri;

    b) Không được lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, uy tín và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;

    c) Không biến vận động bầu cử thành nơi để khiếu nại, tố cáo hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo;

    d) Không được lạm dụng uy tín, chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử;

    đ) Không được lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình;

    e) Không được sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân để lôi kéo, mua chuộc cử tri;

    g) Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình vận động bầu cử.

    Điều 13. Hình thức, nội dung vận động bầu cử

    1. Việc vận động bầu cử của người ứng cử được tiến hành thông qua việc gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương nơi mình ứng cử tổ chức; trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng; gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người ứng cử công tác.

    2. Nội dung vận động bầu cử của người ứng cử bao gồm:

    a) Người ứng cử trình bày dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

    b) Người ứng cử trình bày ý kiến của mình về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

    c) Người ứng cử và cử tri trao đổi về những vấn đề cùng quan tâm;

    d) Người ứng cử trả lời các câu hỏi của cử tri.

    Điều 14. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong vận động bầu cử

    1. Uỷ ban bầu cử chỉ đạo công tác vận động bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về vận động bầu cử ở địa phương.

    2. Các cơ quan báo chí ở trung ương có trách nhiệm đưa tin về tình hình vận động bầu cử trong phạm vi cả nước, đưa tin về hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình tổ chức bầu cử.

    3. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình.Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong việc tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    4. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và chính quyền địa phương các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tạo điều kiện cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình; bảo đảm cho việc tổ chức vận động bầu cử được tiến hành công khai, dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật.

    5. Các cơ quan thông tin đại chúng ở địa phương có trách nhiệm đưa tin về Hội nghị tiếp xúc cử tri, trả lời phỏng vấn của những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và tình hình vận động bầu cử ở địa phương.

    Điều 15. Tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử

    1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp giới thiệu những nội dung cơ bản về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương để người ứng cử đại biểu Quốc hội xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình.

    Người được trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương nào cần kết hợp nghiên cứu tình hình địa phương đó và tình hình chung của cả nước để xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình;

    2. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; thành phần gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.

    Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã phối hợp với Ủy ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri, thành phần gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.

    Uỷ ban nhân dân nơi tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri có trách nhiệm thông báo về thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị để cử tri tham dự đông đủ.

    3. Chương trình hội nghị tiếp xúc cử tri gồm các nội dung sau đây:

    a) Tuyên bố lý do;

    b) Đại diện Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc chủ trì cuộc tiếp xúc cử tri, giới thiệu và đọc tiểu sử tóm tắt của người ứng cử;

    c) Từng người ứng cử báo cáo với cử tri về dự kiến việc thực hiện trách nhiệm của người đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

    d) Cử tri nêu ý kiến, đề đạt nguyện vọng của mình với những người ứng cử. Người ứng cử và cử tri trao đổi dân chủ, thẳng thắn và cởi mở những vấn đề cùng quan tâm;

    đ) Người chủ trì Hội nghị phát biểu ý kiến kết thúc Hội nghị.

    4. Sau Hội nghị tiếp xúc cử tri, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương, ý kiến của cử tri về từng người ứng cử đại biểu Quốc hội gửi đến Hội đồng bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính phủ; Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương mình gửi Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp.

    Điều 16. Vận động bầu cử trên các phương tiện thông tin đại chúng

    1. Người ứng cử đại biểu Quốc hội tiếp xúc, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội của Hội đồng bầu cử để trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội.

    Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử của Ủy ban bầu cử (nếu có) để trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Hội đồng bầu cử, Ủy ban bầu cử có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quản lý trang thông tin điện tử thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc đăng tải nội dung vận động bầu cử;

    2. Trên cơ sở chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sở Thông tin và Truyền thông cùng cấp tổ chức việc đăng tải nội dung phỏng vấn người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương, bảo đảm bình đẳng, đúng pháp luật, công bằng giữa những người ứng cử, tuân thủ các quy định về vận động bầu cử.

    Điều 17. Kinh phí vận động bầu cử

    Kinh phí vận động bầu cử do ngân sách nhà nước cấp từ kinh phí hoạt động thường xuyên của các cơ quan, tổ chức và kinh phí phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.

    Điều 18. Thời gian tiến hành vận động bầu cử

    Việc tổ chức để những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện quyền vận động bầu cử được bắt đầu từ ngày công bố danh sách những người ứng cử và kết thúc hai mươi bốn giờ trước giờ bỏ phiếu.

    Điều 19. Thẻ cử tri

    Người đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì được phát thẻ cử tri

    Thẻ cử tri của công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú ký tên và đóng dấu; đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ký tên và đóng dấu.

    Thẻ cử tri của công dân ở đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị ký tên và đóng dấu.

    Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri.

    Điều 20. Về biểu mẫu và dấu bầu cử

    Hội đồng bầu cử quy định mẫu thẻ cử tri, mẫu phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội, mẫu phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, mẫu Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” và các biểu mẫu khác phục vụ bầu cử.

    Hội đồng bầu cử quy định mẫu dấu của các tổ chức phụ trách bầu cử và giao cho Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc khắc dấu bầu cử trong địa phương mình.

    Điều 21. Địa điểm bỏ phiếu

    Địa điểm bỏ phiếu (phòng bỏ phiếu) phải được trang trí trang nghiêm, tiết kiệm, thuận tiện cho cử tri đến bầu cử, có đầy đủ bàn, ghế, bút, mực và các vật dụng khác phục vụ cho việc bầu cử.

    Điều 22. Xác định phiếu hợp lệ và phiếu không hợp lệ

    1. Những phiếu sau đây là phiếu hợp lệ:

    a) Phiếu bầu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát, có dấu của Tổ bầu cử;

    b) Phiếu bầu đủ hoặc ít hơn số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;

    c) Phiếu bầu gạch tên ứng cử viên không được tín nhiệm bằng cách gạch chéo, gạch xiên, gạch dọc hoặc gạch ngang, nhưng phải gạch hết họ và tên.

    2. Những phiếu sau đây là phiếu không hợp lệ:

    a) Phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát;

    b) Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử;

    c) Phiếu để số người được bầu quá số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;

    d) Phiếu gạch, xoá hết họ, tên những người ứng cử;

    đ) Phiếu ghi tên người ngoài danh sách những người ứng cử; phiếu có viết thêm; phiếu gạch vào khoảng cách giữa họ và tên hai ứng cử viên; phiếu khoanh tròn họ và tên ứng cử viên.

    Điều 23. Báo cáo tình hình trong ngày bầu cử

    1. Trong ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo với Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ; Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và cấp trên trực tiếp về các nội dung sau:

    a) Các điều kiện phục vụ cho ngày bầu cử;

    b) Những thuận lợi, khó khăn về giao thông, thời tiết ảnh hưởng đến việc bầu cử;

    c) Số cử tri đi bầu và tiến độ cử tri đi bầu;

    d) Dư luận trong nhân dân về cuộc bầu cử và những người ứng cử;

    đ) Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    e) Những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn.

    2. Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo trực tiếp bằng điện thoại, thư điện tử hoặc fax đến Hội đồng bầu cử theo tiến độ hai giờ một lần. Kết thúc ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo đầy đủ với Hội đồng bầu cử các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này bằng fax; ở những nơi có sự cố đột xuất xảy ra, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc bầu cử thì phải báo cáo ngay với Hội đồng bầu cử để xin ý kiến chỉ đạo.

    3. Uỷ ban bầu cử có bộ phận thường trực để tiếp nhận thông tin từ các Ban bầu cử, Tổ bầu cử gửi đến.

    Điều 24. Biên bản xác định kết quả bầu cử

    1. Sau khi kết thúc cuộc bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương theo mẫu do Hội đồng bầu cử ban hành.

    2. Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ và Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp. Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp. Ban bầu cử gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Uỷ ban bầu cử.

    3. Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử có bộ phận tiếp nhận Biên bản xác định kết quả bầu cử.

    Hội đồng bầu cử tiếp nhận Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội tại những điểm sau:

    a) Văn phòng Quốc hội, số 37 đường Hùng Vương, quận Ba Đình, Hà Nội;

    b) Vụ Công tác miền Trung và Tây nguyên, số 4 đường Trần Quý Cáp, thành phố Đà Nẵng;

    c) Nhà khách Văn phòng Quốc hội – 165 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

    Điều 25. Công bố kết quả bầu cử

    1. Sau khi nhận và kiểm tra Biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng bầu cử lập Biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước, Uỷ ban bầu cử lập Biên bản tổng kết cuộc bầu cử ở địa phương mình.

    2. Căn cứ vào Biên bản tổng kết cuộc bầu cử, Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước, Uỷ ban bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử ở địa phương mình.

    Điều 26. Tổng kết cuộc bầu cử

    Hội đồng bầu cử có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử trong phạm vi cả nước; Uỷ ban bầu cử có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương.

    Nội dung tổng kết cuộc bầu cử bao gồm:

    1. Đánh giá quá trình chuẩn bị cuộc bầu cử:

    a) Các bước chuẩn bị bầu cử theo quy định của pháp luật, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;

    b) Việc tổ chức tiếp xúc cử tri nơi công tác, nơi cư trú, nơi bầu cử, vận động bầu cử của những người ứng cử;

    c) Việc hướng dẫn, chỉ đạo công tác bầu cử của Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử ở địa phương;

    d) Việc tổ chức các Hội nghị hiệp thương;

    đ) Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quy định của pháp luật về bầu cử và các văn bản hướng dẫn bầu cử của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;

    e) Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương trong thời gian chuẩn bị bầu cử và trong ngày bầu cử;

    g) Việc xem xét, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến cuộc bầu cử;

    h) Sự phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức phụ trách bầu cử và các cơ quan, tổ chức hữu quan;

    i) Việc sử dụng kinh phí bầu cử.

    2. Những kinh nghiệm từ việc tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016:

    a) Việc chuẩn bị các điều kiện cho cuộc bầu cử;

    b) Việc chuẩn bị nhân sự ứng cử đại biểu;

    c) Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến cuộc bầu cử;

    d) Đánh giá về công tác lãnh đạo, chỉ đạo bầu cử ở địa phương.

    3. Kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc tổ chức cuộc bầu cử.

    Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi Báo cáo tổng kết bầu cử tại địa phương đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã gửi Báo cáo tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp.

    Điều 27. Không tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường ở các địa phương đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Các huyện, quận, phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân theo Điều 1 của Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì không tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016 của cấp đó, không thành lập Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.

    Điều 28. Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Việc thành lập Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện theo các quy định của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.

    Danh sách Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn phải được báo cáo lên Ủy ban nhân dân và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện.

    Điều 29. Thành lập Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tại phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Ủy ban nhân dân phường sau khi thống nhất với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt người gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, tập thể cử tri ở địa phương.

    Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ bầu cử thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 1 và khoản 6 Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.

    Điều 30. Gửi biên bản Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện, quận đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Sau khi kết thúc các Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn, biên bản hiệp thương phải được gửi ngay đến Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.

    Điều 31. Tổ chức hội nghị cử tri ở phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Hội nghị cử tri ở phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân để lấy ý kiến nhận xét những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức theo đơn vị tổ dân phố nơi cư trú thường xuyên của người ứng cử do Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì.

    Điều 32. Gửi biên bản xác định kết quả bầu cử, biên bản tổng kết và báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện, quận đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân gửi biên bản xác định kết quả bầu cử, biên bản tổng kết và báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình đến Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, thị trấn và Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện, quận.

    Điều 33. Hiệu lực thi hành

    Các tổ chức phụ trách bầu cử và các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan có trách nhiệm thực hiện Nghị quyết này.

    Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày ký.

    Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 1078/2007/NQ/UBTVQH11 ngày 29/01/2007.

     

     

    TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
    CHỦ TỊCH

    Nguyễn Phú Trọng

     

  • Hội thảo nâng cao chất lượng luận văn thạc sỹ, tiến sỹ và thu hút nghiên cứu sinh Trường Đại học Thủy lợi

    Hội thảo nâng cao chất lượng luận văn thạc sỹ, tiến sỹ và thu hút nghiên cứu sinh Trường Đại học Thủy lợi

    Từ khi được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học đến nay, Trường Đại học Thủy lợi đã đào tạo được 82 tiến sỹ, tuyển sinh được 18 Khóa Cao học và 16 Khóa đã tốt nghiệp với 1235 học viên được cấp bằng thạc sỹ kỹ thuật. Việc đào tạo sau đại học tại Trường Đại học Thủy lợi đã có bước phát triển mạnh mẽ trong những năm qua với nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên, cùng với việc mở rộng về quy mô thì để giữ vững và nâng cao chất lượng cũng là vấn đề thường xuyên , là một khó khăn thách thức không nhỏ đang đặt ra cho công tác đào tạo. Bên cạnh đó, đào tạo NCS cũng là một nhiệm vụ không thể thiếu ở một trường đại học, nó vừa là nhu cầu của Nhà trường để nâng cao thương hiệu và chất lượng đội ngũ giảng dạy vừa đáp ứng nhu cầu xã hội.


    Với mong muốn tìm ra những giải pháp xây dựng công tác sau đại học của Nhà trường, Trường Đại học Thủy lợi  tổ chức Hội thảo “ Nâng cao chất lượng luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ và thu hút nghiên cứu sinh” ngày 18/3/2011.







    GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường chủ trì Hội thảo “Nâng cao chất lượng luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ và thu hút nghiên cứu sinh”



    Hội thảo diễn ra vói sự tham dự của Ban Giám hiệu Nhà trường, các thầy cô giáo và quy tụ được các nhà khoa học, nhà giáo lão thành tâm huyết với công tác giảng dạy và hướng dẫn cao học trong nhiều năm qua như GS.TS NGND Nguyễn Xuân Bảo, GS.TS NGND Lê Kim Truyền, GS.TSKH Vũ Trọng Hồng, GS.TS Ngô Trí Viềng, GS.TS Ngô Đình Tuấn, GS.TS Nguyễn Công Mẫn; GS.TS Bùi Hiếu, GS.TS Nguyễn Văn Mạo…,  đại biểu đến từ các trường bạn như: ĐH Kiến trúc, ĐH Giao thông vận tải,  ĐH Khoa học tự nhiên ĐH QG Hà Nội…, các Trung tâm, viện nghiên cứu trong và ngoài trường.


    Sau Báo cáo tổng quan về tình hình thực hiện luận văn cao học quá trình học tập của các NCS trong những năm qua PGS.TS Lê Văn Ước – Phó Trưởng phòng Đào tạo đại học và Sau đại học trình bày, Hội thảo đã lắng nghe các tham luận sau:


    + Một số suy nghĩ về nâng cao chất lượng đào tạo NCS và thu hút họ vào học tại Trường Đại học Thủy lợi – GS.TS NGND Lê Kim Truyền.


    +  Yêu cầu nội dung luận văn thạc sỹ, những giải pháp về nâng cao chất lượng luận văn thạc sỹ, các chính sách thu hút NCS – PGS.TS Trần Viết Ổn.


    + Góp ý về dự thảo “Nâng cao chất lượng luận văn thạc sỹ” và trao đổi về chất lượng đào tạo tiến sỹ và thu hút NCS – GS.TSKH Vũ Trọng Hồng


    + Tạo dựng hướng nghiên cứu và công tác đào tạo cán bộ – PGS.TS Nguyễn Quốc Dũng – Viện trưởng Viện Thủy công, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam.


    Dưới sự chủ trì của GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường, Hội thảo đã tập trung thảo luận một số vấn đề sau: Những giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ; Biện pháp thu hút NCS trong giai đoạn tới nhằm đáp ứng với cơ chế thị trường; Những vấn đề cơ bản tạo điều kiện cho NCS có thể hoàn thành luận án?


    Sau thời gian thảo luận nghiêm túc, hội thảo đã được nghe nhiều ý kiến và đề xuất tập trung giải quyết các vấn đề đã nêu ra ở trên.Đối với các học viên cao học, hạn chế cơ bản được hội nghị chỉ ra hiện nay đó là trình độ ngoại ngữ, quỹ thời gian giành cho học tập có hạn do đa số học viên vừa học vừa làm, trong đó người học cũng chưa thực sự phát huy được sự tích cực chủ động của mình. Để nâng cao chất lượng của luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ, ý kiến chung của đa số đại biểu tham dự là phải thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các giải pháp từ khâu quản lý học tập, nâng cao ý thức trách nhiệm của học viên trong quá trình học, đồi ngũ thày có chất lượng, có chế độ động viên hợp lý đối với cán bộ giảng dạy và cán bộ hướng dẫn, gắn kết khoa học vào công tác hướng dẫn cao học, lựa chọn đề tài có tính sáng tạo, gần với tiễn, phù hợp với năng lực bản thân học viên, NCS và định hướng công tác có thể phát triển được trong tương lai,  Nhà trường quan tâm tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, học liệu…


    Đào tạo NCS trong nước không chỉ là nhiệm vụ, uy tín của mỗi cơ sở đào tạo mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật nước nhà, tuy nhiên số lượng NCS trong nước còn ít,  đó cũng là tình trạng chung của các trường Đại học ở Việt Nam. Các đại biểu dự hội thảo đã thảo luận và nhất trí một số giải pháp thu hút NCS trong giai đoạn hiện nay như như:  Tăng cường công tác quản lý NCS , tăng cường mối quan hệ giữa NCS và Bộ môn quản lý ( quy định thời gian sinh hoạt tập trung và bố trí phòng làm việc cho các NCS nhằm phát huy tính tự giác, độc lập…); tạo điều kiện tối đa cho NCS tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, dự hội thảo quốc tế…nâng cao tính khả thi trong việc hoàn thành luận án, lễ bảo vệ và trao bằng tổ chức trang trọng nghiêm túc, thể hiện sự coi trọng công lao của thày và trò, tôn vinh đề cao việc học hành của NCS …v.v…











       

     











       


                                              Một số tham luận và  ý kiến tại hội thảo


    Các đại biểu từ các Trường bạn tham dự hội thảo đã đưa ra một số ý kiến rất thiết thực nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học: xây dựng chương trình đào tạo thạc sỹ mang tính quốc tế, tăng cường giám sát quản lý quá trình học tập và làm luận văn thạc sỹ của các học viên cao học, có sự liên kết về đội ngũ giáo viên với các trường có chuyên môn gần để trao đổi kinh nghiệm.


    Với tinh thần khoa học, hiệu quả, Hội thảo đã kết thúc thành công trong buổi sáng cùng ngày với nhiều ý kiến quý báu đóng góp cho công tác đào tạo sau đại học của Nhà trường, mục tiêu ban đầu của Hội thảo đã thu lại kết quả tốt đẹp.


    Tin và Ảnh: Hà Linh Ngọc


     

  • Gặp mặt chúc tết các cán bộ, nhà giáo lão thành nhân dịp Xuân Tân Mão

    Gặp mặt chúc tết các cán bộ, nhà giáo lão thành nhân dịp Xuân Tân Mão

        Là một nét đẹp truyền thống từ nhiều năm nay, hàng năm cứ vào dịp Tết đến Xuân về, Trường Đại học Thủy lợi tổ chức buổi gặp mặt thân mật chúc Tết giữa lãnh đạo Nhà trường với tập thể các giáo viên, cán bộ viên chức đã nghỉ hưu từng công tác tại trường. Buổi gặp mặt ngày 21-1-2011 mang ý nghĩa  lớn lao nhằm ôn lại truyền thống vẻ vang, chia sẻ chúc mừng những thành tích, những bước phát triển mới của Nhà trường trên con đường thực hiện chiến lược phát triển và cùng gặp gở thăm hỏi, chăm lo đời sống giáo viên, cán bộ công nhân viên thế hệ lão thành. Đến dự buổi lễ có:GS. Vũ Trọng Hồng – Nguyên Thứ trưởng Bộ NN và PTNT; GS.TS NGND Nguyễn Xuân Bảo – Nguyên Hiệu trưởng Nhà trường; GS.TS NGND Lê Kim Truyền – Nguyên Hiệu trưởng Nhà trường; Ông Phạm Chơn – Nguyên BTĐU, Chủ tịch Công đoàn trường; Ông Nguyễn Xuân Lược – Nguyên BTĐU Nhà trường, cùng các đồng chí nguyên là lãnh đạo Nhà trường các thời kì, các cán bộ nhà giáo lão thành nay đã nghỉ hưu của Nhà trường; về phía Nhà trường có đại diện Đảng ủy, BGH, cùng lãnh đạo các đơn vị trong Trường.








    GS.TS Phạm Ngọc Quý – BTĐU, Phó Hiệu trưởng Nhà trường phát biểu chúc mừng các cán bộ, nhà giáo lão thành nhân dịp Xuân Tân Mão



        Thay mặt lãnh đạo Nhà trường, GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường đã  có bài phát biểu báo cáo những thành tựu, sự lớn mạnh và đường lối phát triển của Nhà trường đồng thời bày tỏ lòng biết ơn đối với các thế hệ cán bộ giáo viên đã không ngừng nỗ lực phấn đấu đóng góp cho nhà trường trong những chặng đường đã qua để có được như ngày hôm nay. Đồng chí Bí thư Đảng ủy – Phó Hiệu trưởng nhà trường cũng gửi đến các đồng chí giáo viên cán bộ lão thành của Nhà trường cùng gia đình những lời chúc mừng năm mới an khang, thịnh vượng, hạnh phúc nhân dịp tết Nguyên đán Tân Mão .


        Không khí của buổi gặp mặt luôn chân thành, nồng ấm với tình cảm đồng chí đồng nghiệp, tay bắt mặt mừng của những cán bộ, những thầy cô giáo gắn bó cuộc đời với Đại học Thủy lợi, với sự nghiệp giáo dục đào tạo của đất nước; và khi vui tươi sôi nổi, khi thiết tha sâu lắng với những tiết mục giao lưu văn nghệ, ca nhạc, đọc thơ ngẫu hứng của những đại biểu tham dự.  Tuy đã nghỉ công tác nhưng các cụ, các bác, các thầy cô giáo vẫn luôn quan tâm dõi theo từng bước đi, vui mừng trước những thành công mới của trường và tin tưởng vào con đường mà lãnh đạo Nhà trường đã chọn sẽ đưa nhà trường phát triển và hội nhập.







    Bác Phạm Chơn – Nguyên BTĐU, Chủ tịch CĐ trường thể hiện ca khúc “Cuộc đời vẫn đẹp sao”


        Một mùa Xuân mới lại về, đất nước thay áo mới bằng những chồi non lộc biếc, trăm hoa đua nở, ngọn gió xuân ấm áp xua tan giá lạnh cuối năm và năm mới với những hy vọng dự định mới đem lại những cảm xúc rạo rực trong mỗi chúng ta. Cùng giành những lời chúc tốt đẹp nhất cho mái trường Đại học Thủy lợi thân yêu và thế hệ hôm nay sẽ không ngừng phấn đấu vươn lên xứng đáng kế thừa và phát huy những thành quả mà cha anh đi trước đã gây dựng.



        Tin và ảnh: Hà Linh Ngọc

  • Những chặng đường vinh quang

    Những chặng đường vinh quang








    Bác Hồ tại Đại hội Đảng lần thứ III



    Dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam đã được tiến hành tại Cửu Long, Hồng Kông (Trung Quốc). Hội nghị đã nhất trí về việc hợp nhất Đảng, tán thành lấy tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chính cương vắn tắt; Sách lược vắn tắt; Điều lệ vắn tắt… do đồng chí Nguyễn Ái Quốc khởi thảo.


    Từ đó ngày 3-2-1930 được coi là ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 10-1930, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hồng Kông (Trung Quốc). Hội nghị đã quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương và bầu đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư của Đảng.


    Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Các Đại hội của Đảng là sự cụ thể hóa và hiện thực hóa mục tiêu chiến lược của Đảng và là những cột mốc đánh dấu sự phát triển của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.


    Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng họp từ ngày 27 đến 31-5-1935 tại Ma Cao (Trung Quốc).


    Đại hội họp trong bối cảnh cao trào cách mạng 1930 – 1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh mặc dù bị dìm trong bể máu nhưng đã dần dần được khôi phục. Với sự tham dự của 13 đại biểu thay mặt cho gần 6 nghìn đảng viên, Đại hội đã đề ra 3 nhiệm vụ chính trước mắt của Đảng: Một là, củng cố và phát triển Đảng; Hai là, thu phục quảng đại quần chúng; Ba là, chống chiến tranh đế quốc. Thông qua nghị quyết chính trị và Điều lệ Đảng, các nghị quyết về công tác quần chúng…


    Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 13 người (9 ủy viên chính thức và 4 ủy viên dự khuyết). Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Ban chấp hành Trung ương nhất trí cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc là đại biểu của Đảng bên cạnh Quốc tế cộng sản.


    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang từ ngày 11 đến 19-2-1951.


    Đại hội lần thứ II của Đảng họp trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta chuyển sang thế phản công chiến lược, đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhận được sự giúp đỡ của các nước XHCN là Liên Xô, Trung Quốc.


    Đại hội đã thông qua Chính cương; Tuyên ngôn và Điều lệ mới của Đảng. Đại hội đã xác định: Cách mạng Việt Nam là “Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân” và “cuộc cách mạng này nhất định sẽ đưa Việt Nam tiến tới Chủ nghĩa xã hội”.


    Đại hội đã quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức, 10 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất bầu Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên chính thức và 1 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.


    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960 tại Hà Nội.


    Đại hội lần thứ III của Đảng họp trong bối cảnh đất nước tạm thời bị chia cắt thành 2 miền. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đã bắt tay vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và đạt nhiều thành tựu rực rỡ. Miền Nam tạm thời bị chủ nghĩa thực dân mới là đế quốc Mỹ thống trị.


    Đại hội lần thứ III của Đảng đã vạch ra đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền đất nước: Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, hoàn thành cách mạng dân tộc – dân chủ nhân dân ở miền Nam.


    Hai miền có nhiệm vụ chung, bao trùm là đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất nước nhà. Đại hội lần thứ III của Đảng đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 47 ủy viên chính thức và 31 ủy viên dự khuyết. Hội nghị Ban Chấp hành trung ương lần thứ nhất đã bầu Bộ Chính trị gồm 11 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết.


    Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng; đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.


    (Còn tiếp)


    TS Phạm Hữu Tiến


     (Theo Tienphong)

  • Sinh viên Đại học Thủy Lợi nhận giải thưởng Loa Thành.

    Sinh viên Đại học Thủy Lợi nhận giải thưởng Loa Thành.

    Giải thưởng loa thành được tổ chức thường niên mỗi năm một lần do Tổng hội xây dựng, hội Kiến trúc sư Việt Nam, Bộ giáo dục và Đào tạo, Bộ xây dựng … đứng ra tổ chức dưới sự bảo trợ của Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam và sự tài trợ của Công ty cổ phần Sông Đà-Thăng Long. Đây cũng được coi là một giải pháp đã và đang thử nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học nhằm mang lại hiệu quả lớn hơn với sự nghiệp tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Năm 2010 cuộc thi lần thứ 22, Ban tổ chức đã tiếp nhận 114 đồ án từ 15 trường đại học và quyết định trao 1 giải nhất , 19 giải nhì và nhiều giải khác. Theo đánh giá chung từ Ban tổ chức và Hội đồng chuyên ngành và Hội đồng giả thưởng thì chất lượng đồ án dự thi năm nay là khá đồng đều , nhưng ít có đồ án xuất sắc. Lượng các trường tham chỉ khoảng 15-16 trong tổng số 41 trường đại học trong cả nước có đào tạo các chuyên ngành thuộc khối Kiến trúc và Xây dựng. Tuy nhiên thì có thể thấy đối với các trường thì việc chuẩn bị tham gia giải thưởng Loa Thành đã trở thành một hoạt động có sức hút lớn không thể thiếu đối với các trường đại học có đào tạo ngành kiến trúc và xây dựng.







    PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng Nhà trường cùng các thầy cô giáo và sinh viên nhận giải thưởng Loa Thành tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám.


    Sáng ngày 27/11, lễ trao giải  giải thưởng Loa Thành lần thứ 22 đã được diễn ra tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, với mục đích tôn vinh những thành quả lao động của các thầy cô giáo và trao giải thưởng cho các sinh viên có đồ án tốt nghiệp xuất sắc nghành Kiến trúc-Xây dựng. Đến dự buổi lễ long trọng này có thành phần Hội đồng giải thưởng Loa Thành, các thầy cô giáo, các sinh đến từ các trường tham gia giải thưởng Loa Thành. Đoàn Trường Đại học Thủy Lợi tham dự buổi trao giải này có PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng Nhà trường làm trưởng đoàn, các thầy cô giáo hướng dẫn và sinh viên dự thi. Năm nay trường đại học Thủy Lợi có 13 đồ án dự thi và đã đạt được  tổng cộng 12 giải: 4 giải nhì, 5 giải ba và 3 giải khuyến khích, Trong số những đồ án được trao giải thì đồ án “nghiên cứu vận hành hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Ba” của Đặng Quang Toàn do ThS. Hoàng Thanh Tùng hướng dẫn đã nhận giải nhì và được đánh giá cao cho độ tin cậy vầ khả năng ứng dụng.


    Năm nay giải thưởng Loa Thành chỉ có 1 giải Nhất duy nhất, việc sinh viên Đại học Thủy Lợi có tổng số 12/13 giải thưởng Loa Thành là nguồn động viên khích lệ lớn đối với sinh viên cũng như với các thầy cô giáo. Xin chúc cho kết quả này sẽ nhân lên trong những giải Loa Thành tiếp theo.


    Nguyễn Thị Văn


    (Anh Nguyên BT)

  • Công bố quyết định của Hiệu trưởng: Bổ nhiệm lãnh đạo các đơn vị và thành lập 3 trung tâm trực thuộc viện Kỹ thuật công trình

    Công bố quyết định của Hiệu trưởng: Bổ nhiệm lãnh đạo các đơn vị và thành lập 3 trung tâm trực thuộc viện Kỹ thuật công trình

    Tại Hội trường 223 ngày 1/11 , Nhà trường đã long trọng tổ chức buổi lễ công bố các quyết định:


    –          Giao nhiệm vụ cho bà Phạm Thị Hương Lan giữ chức vụ Viện trưởng Viện Thuỷ văn môi trường và biến đổi khí hậu, kiêm nhiệm giữ chức vụ Trưởng Khoa Thủy văn và Tài nguyên nước


    –          Bổ nhiệm có thời hạn ông Nguyễn Mai Đăng – Giảng viên BM Thuỷ văn và Tài nguyên nước – Khoa Thuỷ văn và Tài nguyên nước giữ chức vụ Phó Viện trưởng Viện Thuỷ văn môi trường và biến đổi khí hậu.


    –          Giao nhiệm vụ cho ông Nguyễn Văn Sơn – Phó trưởng Khoa Năng lượng giữ chức vụ Phó Viện trưởng Viện Kỹ thuật công trình kiêm nhiệm Giám đốc Trung tâm Thuỷ điện và năng lượng tái tạo trực thuộc Khoa Công trình


    –          Bổ nhiệm có thời hạn ông Lê Xuân Khâm – Giảng viên BM Thuỷ công Khoa Công trình giữ chức vụ Phó Viện trưởng Viện Kỹ thuật công trình


    –          Bổ nhiệm có thời hạn ông Phạm Xuân Đồng – Phó Trưởng BM Toán học – Khoa CNTT giữ chức vụ Phó Trưởng Khoa Công nghệ thông tin.


    –          Bổ nhiệm có thời hạn ông Phí Quốc Cường – Kỹ sư Phòng Quản trị giữ chức vụ Phó trưởng Phòng Quản trị.


    Đồng thời buổi lễ cũng công bố các quyết định thành lập 3 trung tâm trực thuộc Viện Kỹ thuật công trình:


    –          Trung tâm Tư vấn thiết kế và đầu tư xây dựng công trình


    –          Trung tâm Tư vấn kiểm định và giám sát chất lượng công trình


    –          Trung tâm Kỹ thuật Thuỷ điện và Năng lượng tái tạo.










    GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường trao Quyết định bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo các đơn vị và thành lập 3 trung tâm trực thuộc Viên Kỹ thuật Công trình









     Lãnh đạo Nhà trường tặng hoa chúc mừng


    Phát biểu tại buổi lễ. GS.TS Nguyễn Quang Kim một lần nữa đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện chủ trương của nhà trường trong công tác kiện toàn bộ máy tổ chức ngày một hoàn thiện hơn nhằm giữ vững và nâng cao vị thế của Nhà trường; đồng thời Hiệu trưởng mong muốn rằng, các đồng chí cán bộ được bổ nhiệm sẽ tiếp tục phát huy năng lực, tâm huyết của mình, đoàn kết với các cán bộ trong đơn vị, hoàn thành tốt công việc được giao, xứng đáng với sự tin tưởng của Lãnh đạo Nhà trường, của các cán bộ công nhân viên trong trường trong việc gắn kết phát huy hiệu quả hơn nữa của các công tác đào tạo – NCKH – PVSX.
    Các đồng chí cán bộ được bổ nhiệm cũng phát biểu, bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường đã quan tâm đến sự phát triển chung của đơn vị và  tin tưởng giao phó nhiệm vụ, mong muốn rằng sẽ tiếp tục nhận được sự chỉ đạo sát sao của  Ban Giám hiệu, sự hợp tác chặt chẽ của các đồng chí trong đơn vị cũng như ở các đơn vị trong trường và hứa sẽ cố gắng hết sức mình để hoàn thành công việc  được giao.


    Tin và Ảnh: Hà Linh Ngọc


     


     

  • Buổi làm việc giữa Trường Đại học Thủy Lợi và Tổ chức Phi chính phủ EDF, Mỹ.

    Buổi làm việc giữa Trường Đại học Thủy Lợi và Tổ chức Phi chính phủ EDF, Mỹ.

     


    Hôm qua ngày 11/10/2010 tại Trường Đại học Thủy Lợi đã diễn ra buổi làm việc giữa Nhà trường và tổ chức Phi chính Phủ EDF, Mỹ. Tham dự buổi làm việc này, đại diện phía Nhà trường có GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường, về phía đoàn chuyên gia EDF có ông Seteve Cochran – Giám đốc chương trình Biến đổi khí hậu của EDF, văn phòng EDF – NewYork; bà Jennifer Haverkamp – Giám đốc chương trình Quốc tế của EDF – luật sư văn phòng EDF – Washington DC; bà Jane Hughes – Giám đốc EDF Việt Nam và ông Richie Ahuja – Giám đốc EDF Ấn Độ.


    EDF là viết tắt của Enviromental Defense Fund, là một tổ chức phi chính phủ của Mỹ được phép hoạt động tại Việt Nam trong lĩnh vực biến đối khí hậu, giảm nhẹ thiên tai. Trường Đại học Thủy Lợi là đối tác trong một dự án canh tác lúa Cacbon thực hiện tại đồng bằng sông Cửu Long, với vai trò là hỗ trợ kỹ thuật trong việc đề xuất công thức tưới, đo đạc và phát thải khí nhà kính.


    Mục đích chính của buổi làm việc này là trao đổi thông tin, kinh nghiệm và hướng hợp tác các vấn đề nghiên cứu liên quan đến môi trường và biến đổi khí hậu.
    Cũng trong buổi làm việc này, TS. Nguyễn Việt Anh đã trình bày một số kết quả nghiên cứu về quản lý nước mặt ruộng nhằm giảm phát thải meetan, tiết kiệm nước và không giảm năng suất lúa trên đất phù sa trung tính đồng bằng sông Hồng. Qua đó  có thể thấy ảnh hưởng của chế độ tưới đến sự phá thải khí metan trên ruộng lúa, đồng thời cũng qua nghiên cứu này thấy được sự phá thải giữa các chế độ tưới khác nhau, từ đó có thể tìm ra chế độ tưới có sự phải thấp nhất, không làm giảm năng suất lúa, tính thực tế và khả thi cao. Nghiên cứu này của TS. Nguyễn Việt Anh được đoàn chuyên gia EDF đánh giá cao, nhiều câu hỏi trao đổi giữa Nhà trường và đoàn chuyên gia khá thú vị nhằm hiểu rõ hơn nhưng đặc trưng cơ bản của từng vùng miền như đất và khí hậu ảnh hưởng đến kết quả canh tác nông nghiệp nói chung, bởi như ông ông Richie Ahuja – Giám đốc EDF Ấn Độ đã nói: Lúa liên kết người Châu Á với nhau.


    Với mong muốn học hỏi và hợp tác, GS.TS Nguyễn Quang Kim cũng rất cởi mở trong việc trao đổi với đoàn chuyên gia của tổ chức EDF để giúp họ hiểu rõ hơn các vấn đề gặp phải nói chung của Việt Nam trong biến đổi khí hậu, cụ thể là ảnh hưởng đến canh tác lúa – vấn đề mà Nhà trường đang là đối tác trong sự án canh tác lúa tại đồng bầng sông Cửu Long –  GS. cũng gửi lời cảm ơn tới đoàn chuyên gia và bày tỏ mong muốn được hợp tác liên quan đến giảm thiểu và biến đổi khí hậu.


    Chùm ảnh buổi làm việc:
     







    GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường và thành phần đoàn tham dự buổi làm việc này. 








    Đoàn Tổ chức Phi chính phủ EDF 







    Hai bên đang trao đổi về các vấn đề về ảnh hưởng biến đổi khí hậu đối với đất canh tác (thông qua nghiên cứu được trình bày bởi TS. Việt Anh)








    Đoàn Tổ chức Phi chính Phủ EDF chụp ảnh lưu niệm cùng Nhà trường

    Tin&bài: Nguyễn Vân Anh 

  • MỘT SỐ GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU CỦA NỀN VĂN HIẾN THĂNG LONG – HÀ NỘI

    1. Truyền thống yêu nước, hào khí Thăng Long – Hà Nội


    Thăng Long – Hà Nội là một trong những Thủ đô lâu đời nhất trên thế giới. Trải nghìn năm, Thăng Long – Hà Nội từng bẩy lần bị giặc chiếm đóng, cả bẩy lần quân dân kinh thành đều nhất tề chiến đấu kiên cường. Trước thế mạnh hung hãn của kẻ thù, chưa đủ sức chống đỡ, quân dân ta chủ động thực hiện kế “thanh dã” rút khỏi kinh thành bảo toàn lực lượng, cho quân giặc “tạm đứng chân” ở Thăng Long một thời gian, rồi bao vây quét sạch chúng đi. Thăng Long – Hà Nội có thế “rồng cuộn, hổ ngồi”, có con người dám đánh và biết cách đánh giặc, thời bình thì thực hiện “ngụ binh ư nông”. Giặc đến, trên khắp đồng quê, làng phố người tay cầm cày, tay cầm gươm, người tay cầm bút, tay cầm súng, vừa duy trì cuộc sống, vừa chiến đấu cứu nước cứu nhà. Giặc đến, trai tráng ra trận, bạch đầu quân cũng hướng theo cờ nghĩa, thiếu niên cũng luyện võ, mài đao. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Sức mạnh lòng dân chính là nhân tố đem lại chiến thắng vẻ vang cho đất nước. Thế kỷ XI, nước lân bang chuẩn bị xâm lược nước ta, Lý Thường Kiệt đã chủ động viết hịch “Phạt Tống lộ bố văn” gửi các chúa vùng Ung, Khâm, Liêm rồi mang đại quân tiến thẳng vào sào huyệt để tiêu diệt các kho vũ khí, lương thảo của địch, sau đó lui về lập phòng tuyến vững chắc ở sông Như Nguyệt. Bài thơ “ Nam  quốc sơn hà Nam đế cư” âm vang trên dòng sông Như Nguyệt như lời hiệu triệu của núi sông, khích lệ toàn quân, toàn dân Đại Việt chiến đấu, chiến thắng kẻ thù. Thế kỷ XIII, ba lần quân Nguyên – Mông xâm lược nước ta, ba lần chúng chiếm được kinh thành Thăng Long. Nhưng lần thứ nhất quân dân Đại Việt cho 3 vạn quân Nguyên – Mông “ngủ trọ” trên đất nước ta mười một ngày; lần thứ hai, 50 vạn quân của Thoát Hoan và 10 vạn quân của Toa Đô “ngủ trọ” hơn ba tháng; lần thứ ba, quân dân Đại Việt cho 30 vạn quân Nguyên – Mông “ngủ trọ” 32 ngày, sau đó tổng phản công quét sạch chúng ra khỏi bờ cõi. Hào khí Thăng Long, in đậm trong bài “Hịch tướng sĩ” bất hủ của Trần Hưng Đạo. Thế kỷ XV, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn sau mười năm nằm gai, nếm mật, Bình định vương Lê Lợi và quân sư Nguyễn Trãi đã đem đại quân bao vây thành Đông Quan vừa uy hiếp quân giặc, vừa địch vận, vừa diệt viện binh, buộc quân xâm lược phải bó giáo, lên đàn thề xin rút hết quân về nước. Thế kỷ XVIII, với cuộc hành quân thần tốc, bất ngờ sáng mồng Năm Tết Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung cùng các tướng sĩ Tây Sơn dũng cảm tiêu diệt đồn Ngọc Hồi, Khương Thượng, đánh thọc sâu vào kinh thành Thăng Long, quét sạch 29 vạn quân Thanh ra khỏi kinh thành Thăng Long, đồng thời mở ra giai đoạn hợp nhất đất nước từ Bắc đến Nam. Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp tấn công Hà Nội. Hai tấm gương trung dũng, lẫm liệt “sống chết với Thành Hà” của Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương và Tổng đốc Hoàng Diệu sống mãi với Thủ đô. Trong buổi đầu chống thực dân Pháp, hai lần quân dân Hà Nội mưu trí giết chết sĩ quan chỉ huy của quân Pháp là Gácniê và Rivie ở Cầu Giấy. Chưa thể đuổi giặc ra khỏi thành bằng vũ lực, người dân Hà Nội tìm mọi cách để gây cho quân địch ăn không ngon, ngủ không yên. Những người yêu nước ở Hà Nội đã kết giao lập hội chống thực dân Pháp. Khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, thanh niên, học sinh và người dân Hà Nội không ngại hy sinh, gian khổ, một lòng theo Đảng làm cách mạng. Thời cơ đến, Xứ ủy và Thành ủy Hà Nội nhạy bén phất cờ động viên nhân dân nhất tề đứng lên giành chính quyền, giành quyền làm chủ. Thắng lợi của phong trào cách mạng ở Hà Nội đã cổ vũ nhân dân cả nước Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Hà Nội trở thành Thủ đô của Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Giặc Pháp ngoan cố quay lại xâm lược nước ta, cuộc chiến đấu 60 ngày đêm ở Liên Khu Một với lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã thổi bùng hào khí Thăng Long – Hà Nội, mở đầu cho tám năm trường kỳ kháng chiến. Tháng 10 năm 1954, Hà Nội rực rỡ cờ hoa đón mừng đoàn quân Chiến thắng trở về giải phóng Thủ đô. Đế quốc Mỹ chia cắt đất nước ta, miền Nam còn kẻ thù xâm lược. Tiếng gọi non sông lại thôi thúc các chàng trai, cô gái Hà Nội tạm gác bút nghiên, lên đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Những người ra đi chiến đấu, in dấu chân trên khắp các chiến trường, có mặt trong các chiến dịch Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào, cuộc Tổng tiến công nổi dậy ở Huế – Sài Gòn và kết thúc với sự có mặt của Trung đoàn Thăng Long cắm cờ trên dinh lũy Bộ Tổng tham mưu địch trong chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Những người ở lại vừa tăng gia sản xuất, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn, vừa cầm súng đối mặt với chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ. Dưới mưa bom rải thảm của giặc Mỹ, Hà Nội bình tĩnh, ngoan cường hiệp đồng với các quân, binh chủng lực lượng vũ trang các tỉnh, thành phố miền Bắc, lập nên kỳ tích “Điện Biên Phủ trên không”, đánh sập “uy thế không lực Hoa Kỳ”, buộc chúng phải ký Hiệp định Pa ri rút quân về nước.


    Với tấm lòng yêu nước sắt son, bất khuất, kiên cường, mưu trí, sáng tạo nghìn năm qua người Thăng Long – Hà Nội đã thể hiện sinh động hào khí Thăng Long trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo nên chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại mới. Hà Nội là “Thủ đô anh hùng” của dân tộc Việt Nam anh hùng; Hà Nội là “Thủ đô của phẩm giá con người”, “Thủ đô vì hòa bình”; Hà Nội nơi “lắng hồn núi sông ngàn năm”, tỏa chiếu văn hiến Thăng Long đi khắp mọi miền của Tổ quốc, trở thành niềm tự hào chung của đất nước Việt Nam, tiếp thêm sức mạnh cho mỗi người dân Thủ đô, mỗi người dân Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập vì hạnh phúc lớn của dân tộc.


    2. Truyền thống nhân nghĩa, khát vọng hòa bình


    Hòa bình là khát vọng cháy bỏng của dân tộc ta. Người Thăng Long – Hà Nội cũng như người dân đất Việt không bao giờ muốn chiến tranh. Lịch sử đã ghi nhận lòng khoan dung, nhân ái của nhân dân Thăng Long – Hà Nội ngay cả khi kẻ thù buộc chúng ta phải cầm gươm, cầm súng tự vệ, nhân dân ta vẫn tìm cách “vừa đánh, vừa đàm” cho kẻ thù thoát khỏi cuộc chiến tranh hao người tốn của, tìm cách cho kẻ thù đường rút danh dự.


    Ở vào thời điểm nghĩa quân Lam Sơn đã đánh tan đạo quân tiếp viện của nhà Minh, giết chết tướng Liễu Thăng, quân và dân ta thừa cả thế và lực để tiêu diệt quân địch trong thành Đông Quan. Nhưng với lòng nhân đạo muốn tránh chết chóc cho quân sĩ cả hai bên, tránh cho kinh thành khỏi bị tàn phá và tạo sự hòa hiếu giữa hai nước, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã kiên trì thuyết phục tướng giặc. Nguyễn Trãi viết hàng chục bức thư gửi cho Vương Thông, lời lẽ trong các bức thư vừa thể hiện sự mềm mỏng, khiêm nhường vừa quyết liệt của người đang làm chủ hoàn toàn chiến trường. Vương Thông buộc phải mở cửa thành, lên đàn thề xin rút quân. Với tinh thần nhân đạo cao cả, Lê Lợi đã cấp hàng trăm thuyền, hàng nghìn ngựa, lương thực cho tù binh, hàng binh nhà Minh về nước. Câu chuyện truyền thuyết về vua Lê trả gươm thần cho Rùa vàng ở hồ Lục Thủy tiếp nối một cách tự nhiên trong dòng chảy của lịch sử. Chiến tranh kết thúc hoàn trả Thần Kiếm, đó chính là biểu trưng khát vọng hòa bình của dân tộc ta giữa lòng Thủ đô ngàn năm văn hiến. Nhân nghĩa trở thành truyền thống của dân tộc ta. Trong cuộc giao chiến kẻ địch giơ tay đầu hàng đều được nhân dân ta khoan hồng, đối xử nhân đạo. Chiến tranh kết thúc, nhân dân ta trải thảm cho tù binh, hàng binh về nước an toàn. Hài cốt lính địch bỏ xác trên đất Việt cũng được Nhà nước ta cho tìm kiếm trao trả thân nhân của họ. Nhân dân Thăng Long ngoài việc chôn cất lập đàn chẩn tế chu đáo, còn tu sửa, dựng chùa (chùa Bộc) làm nơi quy y cho vong linh binh sĩ của địch. Hận thù nên cởi, không nên buộc cũng là một triết lý nhân sinh của người Việt. Khắc ghi lịch sử, xóa bỏ hận thù, không quên quá khứ, hướng tới tương lai, đó là truyền thống văn hiến, anh hùng Thăng Long – Hà Nội. Với kẻ thù, người Thăng Long – Hà Nội và người dân Việt Nam luôn thể hiện lòng nhân nghĩa, với đồng bào lòng nhân ái càng được nâng cao, thể hiện bằng hành động thiết thực. Người dân Thăng Long – Hà Nội luôn hằng tâm, hằng sản, góp sức chung tay giúp đỡ mọi người trong cơn hoạn nạn. Đó là nét đẹp trong cuộc sống của người Thăng Long – Hà Nội.


    3. Truyền thống tài hoa – trí tuệ Thăng Long – Hà Nội là đất nghìn năm văn hiến, là trung tâm tiêu biểu cho nhiều kỷ nguyên văn minh của dân tộc ta, như: kỷ nguyên văn minh sông Hồng, kỷ nguyên văn minh Đại Việt, kỷ nguyên văn minh Việt Nam.


    Thăng Long – Hà Nội là nơi hội tụ nhân tài, hội tụ tinh hoa văn hóa – nghệ thuật, hội tụ tri thức. Trí tuệ của cả dân tộc hun đúc cho Thăng Long – Hà Nội và cũng từ đây trí tuệ Thăng Long – Hà Nội tỏa chiếu ra mọi miền của đất nước nâng cao tầm trí tuệ của dân tộc. Thăng Long – Hà Nội là nơi “lắng hồn núi sông ngàn năm”, là nơi để các danh nhân, nghệ nhân phát huy tinh hoa. Năm 1070, Thăng Long có Văn Miếu. Năm 1076, Quốc Tử Giám, nhà Thái học – trường đại học đầu tiên của nước ta được xây dựng, lò luyện “nguyên khí Quốc gia” qua 124 khoa thi đã đào tạo 2.248 tiến sĩ, tên tuổi được vinh danh trên bia đá ở Văn Miếu và sử sách. Thăng Long còn có Giảng Võ Đường, nhà Võ học, đào tạo hàng trăm cống sĩ, võ tướng cho quân đội. Kinh đô Thăng Long là nơi rèn luyện, đào tạo, sản sinh ra:


    “Văn quan cầm bút an thiên hạ.


    Võ tướng đề đao định thái bình”.


    Nền giáo dục Thăng Long – Hà Nội còn lưu danh nhiều nhà giáo tâm huyết với nghề đã tạo nên bao học trò thành danh cho đất nước, như: Chu Văn An, Bùi Xương Trạch, Phù Thúc Hoành, Lê Đức Mao, Đoàn Lệnh Khương, Phạm Quý Thích, Nguyễn Án, Nguyễn Văn Siêu, Vũ Tông Phan, Nguyễn Quý Đức, Lương Văn Can…. Noi gương Chu Văn An “người thày của muôn đời”, nhiều nhà giáo đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp trồng người, trung thực với nghề, cam sống hàn vi, không ham danh vọng, bổng lộc. Khẩu ngữ “Tiên học lễ, hậu học văn” còn để lại tới hôm nay. Thăng Long – Hà Nội còn tiêu biểu cho nền văn hoá lâu đời của dân tộc, là nơi hội tụ khách văn chương cả nước. Một thi xã Tao Đàn đời Hồng Đức làm sáng cả mảng văn học thời Lê. Một văn phái Ngô Thì với bao tác phẩm văn chương đồ sộ, khiến trăm họ ngưỡng mộ. Bên những văn nhân, thi nhân người Hà Nội, như: Nguyễn Trãi, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Đặng Trần Côn, Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Lượng, Phan Huy Chú, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Lý Văn Phức, bà huyện Thanh Quan…còn có những ngôi sao gốc tứ trấn, có người sinh ở Hà Nội, như: Lý Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương…, có người xứ Đoài, xứ Đông, xứ Bắc, xứ Nam, như: Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Thân Nhân Trung, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phạm Đình Hổ, Lê Quý Đôn…sự nghiệp, công danh được lập trên đất Thăng Long.


    Thăng Long – Hà Nội là nơi đào tạo trí thức lớn nhất cả nước, trí tuệ, nhân cách của trí thức Hà Nội tỏa sáng. Các sĩ tử học đạo Thánh hiền, các “tao nhân, mặc khách” bầu rượu, túi thơ” trọng nghĩa, trọng tài lập nghiệp thành danh trên đất đế đô đều có chung phong cách đối nhân, xử thế lịch duyệt, tao nhã. Chí sĩ Hà Thành yêu nước, trọng nghĩa, trọng tài, nhân ái bao dung trong cả vinh lẫn suy; trước tiền bạc, cám dỗ luôn biết kiềm chế không để mất nhân cách; trước hiểm nguy luôn bình tĩnh, sáng suốt tìm đối sách hợp lý; trước kẻ thù, trước cái chết luôn cứng rắn, không run sợ, giữ thần thái, khí tiết. Bên cạnh những nhà chính trị cách mạng, nhà quân sự, nhà giáo, nhà văn Thăng Long – Hà Nội còn có những nghệ nhân, những người thợ tài hoa đã làm sáng danh đất Kẻ Chợ. Nghệ nhân và người thợ đến kinh kỳ đem theo nghề chuyên từ quê nhà, nhu cầu và đòi hỏi khắt khe của khách hàng kinh đô đã làm cho họ có điều kiện rèn luyện tay nghề. Thăng Long – Hà Nội vùng đất trăm nghề, nghề nào cũng khéo. Tên nghề ở Thăng Long – Hà Nội thường gắn với tên làng, tiếng thơm của nhiều làng nghề trên đất Thăng Long – Hà Nội nức tiếng gần xa, như: đúc đồng Ngũ Xã, tranh Hàng Trống, gốm Bát Tràng, the La Cả, lụa trắng Cổ Đô, nón làng Chuông, thêu Quất Động, khảm xà cừ Chuôn Tre….Đất lành, mới đầu chỉ là những tốp thợ ra trú ngụ làm theo thời vụ, dần dà họ kéo theo người trong dòng tộc, người cùng làng ra ở hẳn Thăng Long – Hà Nội. Họ lập nên phường hội, lập phố hàng… vừa sản xuất, vừa kinh doanh góp phần làm thay đổi khu vực “thị”. Họ trở thành người Thăng Long – Hà Nội, cuộc sống gắn bó với thăng trầm của vùng đất này. Sinh cơ lập nghiệp, an cư ở đất kinh kỳ nhưng tâm hồn họ vẫn luôn hướng về quê hương, gốc tổ. Nhiều dòng tộc, phường nghề đã lập đền miếu thờ vọng tổ nghề, thành hoàng làng trên đất Thăng Long – Hà Nội, các di sản quý báu đó được người Hà Nội trân trọng, tự hào gìn giữ và phát huy.


    Đất Thăng Long – Hà Nội nghìn năm văn hiến đã góp phần tạo nên nhân tài và các thế hệ nhân tài đã bồi đắp trở lại cho trái tim đất nước ngày càng xứng đáng tiêu biểu cho nền văn hiến Việt Nam. Không chỉ hội tụ, mà còn tỏa sáng. Theo tiếng gọi của non sông, người Thăng Long – Hà Nội sẵn sàng gác bút nghiên đi bảo vệ biên cương, sẵn sàng đi mở đất, xây dựng quê hương mới, đáp ứng yêu cầu của mọi miền Tổ quốc. Tuổi trẻ Thủ đô hôm nay luôn nêu gương “đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”. Ở bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì, họ cũng phấn đấu hết mình để không hổ thẹn là người Thăng Long – Hà Nội, không hổ thẹn với cha ông:


    4. Phẩm chất thanh lịch – văn minh Thăng Long – Hà Nội


    “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài


    Dẫu chưa thanh lịch cũng người Tràng An”


    Tràng An là chỉ kinh đô Thăng Long – Hà Nội. “Thanh lịch” hàm nghĩa rộng của phong cách sống đẹp từ trong nhà ra xã hội, từ ăn nói, ăn mặc, ăn ở, ăn làm, ăn học, ăn chơi, đi đứng cho đến phép giao tiếp, ứng xử giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, môi trường. “Thanh” có nghĩa là thanh cao trong tư tưởng, tình cảm, tâm hồn; thanh liêm với của cải xã hội; thanh bạch – thanh đạm trong cuộc sống đời thường; thanh nhã trong cử chỉ, hành động. “Lịch” phải chăng là con người cần có sự lịch lãm, lịch thiệp trong giao tiếp, ứng xử; lịch duyệt – hiểu biết rộng. Nếu như “thanh” muốn có phải học hỏi, tu dưỡng rèn luyện, thì ở “lịch” lại do sự từng trải và kinh nghiệm sống đem đến. Có đủ “thanh lịch” mới trọn vẹn.


    Thăng Long – Hà Nội là nơi tụ hội người dân của mọi miền Tổ quốc, là điểm đến và sinh cơ lập nghiệp của một số kiều dân nước ngoài. Đến kinh đô, họ mang theo tinh hoa quê hương đến góp cho Thăng Long – Hà Nội, nhưng cũng đồng thời mang theo tập quán quê cũ. Kinh đô Thăng Long – Hà Nội như cái sàng, sàng lọc, gom nhặt từ những cái đẹp nhỏ nhất của bốn phương để làm giàu cho mình, đồng thời cũng loại bỏ những gì không thích hợp để rồi ổn định, định hình, định tính, định vị cái thanh lịch cũng như tán phát văn hóa Thăng Long đi muôn nơi. Nét đặc trưng văn hóa Thăng Long là sự hòa hợp nếp sống giữa người dân Hà Thành với “người tứ chiếng”, giữa “người đồng văn, đồng chủng” với người nước ngoài. Bên cạnh những nét riêng trong các yếu tố nhân chủng, thể chất, ngôn ngữ, người Hà Nội có một số tư chất, nội tâm, đường ăn nết ở tài hoa, thanh lịch, kiên cường. Cái tư chất người Hà Nội thời phong kiến là giữ được cái căn tính của nền văn minh lúa nước. Cái chất của người Hà Nội thời Pháp thuộc là tài hoa và khí phách cách mạng anh hùng. Trong công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, người Hà Nội phát huy tinh thần năng động, sáng tạo đã được hun đúc qua chiều dài hàng ngàn năm lịch sử. Người Thăng Long – Hà Nội tự hào về cái “thanh lịch” của mình. Cái thanh lịch của Thăng Long – Hà Nội thể hiện trong nhiều mặt. Trước hết là thể hiện ở lời nói. Tiếng nói của người Thủ đô chuẩn xác cao, thanh âm mẫu mực. Người Thăng Long – Hà Nội vận dụng từ ngữ khéo léo, nhã nhặn, tế nhị. Trong giao tiếp, biết nhún mình, tôn trọng người, mềm mỏng mà không thớ lợ, tài hoa mà không khoe khoang, biết rộng mà không làm cao. Người thợ thủ công trên đất Thăng Long – Hà Nội giữ cái tố chất tương trợ, phường hội giúp đỡ lẫn nhau, bênh vực lẽ phải, bênh vực “kẻ yếu”. Người nông dân giữ cái thuần phác, cần cù “biết nhịn”, “biết nể”. Nho sĩ, hàn sĩ giữ cái cốt cách của người học đạo thánh hiền lời nói văn vẻ, dễ nghe, còn một tấm áo lụa, ra đường còn nho nhã, còn một đồng trong túi là không để mâm cơm đãi khách phải ngọ ngằn.


    Ngạn ngữ có câu “Ăn Bắc, mặc Kinh”. Thăng Long – Hà Nội là kinh đô đồng thời cũng tiêu biểu cho xứ Bắc. Ăn, mặc của người Thăng Long – Hà Nội cũng toát nên chất thanh lịch. Người Thăng Long – Hà Nội rất sành trong ăn uống, nâng cách ăn uống, chế biến món ăn thành nghệ thuật ẩm thực. Món ăn chế biến, mặn, ngọt, chua, cay vừa độ, gia vị đầy đủ; nước chấm, nước canh khéo chế. Bữa ăn ngon từ cách bày đĩa, xếp mâm, lên cỗ. Nét văn hoá bộc lộ trong ăn uống cũng tinh tế, phong phú. “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”. Vào mâm cơm người Thăng Long – Hà Nội trọng người già, quý trẻ em, nhường nhịn món ăn ngon, gắp tiếp trước cho khách. Ăn uống từ tốn, nhai nuốt thong thả. Ăn để thòm thèm, nhớ mãi. Người Thăng Long – Hà Nội lịch sự trong cách mặc. Trang phục, trang sức ưa sự gọn gàng, trang nhã, tề chỉnh, cách tân tinh tế, đủ độ lộng lẫy, kiêu sa. Người Thăng Long – Hà Nội thích “diện”, thích đổi “mốt” làm đẹp phố phường. Cái “diện” của con người vùng đất này cũng mang “tư chất” kín đáo, tế nhị, không cầu kỳ, biết nâng “cái đẹp” đồng hành với “cái nết”. Người Thăng Long – Hà Nội xưa ra đường là mặc áo dài, khăn nón, giày guốc đầy đủ. Khách đến chơi nhà, chủ nhà giữ lễ “tôn trọng mình, tôn trọng khách”, “ăn vận” quần áo gọn gàng, tươm tất rồi mới tiếp khách. Con gái Thăng Long – Hà Nội giữ “công, dung, ngôn, hạnh”, giữ đủ nét e lệ, dịu dàng, giữ gìn ý tứ từ dáng đi, nụ cười, ánh mắt, đồ trang sức vừa đủ, ít người đeo vàng, ngọc đầy cổ, đầy tay. Trong giao tiếp, ứng xử người Hà Nội không chỉ giữ gìn thuần phong mỹ tục truyền thống mà còn tiếp thu tinh hoa văn minh, hiện đại của bốn phương. Trước đây người Hà Nội đón tiếp khách quý là chắp tay vái chào, nay bắt tay cởi mở. Từ chỗ “nam nữ thụ thụ bất thân” đã đi tới bình đẳng giới, xây dựng được nét đẹp tôn trọng người già, nhường nhịn phụ nữ, quý mến trẻ thơ, giúp đỡ người già yếu, khuyết tật, lịch sự thân thiện với người mới đến, người nước ngoài. Gặp vướng mắc, va chạm thì ứng xử ôn hoà, không đối đầu, bạo lực, luôn mong muốn giải quyết êm đẹp, phục thiện.


    Gia đình là cái nôi nuôi lớn tâm hồn con người. Gia đình là tế bào quyết định chất lượng xã hội. Xây dựng và bảo toàn mái ấm gia đình là điều kiện cơ bản cho hôm nay và ngày mai đi lên của đất nước. Muốn thế phải phải giữ được “nếp nhà”. Chữ “hiếu” không cổ hủ mà thích nghi với hoàn cảnh mới. Trong gia đình, người Thăng Long – Hà Nội coi trọng giữ gìn nề nếp, gia phong. Dạy bảo con cháu, người Thăng Long – Hà Nội lấy chữ “hiếu” với ông bà, cha mẹ làm đầu, chữ “hiền thảo” với dâu rể, chữ “thành đạt” với con cháu. Ông bà, cha mẹ lấy cái mẫu mực, làm gương cho con cháu noi theo. Cuộc sống phố phường sôi động, nhưng người Thăng Long – Hà Nội vẫn giữ được nét đẹp của sinh hoạt tâm linh và cộng đồng đầy tính thiện như: hái lộc đầu xuân, đi lễ đền chùa cầu lành, cầu mát, cầu quốc thái, dân an, thắp hương thờ cúng tổ tiên, cúng giao thừa, năm mới xông đất chúc tụng nhau, đến Văn Miếu xin chữ Thánh hiền đầu xuân. Các cụ ông, các tài tử, văn nhân có cái thú uống trà, “nuôi cá dưỡng tâm, nuôi chim dưỡng tính”, “nuôi lan tích đức”, dựng hòn non bộ, trồng cây cảnh để cân bằng phong thủy. Với môi trường thiên nhiên, môi trường đô thị, môi trường hội nhập kinh tế quốc tế, người Hà Nội đang xây dựng được nét ứng xử đẹp phù hợp với xu thế phát triển của đất nước. Nhân cách của người Thăng Long – Hà Nội hôm nay được xây dựng trên tổng hoà các giá trị văn hiến truyền thống và hiện đại. Nâng cao phẩm chất trí tuệ, tài năng, tâm hồn, tình cảm, lý tưởng và hành động mang bản sắc Thăng Long – Hà Nội, xây dựng Thủ đô Hà Nội văn minh, hiện đại xứng tầm với thành phố nghìn năm tuổi là vinh dự và trách nhiệm của mỗi người dân cả nước nói chung và người dân Hà Nội nói riêng.


    BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG