Danh mục: Tin tức & thông báo

  • Buổi làm việc giữa Trường Đại học Thủy Lợi và Tổ chức Phi chính phủ EDF, Mỹ.

    Buổi làm việc giữa Trường Đại học Thủy Lợi và Tổ chức Phi chính phủ EDF, Mỹ.

     


    Hôm qua ngày 11/10/2010 tại Trường Đại học Thủy Lợi đã diễn ra buổi làm việc giữa Nhà trường và tổ chức Phi chính Phủ EDF, Mỹ. Tham dự buổi làm việc này, đại diện phía Nhà trường có GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường, về phía đoàn chuyên gia EDF có ông Seteve Cochran – Giám đốc chương trình Biến đổi khí hậu của EDF, văn phòng EDF – NewYork; bà Jennifer Haverkamp – Giám đốc chương trình Quốc tế của EDF – luật sư văn phòng EDF – Washington DC; bà Jane Hughes – Giám đốc EDF Việt Nam và ông Richie Ahuja – Giám đốc EDF Ấn Độ.


    EDF là viết tắt của Enviromental Defense Fund, là một tổ chức phi chính phủ của Mỹ được phép hoạt động tại Việt Nam trong lĩnh vực biến đối khí hậu, giảm nhẹ thiên tai. Trường Đại học Thủy Lợi là đối tác trong một dự án canh tác lúa Cacbon thực hiện tại đồng bằng sông Cửu Long, với vai trò là hỗ trợ kỹ thuật trong việc đề xuất công thức tưới, đo đạc và phát thải khí nhà kính.


    Mục đích chính của buổi làm việc này là trao đổi thông tin, kinh nghiệm và hướng hợp tác các vấn đề nghiên cứu liên quan đến môi trường và biến đổi khí hậu.
    Cũng trong buổi làm việc này, TS. Nguyễn Việt Anh đã trình bày một số kết quả nghiên cứu về quản lý nước mặt ruộng nhằm giảm phát thải meetan, tiết kiệm nước và không giảm năng suất lúa trên đất phù sa trung tính đồng bằng sông Hồng. Qua đó  có thể thấy ảnh hưởng của chế độ tưới đến sự phá thải khí metan trên ruộng lúa, đồng thời cũng qua nghiên cứu này thấy được sự phá thải giữa các chế độ tưới khác nhau, từ đó có thể tìm ra chế độ tưới có sự phải thấp nhất, không làm giảm năng suất lúa, tính thực tế và khả thi cao. Nghiên cứu này của TS. Nguyễn Việt Anh được đoàn chuyên gia EDF đánh giá cao, nhiều câu hỏi trao đổi giữa Nhà trường và đoàn chuyên gia khá thú vị nhằm hiểu rõ hơn nhưng đặc trưng cơ bản của từng vùng miền như đất và khí hậu ảnh hưởng đến kết quả canh tác nông nghiệp nói chung, bởi như ông ông Richie Ahuja – Giám đốc EDF Ấn Độ đã nói: Lúa liên kết người Châu Á với nhau.


    Với mong muốn học hỏi và hợp tác, GS.TS Nguyễn Quang Kim cũng rất cởi mở trong việc trao đổi với đoàn chuyên gia của tổ chức EDF để giúp họ hiểu rõ hơn các vấn đề gặp phải nói chung của Việt Nam trong biến đổi khí hậu, cụ thể là ảnh hưởng đến canh tác lúa – vấn đề mà Nhà trường đang là đối tác trong sự án canh tác lúa tại đồng bầng sông Cửu Long –  GS. cũng gửi lời cảm ơn tới đoàn chuyên gia và bày tỏ mong muốn được hợp tác liên quan đến giảm thiểu và biến đổi khí hậu.


    Chùm ảnh buổi làm việc:
     







    GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường và thành phần đoàn tham dự buổi làm việc này. 








    Đoàn Tổ chức Phi chính phủ EDF 







    Hai bên đang trao đổi về các vấn đề về ảnh hưởng biến đổi khí hậu đối với đất canh tác (thông qua nghiên cứu được trình bày bởi TS. Việt Anh)








    Đoàn Tổ chức Phi chính Phủ EDF chụp ảnh lưu niệm cùng Nhà trường

    Tin&bài: Nguyễn Vân Anh 

  • MỘT SỐ GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU CỦA NỀN VĂN HIẾN THĂNG LONG – HÀ NỘI

    1. Truyền thống yêu nước, hào khí Thăng Long – Hà Nội


    Thăng Long – Hà Nội là một trong những Thủ đô lâu đời nhất trên thế giới. Trải nghìn năm, Thăng Long – Hà Nội từng bẩy lần bị giặc chiếm đóng, cả bẩy lần quân dân kinh thành đều nhất tề chiến đấu kiên cường. Trước thế mạnh hung hãn của kẻ thù, chưa đủ sức chống đỡ, quân dân ta chủ động thực hiện kế “thanh dã” rút khỏi kinh thành bảo toàn lực lượng, cho quân giặc “tạm đứng chân” ở Thăng Long một thời gian, rồi bao vây quét sạch chúng đi. Thăng Long – Hà Nội có thế “rồng cuộn, hổ ngồi”, có con người dám đánh và biết cách đánh giặc, thời bình thì thực hiện “ngụ binh ư nông”. Giặc đến, trên khắp đồng quê, làng phố người tay cầm cày, tay cầm gươm, người tay cầm bút, tay cầm súng, vừa duy trì cuộc sống, vừa chiến đấu cứu nước cứu nhà. Giặc đến, trai tráng ra trận, bạch đầu quân cũng hướng theo cờ nghĩa, thiếu niên cũng luyện võ, mài đao. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Sức mạnh lòng dân chính là nhân tố đem lại chiến thắng vẻ vang cho đất nước. Thế kỷ XI, nước lân bang chuẩn bị xâm lược nước ta, Lý Thường Kiệt đã chủ động viết hịch “Phạt Tống lộ bố văn” gửi các chúa vùng Ung, Khâm, Liêm rồi mang đại quân tiến thẳng vào sào huyệt để tiêu diệt các kho vũ khí, lương thảo của địch, sau đó lui về lập phòng tuyến vững chắc ở sông Như Nguyệt. Bài thơ “ Nam  quốc sơn hà Nam đế cư” âm vang trên dòng sông Như Nguyệt như lời hiệu triệu của núi sông, khích lệ toàn quân, toàn dân Đại Việt chiến đấu, chiến thắng kẻ thù. Thế kỷ XIII, ba lần quân Nguyên – Mông xâm lược nước ta, ba lần chúng chiếm được kinh thành Thăng Long. Nhưng lần thứ nhất quân dân Đại Việt cho 3 vạn quân Nguyên – Mông “ngủ trọ” trên đất nước ta mười một ngày; lần thứ hai, 50 vạn quân của Thoát Hoan và 10 vạn quân của Toa Đô “ngủ trọ” hơn ba tháng; lần thứ ba, quân dân Đại Việt cho 30 vạn quân Nguyên – Mông “ngủ trọ” 32 ngày, sau đó tổng phản công quét sạch chúng ra khỏi bờ cõi. Hào khí Thăng Long, in đậm trong bài “Hịch tướng sĩ” bất hủ của Trần Hưng Đạo. Thế kỷ XV, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn sau mười năm nằm gai, nếm mật, Bình định vương Lê Lợi và quân sư Nguyễn Trãi đã đem đại quân bao vây thành Đông Quan vừa uy hiếp quân giặc, vừa địch vận, vừa diệt viện binh, buộc quân xâm lược phải bó giáo, lên đàn thề xin rút hết quân về nước. Thế kỷ XVIII, với cuộc hành quân thần tốc, bất ngờ sáng mồng Năm Tết Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung cùng các tướng sĩ Tây Sơn dũng cảm tiêu diệt đồn Ngọc Hồi, Khương Thượng, đánh thọc sâu vào kinh thành Thăng Long, quét sạch 29 vạn quân Thanh ra khỏi kinh thành Thăng Long, đồng thời mở ra giai đoạn hợp nhất đất nước từ Bắc đến Nam. Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp tấn công Hà Nội. Hai tấm gương trung dũng, lẫm liệt “sống chết với Thành Hà” của Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương và Tổng đốc Hoàng Diệu sống mãi với Thủ đô. Trong buổi đầu chống thực dân Pháp, hai lần quân dân Hà Nội mưu trí giết chết sĩ quan chỉ huy của quân Pháp là Gácniê và Rivie ở Cầu Giấy. Chưa thể đuổi giặc ra khỏi thành bằng vũ lực, người dân Hà Nội tìm mọi cách để gây cho quân địch ăn không ngon, ngủ không yên. Những người yêu nước ở Hà Nội đã kết giao lập hội chống thực dân Pháp. Khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, thanh niên, học sinh và người dân Hà Nội không ngại hy sinh, gian khổ, một lòng theo Đảng làm cách mạng. Thời cơ đến, Xứ ủy và Thành ủy Hà Nội nhạy bén phất cờ động viên nhân dân nhất tề đứng lên giành chính quyền, giành quyền làm chủ. Thắng lợi của phong trào cách mạng ở Hà Nội đã cổ vũ nhân dân cả nước Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Hà Nội trở thành Thủ đô của Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Giặc Pháp ngoan cố quay lại xâm lược nước ta, cuộc chiến đấu 60 ngày đêm ở Liên Khu Một với lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã thổi bùng hào khí Thăng Long – Hà Nội, mở đầu cho tám năm trường kỳ kháng chiến. Tháng 10 năm 1954, Hà Nội rực rỡ cờ hoa đón mừng đoàn quân Chiến thắng trở về giải phóng Thủ đô. Đế quốc Mỹ chia cắt đất nước ta, miền Nam còn kẻ thù xâm lược. Tiếng gọi non sông lại thôi thúc các chàng trai, cô gái Hà Nội tạm gác bút nghiên, lên đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Những người ra đi chiến đấu, in dấu chân trên khắp các chiến trường, có mặt trong các chiến dịch Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào, cuộc Tổng tiến công nổi dậy ở Huế – Sài Gòn và kết thúc với sự có mặt của Trung đoàn Thăng Long cắm cờ trên dinh lũy Bộ Tổng tham mưu địch trong chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Những người ở lại vừa tăng gia sản xuất, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn, vừa cầm súng đối mặt với chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ. Dưới mưa bom rải thảm của giặc Mỹ, Hà Nội bình tĩnh, ngoan cường hiệp đồng với các quân, binh chủng lực lượng vũ trang các tỉnh, thành phố miền Bắc, lập nên kỳ tích “Điện Biên Phủ trên không”, đánh sập “uy thế không lực Hoa Kỳ”, buộc chúng phải ký Hiệp định Pa ri rút quân về nước.


    Với tấm lòng yêu nước sắt son, bất khuất, kiên cường, mưu trí, sáng tạo nghìn năm qua người Thăng Long – Hà Nội đã thể hiện sinh động hào khí Thăng Long trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo nên chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại mới. Hà Nội là “Thủ đô anh hùng” của dân tộc Việt Nam anh hùng; Hà Nội là “Thủ đô của phẩm giá con người”, “Thủ đô vì hòa bình”; Hà Nội nơi “lắng hồn núi sông ngàn năm”, tỏa chiếu văn hiến Thăng Long đi khắp mọi miền của Tổ quốc, trở thành niềm tự hào chung của đất nước Việt Nam, tiếp thêm sức mạnh cho mỗi người dân Thủ đô, mỗi người dân Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập vì hạnh phúc lớn của dân tộc.


    2. Truyền thống nhân nghĩa, khát vọng hòa bình


    Hòa bình là khát vọng cháy bỏng của dân tộc ta. Người Thăng Long – Hà Nội cũng như người dân đất Việt không bao giờ muốn chiến tranh. Lịch sử đã ghi nhận lòng khoan dung, nhân ái của nhân dân Thăng Long – Hà Nội ngay cả khi kẻ thù buộc chúng ta phải cầm gươm, cầm súng tự vệ, nhân dân ta vẫn tìm cách “vừa đánh, vừa đàm” cho kẻ thù thoát khỏi cuộc chiến tranh hao người tốn của, tìm cách cho kẻ thù đường rút danh dự.


    Ở vào thời điểm nghĩa quân Lam Sơn đã đánh tan đạo quân tiếp viện của nhà Minh, giết chết tướng Liễu Thăng, quân và dân ta thừa cả thế và lực để tiêu diệt quân địch trong thành Đông Quan. Nhưng với lòng nhân đạo muốn tránh chết chóc cho quân sĩ cả hai bên, tránh cho kinh thành khỏi bị tàn phá và tạo sự hòa hiếu giữa hai nước, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã kiên trì thuyết phục tướng giặc. Nguyễn Trãi viết hàng chục bức thư gửi cho Vương Thông, lời lẽ trong các bức thư vừa thể hiện sự mềm mỏng, khiêm nhường vừa quyết liệt của người đang làm chủ hoàn toàn chiến trường. Vương Thông buộc phải mở cửa thành, lên đàn thề xin rút quân. Với tinh thần nhân đạo cao cả, Lê Lợi đã cấp hàng trăm thuyền, hàng nghìn ngựa, lương thực cho tù binh, hàng binh nhà Minh về nước. Câu chuyện truyền thuyết về vua Lê trả gươm thần cho Rùa vàng ở hồ Lục Thủy tiếp nối một cách tự nhiên trong dòng chảy của lịch sử. Chiến tranh kết thúc hoàn trả Thần Kiếm, đó chính là biểu trưng khát vọng hòa bình của dân tộc ta giữa lòng Thủ đô ngàn năm văn hiến. Nhân nghĩa trở thành truyền thống của dân tộc ta. Trong cuộc giao chiến kẻ địch giơ tay đầu hàng đều được nhân dân ta khoan hồng, đối xử nhân đạo. Chiến tranh kết thúc, nhân dân ta trải thảm cho tù binh, hàng binh về nước an toàn. Hài cốt lính địch bỏ xác trên đất Việt cũng được Nhà nước ta cho tìm kiếm trao trả thân nhân của họ. Nhân dân Thăng Long ngoài việc chôn cất lập đàn chẩn tế chu đáo, còn tu sửa, dựng chùa (chùa Bộc) làm nơi quy y cho vong linh binh sĩ của địch. Hận thù nên cởi, không nên buộc cũng là một triết lý nhân sinh của người Việt. Khắc ghi lịch sử, xóa bỏ hận thù, không quên quá khứ, hướng tới tương lai, đó là truyền thống văn hiến, anh hùng Thăng Long – Hà Nội. Với kẻ thù, người Thăng Long – Hà Nội và người dân Việt Nam luôn thể hiện lòng nhân nghĩa, với đồng bào lòng nhân ái càng được nâng cao, thể hiện bằng hành động thiết thực. Người dân Thăng Long – Hà Nội luôn hằng tâm, hằng sản, góp sức chung tay giúp đỡ mọi người trong cơn hoạn nạn. Đó là nét đẹp trong cuộc sống của người Thăng Long – Hà Nội.


    3. Truyền thống tài hoa – trí tuệ Thăng Long – Hà Nội là đất nghìn năm văn hiến, là trung tâm tiêu biểu cho nhiều kỷ nguyên văn minh của dân tộc ta, như: kỷ nguyên văn minh sông Hồng, kỷ nguyên văn minh Đại Việt, kỷ nguyên văn minh Việt Nam.


    Thăng Long – Hà Nội là nơi hội tụ nhân tài, hội tụ tinh hoa văn hóa – nghệ thuật, hội tụ tri thức. Trí tuệ của cả dân tộc hun đúc cho Thăng Long – Hà Nội và cũng từ đây trí tuệ Thăng Long – Hà Nội tỏa chiếu ra mọi miền của đất nước nâng cao tầm trí tuệ của dân tộc. Thăng Long – Hà Nội là nơi “lắng hồn núi sông ngàn năm”, là nơi để các danh nhân, nghệ nhân phát huy tinh hoa. Năm 1070, Thăng Long có Văn Miếu. Năm 1076, Quốc Tử Giám, nhà Thái học – trường đại học đầu tiên của nước ta được xây dựng, lò luyện “nguyên khí Quốc gia” qua 124 khoa thi đã đào tạo 2.248 tiến sĩ, tên tuổi được vinh danh trên bia đá ở Văn Miếu và sử sách. Thăng Long còn có Giảng Võ Đường, nhà Võ học, đào tạo hàng trăm cống sĩ, võ tướng cho quân đội. Kinh đô Thăng Long là nơi rèn luyện, đào tạo, sản sinh ra:


    “Văn quan cầm bút an thiên hạ.


    Võ tướng đề đao định thái bình”.


    Nền giáo dục Thăng Long – Hà Nội còn lưu danh nhiều nhà giáo tâm huyết với nghề đã tạo nên bao học trò thành danh cho đất nước, như: Chu Văn An, Bùi Xương Trạch, Phù Thúc Hoành, Lê Đức Mao, Đoàn Lệnh Khương, Phạm Quý Thích, Nguyễn Án, Nguyễn Văn Siêu, Vũ Tông Phan, Nguyễn Quý Đức, Lương Văn Can…. Noi gương Chu Văn An “người thày của muôn đời”, nhiều nhà giáo đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp trồng người, trung thực với nghề, cam sống hàn vi, không ham danh vọng, bổng lộc. Khẩu ngữ “Tiên học lễ, hậu học văn” còn để lại tới hôm nay. Thăng Long – Hà Nội còn tiêu biểu cho nền văn hoá lâu đời của dân tộc, là nơi hội tụ khách văn chương cả nước. Một thi xã Tao Đàn đời Hồng Đức làm sáng cả mảng văn học thời Lê. Một văn phái Ngô Thì với bao tác phẩm văn chương đồ sộ, khiến trăm họ ngưỡng mộ. Bên những văn nhân, thi nhân người Hà Nội, như: Nguyễn Trãi, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Đặng Trần Côn, Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Lượng, Phan Huy Chú, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Lý Văn Phức, bà huyện Thanh Quan…còn có những ngôi sao gốc tứ trấn, có người sinh ở Hà Nội, như: Lý Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương…, có người xứ Đoài, xứ Đông, xứ Bắc, xứ Nam, như: Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Thân Nhân Trung, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phạm Đình Hổ, Lê Quý Đôn…sự nghiệp, công danh được lập trên đất Thăng Long.


    Thăng Long – Hà Nội là nơi đào tạo trí thức lớn nhất cả nước, trí tuệ, nhân cách của trí thức Hà Nội tỏa sáng. Các sĩ tử học đạo Thánh hiền, các “tao nhân, mặc khách” bầu rượu, túi thơ” trọng nghĩa, trọng tài lập nghiệp thành danh trên đất đế đô đều có chung phong cách đối nhân, xử thế lịch duyệt, tao nhã. Chí sĩ Hà Thành yêu nước, trọng nghĩa, trọng tài, nhân ái bao dung trong cả vinh lẫn suy; trước tiền bạc, cám dỗ luôn biết kiềm chế không để mất nhân cách; trước hiểm nguy luôn bình tĩnh, sáng suốt tìm đối sách hợp lý; trước kẻ thù, trước cái chết luôn cứng rắn, không run sợ, giữ thần thái, khí tiết. Bên cạnh những nhà chính trị cách mạng, nhà quân sự, nhà giáo, nhà văn Thăng Long – Hà Nội còn có những nghệ nhân, những người thợ tài hoa đã làm sáng danh đất Kẻ Chợ. Nghệ nhân và người thợ đến kinh kỳ đem theo nghề chuyên từ quê nhà, nhu cầu và đòi hỏi khắt khe của khách hàng kinh đô đã làm cho họ có điều kiện rèn luyện tay nghề. Thăng Long – Hà Nội vùng đất trăm nghề, nghề nào cũng khéo. Tên nghề ở Thăng Long – Hà Nội thường gắn với tên làng, tiếng thơm của nhiều làng nghề trên đất Thăng Long – Hà Nội nức tiếng gần xa, như: đúc đồng Ngũ Xã, tranh Hàng Trống, gốm Bát Tràng, the La Cả, lụa trắng Cổ Đô, nón làng Chuông, thêu Quất Động, khảm xà cừ Chuôn Tre….Đất lành, mới đầu chỉ là những tốp thợ ra trú ngụ làm theo thời vụ, dần dà họ kéo theo người trong dòng tộc, người cùng làng ra ở hẳn Thăng Long – Hà Nội. Họ lập nên phường hội, lập phố hàng… vừa sản xuất, vừa kinh doanh góp phần làm thay đổi khu vực “thị”. Họ trở thành người Thăng Long – Hà Nội, cuộc sống gắn bó với thăng trầm của vùng đất này. Sinh cơ lập nghiệp, an cư ở đất kinh kỳ nhưng tâm hồn họ vẫn luôn hướng về quê hương, gốc tổ. Nhiều dòng tộc, phường nghề đã lập đền miếu thờ vọng tổ nghề, thành hoàng làng trên đất Thăng Long – Hà Nội, các di sản quý báu đó được người Hà Nội trân trọng, tự hào gìn giữ và phát huy.


    Đất Thăng Long – Hà Nội nghìn năm văn hiến đã góp phần tạo nên nhân tài và các thế hệ nhân tài đã bồi đắp trở lại cho trái tim đất nước ngày càng xứng đáng tiêu biểu cho nền văn hiến Việt Nam. Không chỉ hội tụ, mà còn tỏa sáng. Theo tiếng gọi của non sông, người Thăng Long – Hà Nội sẵn sàng gác bút nghiên đi bảo vệ biên cương, sẵn sàng đi mở đất, xây dựng quê hương mới, đáp ứng yêu cầu của mọi miền Tổ quốc. Tuổi trẻ Thủ đô hôm nay luôn nêu gương “đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”. Ở bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì, họ cũng phấn đấu hết mình để không hổ thẹn là người Thăng Long – Hà Nội, không hổ thẹn với cha ông:


    4. Phẩm chất thanh lịch – văn minh Thăng Long – Hà Nội


    “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài


    Dẫu chưa thanh lịch cũng người Tràng An”


    Tràng An là chỉ kinh đô Thăng Long – Hà Nội. “Thanh lịch” hàm nghĩa rộng của phong cách sống đẹp từ trong nhà ra xã hội, từ ăn nói, ăn mặc, ăn ở, ăn làm, ăn học, ăn chơi, đi đứng cho đến phép giao tiếp, ứng xử giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, môi trường. “Thanh” có nghĩa là thanh cao trong tư tưởng, tình cảm, tâm hồn; thanh liêm với của cải xã hội; thanh bạch – thanh đạm trong cuộc sống đời thường; thanh nhã trong cử chỉ, hành động. “Lịch” phải chăng là con người cần có sự lịch lãm, lịch thiệp trong giao tiếp, ứng xử; lịch duyệt – hiểu biết rộng. Nếu như “thanh” muốn có phải học hỏi, tu dưỡng rèn luyện, thì ở “lịch” lại do sự từng trải và kinh nghiệm sống đem đến. Có đủ “thanh lịch” mới trọn vẹn.


    Thăng Long – Hà Nội là nơi tụ hội người dân của mọi miền Tổ quốc, là điểm đến và sinh cơ lập nghiệp của một số kiều dân nước ngoài. Đến kinh đô, họ mang theo tinh hoa quê hương đến góp cho Thăng Long – Hà Nội, nhưng cũng đồng thời mang theo tập quán quê cũ. Kinh đô Thăng Long – Hà Nội như cái sàng, sàng lọc, gom nhặt từ những cái đẹp nhỏ nhất của bốn phương để làm giàu cho mình, đồng thời cũng loại bỏ những gì không thích hợp để rồi ổn định, định hình, định tính, định vị cái thanh lịch cũng như tán phát văn hóa Thăng Long đi muôn nơi. Nét đặc trưng văn hóa Thăng Long là sự hòa hợp nếp sống giữa người dân Hà Thành với “người tứ chiếng”, giữa “người đồng văn, đồng chủng” với người nước ngoài. Bên cạnh những nét riêng trong các yếu tố nhân chủng, thể chất, ngôn ngữ, người Hà Nội có một số tư chất, nội tâm, đường ăn nết ở tài hoa, thanh lịch, kiên cường. Cái tư chất người Hà Nội thời phong kiến là giữ được cái căn tính của nền văn minh lúa nước. Cái chất của người Hà Nội thời Pháp thuộc là tài hoa và khí phách cách mạng anh hùng. Trong công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, người Hà Nội phát huy tinh thần năng động, sáng tạo đã được hun đúc qua chiều dài hàng ngàn năm lịch sử. Người Thăng Long – Hà Nội tự hào về cái “thanh lịch” của mình. Cái thanh lịch của Thăng Long – Hà Nội thể hiện trong nhiều mặt. Trước hết là thể hiện ở lời nói. Tiếng nói của người Thủ đô chuẩn xác cao, thanh âm mẫu mực. Người Thăng Long – Hà Nội vận dụng từ ngữ khéo léo, nhã nhặn, tế nhị. Trong giao tiếp, biết nhún mình, tôn trọng người, mềm mỏng mà không thớ lợ, tài hoa mà không khoe khoang, biết rộng mà không làm cao. Người thợ thủ công trên đất Thăng Long – Hà Nội giữ cái tố chất tương trợ, phường hội giúp đỡ lẫn nhau, bênh vực lẽ phải, bênh vực “kẻ yếu”. Người nông dân giữ cái thuần phác, cần cù “biết nhịn”, “biết nể”. Nho sĩ, hàn sĩ giữ cái cốt cách của người học đạo thánh hiền lời nói văn vẻ, dễ nghe, còn một tấm áo lụa, ra đường còn nho nhã, còn một đồng trong túi là không để mâm cơm đãi khách phải ngọ ngằn.


    Ngạn ngữ có câu “Ăn Bắc, mặc Kinh”. Thăng Long – Hà Nội là kinh đô đồng thời cũng tiêu biểu cho xứ Bắc. Ăn, mặc của người Thăng Long – Hà Nội cũng toát nên chất thanh lịch. Người Thăng Long – Hà Nội rất sành trong ăn uống, nâng cách ăn uống, chế biến món ăn thành nghệ thuật ẩm thực. Món ăn chế biến, mặn, ngọt, chua, cay vừa độ, gia vị đầy đủ; nước chấm, nước canh khéo chế. Bữa ăn ngon từ cách bày đĩa, xếp mâm, lên cỗ. Nét văn hoá bộc lộ trong ăn uống cũng tinh tế, phong phú. “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”. Vào mâm cơm người Thăng Long – Hà Nội trọng người già, quý trẻ em, nhường nhịn món ăn ngon, gắp tiếp trước cho khách. Ăn uống từ tốn, nhai nuốt thong thả. Ăn để thòm thèm, nhớ mãi. Người Thăng Long – Hà Nội lịch sự trong cách mặc. Trang phục, trang sức ưa sự gọn gàng, trang nhã, tề chỉnh, cách tân tinh tế, đủ độ lộng lẫy, kiêu sa. Người Thăng Long – Hà Nội thích “diện”, thích đổi “mốt” làm đẹp phố phường. Cái “diện” của con người vùng đất này cũng mang “tư chất” kín đáo, tế nhị, không cầu kỳ, biết nâng “cái đẹp” đồng hành với “cái nết”. Người Thăng Long – Hà Nội xưa ra đường là mặc áo dài, khăn nón, giày guốc đầy đủ. Khách đến chơi nhà, chủ nhà giữ lễ “tôn trọng mình, tôn trọng khách”, “ăn vận” quần áo gọn gàng, tươm tất rồi mới tiếp khách. Con gái Thăng Long – Hà Nội giữ “công, dung, ngôn, hạnh”, giữ đủ nét e lệ, dịu dàng, giữ gìn ý tứ từ dáng đi, nụ cười, ánh mắt, đồ trang sức vừa đủ, ít người đeo vàng, ngọc đầy cổ, đầy tay. Trong giao tiếp, ứng xử người Hà Nội không chỉ giữ gìn thuần phong mỹ tục truyền thống mà còn tiếp thu tinh hoa văn minh, hiện đại của bốn phương. Trước đây người Hà Nội đón tiếp khách quý là chắp tay vái chào, nay bắt tay cởi mở. Từ chỗ “nam nữ thụ thụ bất thân” đã đi tới bình đẳng giới, xây dựng được nét đẹp tôn trọng người già, nhường nhịn phụ nữ, quý mến trẻ thơ, giúp đỡ người già yếu, khuyết tật, lịch sự thân thiện với người mới đến, người nước ngoài. Gặp vướng mắc, va chạm thì ứng xử ôn hoà, không đối đầu, bạo lực, luôn mong muốn giải quyết êm đẹp, phục thiện.


    Gia đình là cái nôi nuôi lớn tâm hồn con người. Gia đình là tế bào quyết định chất lượng xã hội. Xây dựng và bảo toàn mái ấm gia đình là điều kiện cơ bản cho hôm nay và ngày mai đi lên của đất nước. Muốn thế phải phải giữ được “nếp nhà”. Chữ “hiếu” không cổ hủ mà thích nghi với hoàn cảnh mới. Trong gia đình, người Thăng Long – Hà Nội coi trọng giữ gìn nề nếp, gia phong. Dạy bảo con cháu, người Thăng Long – Hà Nội lấy chữ “hiếu” với ông bà, cha mẹ làm đầu, chữ “hiền thảo” với dâu rể, chữ “thành đạt” với con cháu. Ông bà, cha mẹ lấy cái mẫu mực, làm gương cho con cháu noi theo. Cuộc sống phố phường sôi động, nhưng người Thăng Long – Hà Nội vẫn giữ được nét đẹp của sinh hoạt tâm linh và cộng đồng đầy tính thiện như: hái lộc đầu xuân, đi lễ đền chùa cầu lành, cầu mát, cầu quốc thái, dân an, thắp hương thờ cúng tổ tiên, cúng giao thừa, năm mới xông đất chúc tụng nhau, đến Văn Miếu xin chữ Thánh hiền đầu xuân. Các cụ ông, các tài tử, văn nhân có cái thú uống trà, “nuôi cá dưỡng tâm, nuôi chim dưỡng tính”, “nuôi lan tích đức”, dựng hòn non bộ, trồng cây cảnh để cân bằng phong thủy. Với môi trường thiên nhiên, môi trường đô thị, môi trường hội nhập kinh tế quốc tế, người Hà Nội đang xây dựng được nét ứng xử đẹp phù hợp với xu thế phát triển của đất nước. Nhân cách của người Thăng Long – Hà Nội hôm nay được xây dựng trên tổng hoà các giá trị văn hiến truyền thống và hiện đại. Nâng cao phẩm chất trí tuệ, tài năng, tâm hồn, tình cảm, lý tưởng và hành động mang bản sắc Thăng Long – Hà Nội, xây dựng Thủ đô Hà Nội văn minh, hiện đại xứng tầm với thành phố nghìn năm tuổi là vinh dự và trách nhiệm của mỗi người dân cả nước nói chung và người dân Hà Nội nói riêng.


    BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG

  • Phiên họp thứ 7 năm 2010 của Hội đồng trường Đại học Thuỷ lợi

    Phiên họp thứ 7 năm 2010 của Hội đồng trường Đại học Thuỷ lợi

    Ngày 29/6/2010, Hội đồng trường Đại học Thuỷ lợi đã họp phiên thứ 7 năm 2010, quyết định nhiều vấn đề quan trọng của Nhà trường trong thời gian tới. Tham dự có các thành viên Hội đồng trường.


    Phiên họp vinh dự đón tiếp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát – Chủ tịch danh dự Hội đồng trường; cùng đi có lãnh đạo, chuyên viên các cục, vụ thuộc Bộ.


    PGS.TS Dương Thanh Lượng – Chủ tịch Hội đồng trường báo cáo tình hình hoạt động của Hội đồng trường từ tháng 12/2009 đến nay, báo cáo đã chỉ rõ những kết quả Hội đồng trường đã làm được trong việc theo dõi việc thực hiện chiến lược phát triển trường và các kế hoạch lớn của Nhà trường, theo dõi việc thực hiện quy chế dân chủ trong Nhà trường, theo dõi việc sử dụng các nguồn vốn của Nhà trường, giám sát các hoạt động quản lý trong Nhà trường…


    Hội đồng trường cũng đã nghe: Báo cáo của Ban giám hiệu đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược phát triển trong giai đoạn chuyển đổi, định hướng xây dựng kế hoạch chiến lược chi tiết giai đoạn 2011 – 2015, kết quả thực hiện kế hoạch tài chính năm 2009 và dự toán kế hoạch tài chính năm 2010, tình hình thực hiện quy chế dân chủ thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.


    Tới dự và phát biểu, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát  biểu dương quyết tâm của Nhà trường trong việc thực hiện Chiến lược phát triển, đồng thời cũng có những ý kiến chỉ đạo đối với Nhà trường trong hoạt động giao lưu hợp tác quốc tế cần xây dựng niềm tin vào con người, trong công tác nghiên cứu khoa học tập trung vào các vấn đề trọng tâm của Ngành. Bộ trưởng cho biết: “ Mở cửa, hội nhập, hoạt động theo tiêu chuẩn quốc tế là con đường tất yếu để phát triển”. Về phía Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ trưởng cũng nhấn mạnh sự quan tâm, tạo điều kiện của Bộ cho Trường.










    Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Cao Đức Phát – Chủ tịch danh dự Hội đồng trường phát biểu  


    Các thành viên Hội đồng trường cũng dành thời gian thảo luận, chất vấn các báo cáo và đóng góp nhiều ý kiến, giải pháp trong một số vấn đề lớn của Nhà trường: công tác tổ chức đào tạo, thời gian đào tạo,  công tác giáo trình, nâng cao ý thức học tập của sinh viên…


    Trong thời gian tới, để chuẩn bị tổng kết đánh giá giai đoạn chuyển đổi 2006 -2010 của Chiến lược phát triển trường và bước sang giai đoạn tiếp theo, Hội đồng trường sẽ tiếp tục nghiên cứu tình hình, đề xuất các ý kiến cho Nhà trường. Hội đồng trường tăng cường công tác giám sát các hoạt động quản lý Nhà trường; sử dụng các nguồn lực dành cho Nhà trường, thực hiện Quy chế dân chủ trong Nhà trường và việc thực hiện các Nghị quyết của Hội đồng trường.


    Phiên họp thành công tốt đẹp và bế mạc trong buổi sáng cùng ngày.


     


    Tin và ảnh: Hà Linh Ngọc

  • Lễ ký kết thỏa thuận tài trợ vĩnh viễn quỹ học bổng “Lê Văn Kiểm và gia đình”

    Lễ ký kết thỏa thuận tài trợ vĩnh viễn quỹ học bổng “Lê Văn Kiểm và gia đình”

    Từ tháng 11/2009, Trường Đại học Thủy Lợi có một quỹ học bổng khuyến học dành cho sinh viên mang tên “Lê Văn Kiểm và gia đình”. Quỹ học bổng này được thành lập từ một cựu sinh viên khóa 6 thành đạt của Trường Đại học Thủy Lợi – cựu sinh viên Lê Văn Kiểm – với số tiền ban đầu của quỹ là 10 tỷ đồng. Quỹ học bổng này mang giá trị nhân văn cao cả, không chỉ bởi nó sẽ giúp được nhiều sinh viên nghèo nhưng học giỏi, cho nhiều sinh viên có điều kiện bứt phá hơn nữa trên kết quả học tập rất tốt của mình, mà còn bởi xuất phát từ tấm lòng nhân ái của một người con luôn hướng về nguồn cội – đó là cựu sinh viên, Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm.


    Có lẽ nhiều người sẽ không còn lạ khi nhắc đến Lê Văn Kiểm với tư cách là một doanh nhân thành đạt của Việt Nam, một con người mang chữ tâm cho các hoạt động từ thiện, những con số mà ông và gia đình dành cho các hoạt động từ thiện là một con số rất lớn, tuy nhiên với một gia đình hảo tâm như gia đình Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm chắc hẳn còn chưa dừng lại ở đó. Bên cạnh việc tài trợ một quỹ học bổng khuyến học, khuyến tài cho sinh viên Đại học Thủy Lợi, ông cũng dành 10 tỷ đồng cho quỹ khuyến học, khuyến tài của Hội cựu chiến binh Việt Nam, và đó cũng là lý do cho buổi ký kết thỏa thuận tài trợ vĩnh viễn quỹ học bổng “Lê Văn Kiểm và gia đình” với Trường Đại học Thủy Lợi và Hội cựu chiến binh Việt Nam diễn ra vào ngày 21/5/2010 tại Đồng Nai.


    Trường Đại học Thủy Lợi đến tham dự lễ ký kết này có GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường và GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường. Bên cạnh đó còn có đại diện của Bộ Giáo dục & Đào tạo – Thứ trưởng Trần Quang Quý, đại diện của Hội cựu chiến binh Việt Nam – Trung tướng Phùng Khắc Đăng – Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam, lãnh đạo tỉnh Đồng Nai, ban thi đua khen thưởng Trung ương, các bạn bè và đồng chí của Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm….đã có mặt đông đủ trong buổi lễ trọng thể này.


    Gia đình người Anh hùng lao động đã có buổi đón tiếp trọng thể các đại biểu đến với lễ ký kết tại Hội trường lớn nằm trong quần thể của sân golf Long Thành, đây là một sân golf rộng, mang đẳng cấp quốc tế. Bước vào sân golf Long Thành mọi người có thể bị chinh phục ngay từ cái nhìn đầu tiên bởi tổng thể của vẻ đẹp rất thiên đường và không khí thật trong lành. Có lẽ vì phong cảnh hữu tình, con người niềm nở nên buổi ký kết diễn ra long trọng mà không kém phần thân mật. Phát biểu trong buổi lễ, Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm đã không quên nhắc lại những năm tháng được Đảng và Nhà nước nuôi dưỡng, được học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại học Thủy Lợi, sự thành công của ông ngày hôm nay không thể quên những năm tháng đó, không thể quên những lúc khó khăn trên con đường doanh nhân được Đảng và Nhà nước quan tâm, hỗ trợ, vì vậy ông cho rằng những việc làm ngày hôm nay như một lời cảm ơn tới những ngày đã qua, tới những người đã hy sinh cho độc lập của dân tộc.


    Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy Lợi – GS.TS Nguyễn Quang Kim cũng đã bày tỏ niềm tự hào của Nhà trường khi có một sinh viên như Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm, và GS cũng nhấn mạnh “anh là một phần của lịch sử Trường Đại học Thủy Lợi”, đồng thời Hiệu trưởng cũng thay mặt Nhà trường cam kết sẽ sử dụng quỹ học bổng này đúng mục đích và đối tượng, góp phần giáo dục những thế hệ sinh viên của Nhà trường phát huy được truyền thống cao cả đó. GS cũng không quên gửi lời cảm ơn của các cán bộ, giáo viên, sinh viên trong Nhà trường tới gia đình Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm trước tình cảm mà họ đã dành cho Trường Đại học Thủy Lợi.


    Cũng trong buổi lễ còn được nghe lời phát biểu của Thứ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo PGS.TS Trần Quang Quý, Trung tướng Phùng Khắc Đăng – Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt  Nam. Các ý kiến phát biểu đều gửi đến gia đình ông Lê Văn Kiểm lời cảm ơn vì những nghĩa cử cao đẹp, “quỹ khuyến học chắc chắn sẽ là nguồn động viên con cựu chiến binh trên khắp mọi miền đất nước học tập tốt, rèn luyện tốt, thay mặt hàng triệu cựu chiến binh trên cả nước cảm ơn gia đình ông Lê Văn Kiểm” ( Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam – Trung tướng Phùng Khắc Đăng ). ‘Ngành Giáo dục đã nhận được nhiều sự quan đóng góp, trong đó có một phần không nhỏ của golf Long Thành, của AHLĐ Lê Văn Kiểm” và “ mong có nhiều trường Đại học nhận được quỹ học bổng như trường Đại học Thủy Lợi” (Thứ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo – PGS.TS Trần Quang Quý)


    Ngay sau những phát biểu đó là lễ ký kết thỏa thuận tài trợ vĩnh viễn quỹ khuyến học này cho Trường Đại học Thủy Lợi và Hội Cựu chiến binh Việt Nam, có lẽ đây là giây phút thực sự xúc động trong nhân cách sống của một gia đình doanh nhân thành đạt, cả gia đình đều có mặt trong lễ ký kết này, điều đó càng làm tăng ý nghĩa của việc làm từ thiện này, con trai Lê Huy Hoàng, con gái Lê Nữ Thùy Dương đều là những doanh nhân thành đạt trẻ sát cánh bên bố mẹ AHLĐ Lê Văn Kiểm và bà Trần Cẩm Nhung với nụ cười luôn nở trên môi. Không cảm nhận được nỗi mệt mỏi nào trên gương mặt họ. Thật khâm phục trước một gia đình như vậy trong cuộc sống đang rất hiện đại ngày hôm nay, mặc dù gia đình ông Lê Văn Kiểm là những doanh nhân thành đạt nhất nhì Việt Nam nhưng họ cũng thật bình dị và gần gũi, có lẽ đó là bản chất của một gia đình có truyền thống cách mạng và lớn lên từ cái nôi ấy dẫu họ là ai trong cuộc sống ngày hôm nay….


    Một lần nữa xin gửi lời cảm ơn trong hàng triệu lời cảm ơn khác tới gia đình người Anh hùng lao động – Lê Văn Kiểm.


    Nguyễn Vân Anh


     Chùm ảnh tại buổi lễ ký kết thỏa thuận tài trợ vĩnh viễn quỹ HB khuyến học “Lê Văn Kiểm và gia đình” diễn ra tại Đồng Nai:







    GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ lợi phát biểu tại buổi lễ.








     Ký kết giữa gia đình ông Lê Văn Kiểm – bà Trần Cẩm Nhung và trường Đại học Thuỷ Lợi đại diện GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng và GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng uỷ, Phó Hiệu trưởng…








     ….đã thành công tốt đẹp.









    Ông Lê Văn Kiểm – nhà tài trợ Học bổng và GS.TS Nguyễn Quang Kim, Trung tướng Phùng Khắc Đăng cùng đại diện ngân hàng Công thương Việt Nam ký kết thoả thuận tài trợ vĩnh viễn qũy Học bổng khuyến học.








     GS.TS Nguyễn Quang Kim và GS.TS Phạm Ngọc Quý thay mặt tập thể trường Đại học Thuỷ Lợi tặng qùa lưu niệm gia đình AHLĐ Lê Văn Kiểm


    Xem Báo Công an nhân dân đưa tin buổi lễ này tại đây.

  • Sự ra đời của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.

    Sự ra đời của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.








    Huy hiệu Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (ảnh WRU sưu tầm)









    Cờ đoàn (ảnh WRU sưu tầm)



    Mùa xuân năm 1931, từ ngày 20 đến ngày 26/3, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2, Trung ương Đảng đã giành một phần quan trọng trong chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên và đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt, như các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương phải cử ngay các ủy viên của Đảng phụ trách công tác Đoàn. Trước sự phát triển lớn mạnh của Đoàn trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, ở nước ta xuất hiện nhiều tổ chức Đoàn cơ sở với khoảng 1.500 đoàn viên và một số địa phương đã hình thành tổ chức Đoàn từ xã, huyện đến cơ sở. Sự phát triển lớn mạnh của Đoàn đã đáp ứng kịp thời những đòi hỏi cấp bách của phong trào thanh niên nước ta. Đó là sự vận động khách quan phù hợp với cách mạng nước ta; đồng thời, phản ánh công lao trời biển của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng kính yêu – Người đã sáng lập và rèn luyện tổ chức Đoàn. Được Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng và Bác Hồ cho phép, theo đề nghị của Trung ương Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, Đại hội toàn quốc lần thứ 3 họp từ ngày 22 – 25/3/1961 đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 (một ngày trong thời gian cuối của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 2, dành để bàn bạc và quyết định những vấn đề rất quan trọng đối với công tác thanh niên) làm ngày thành lập Đoàn hàng năm. Ngày 26/3 trở thành ngày vẻ vang của tuổi trẻ Việt Nam, của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh quang vinh.


    Từ ngày 26/3/1931 đến nay, để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng, Đoàn đã đổi tên nhiều lần:


        Từ 1931 – 1936: Đoàn TNCS Việt Nam, Đoàn TNCS Đông Dương


        Từ 1937 – 1939: Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương


        Từ 11/1939 – 1941: Đoàn Thanh niên phản đế Đông Dương


        Từ 5/1941 – 1956: Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam


        Từ 25/10/1956 – 1970: Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam


        Từ 2/1970 – 11/1976: Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh


        Từ 12/1976 đến nay: Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh


    Những thế hệ thanh niên kế tiếp nhau đã chiến đấu anh dũng vì độc lập tự do của Tổ Quốc, vì chủ nghĩa xã hội đã liên tiếp lập nên những chiến công xuất sắc và trưởng thành vượt bậc.


    (Theo Website Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh)

  • Đại hội Đảng bộ công ty Tư vấn và chuyển giao công nghệ.

    Đại hội Đảng bộ công ty Tư vấn và chuyển giao công nghệ.

    Công ty tư vấn và chuyển giao công nghệ thuộc Trường Đại học Thủy Lợi được thành lập từ tháng 8/2000, với sự quan tâm của Đảng ủy và Ban Giám hiệu Nhà trường, công ty đã từng bước kiện toàn công tác tổ chức chính quyền và công tác Đảng. Những năm đầu số lượng Đảng viên còn hạn chế, tuy nhiên đến thời điểm này số lượng Đảng viên của công ty đã lên tới 55 Đảng viên sinh hoạt tại các chi bộ thuộc các chi nhánh của công ty.


    Trung tuần vừa qua, công ty đã tổ chức Đại hội Đảng bộ, trong Đại hội này  nhiều vấn đề quan trọng đã được tổng kết, trong đó nhấn mạnh đến công tác chính trị, tư tưởng; công tác tổ chức và cán bộ, công tác xây dựng Đảng…Đặc biệt vấn đề mà Đại hội quan tâm nhiều nhất đó là công tác chuyên môn và hoạt động sản xuất, chủ yếu đến tình hình sản xuất, chất lượng công trình và các doanh thu đạt được…bên cạnh đó công tác xây dựng Đảng cũng được Đại hội tập trung tổng kết, và đưa ra những đánh giá khả quan về chất lượng Đảng viên với điều kiện các Đảng viên sinh hoạt ở các vùng cách xa nhau, tuy nhiên dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ công tác này đã đạt được những kết quả khả quan.


    Cũng trong khuôn khổ buổi họp này, Đại hội đã đưa những phương hướng và nhiệm vụ trong nhiệm kỳ 2010-2015 về các lĩnh vực: công tác chính trị tư tưởng; công tác chuyên môn và hoạt động sản xuất; công tác tổ chức và cán bộ; công tác lãnh đạo đoàn thể và công tác xây dựng Đảng.


    Kết thúc phiên họp Đại hội đã tiến hành bầu cử cho Ban chấp hành Đảng bộ trong nhiệm kỳ 2010-2015.


    Một số hình ảnh của Đại hội.


     























    N.V.A

  • Bổ nhiệm và Bổ nhiệm lại cán bộ.

    Bổ nhiệm và Bổ nhiệm lại cán bộ.

    15h chiều nay 10/12/2009 tại phòng 223 – A1 đã diễn ra Lễ Bổ nhiệm và Bổ nhiệm lại cán bộ của Trường Đại học Thủy Lợi. Đến dự có GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường; lãnh đạo các phòng, ban, đơn vị và các cá nhân được bổ nhiệm và bổ nhiệm lại.


    Theo đó, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy Lợi đã ký quyết định bổ nhiệm có thời hạn bà Hoàng Thị Thanh Thủy – Thư viện viên Thư viện giữ chức vụ Phó Giám đốc Thư viện; bổ nhiệm lại có thời hạn ông Lê Xuân Roanh – Phó trưởng khoa Kỹ thuật Biển kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Bộ môn Kỹ thuật Công trình Biển tiếp tục giữ chức vụ Phó trưởng khoa Kỹ thuật Biển kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Bộ môn kỹ thuật Công trình Biển; bổ nhiệm lại có thời hạn ông Nguyễn Trung Dũng – Phó trưởng Khoa Kinh tế và Quản lý tiếp tục giữ chức vụ Phó trưởng khoa Kinh tế và Quản lý; bổ nhiệm lại có thời hạn ông Nguyễn Trọng Hoan Trưởng phòng Quản trị tiếp tục giữ chức vụ Trưởng phòng Quản trị.; bổ nhiệm lại có thời hạn ông Hoàng Quốc Thịnh – Phó trưởng phòng Quản trị tiếp tục giữ chức vụ Phó trưởng phòng Quản trị.




    Ông Trần Vũ Hợp – Trưởng Phòng Tổ chức Cán bố công bố Quyết định
    Bổ nhiệm và Bổ nhiệm lại của Hiệu trưởng


    Phát biểu trong buổi lễ GS.TS Phạm Ngọc Quý đã gửi lời chúc mừng đến các đồng chí đã nhận được sự tín nhiệm của Nhà trường, của các đồng nghiệp tại đơn vị để đảm nhiệm chức vụ mới cũng như bước tiếp sang một nhiệm kỳ công tác khác. Đồng thời GS cũng gửi lời cảm ơn đến các đồng chí được bổ nhiệm và bổ nhiệm lại đã đang và sẽ cùng lãnh đạo Nhà trường, lãnh đạo các đơn vị trong trường gánh vác công việc chung của Nhà trường, GS hy vọng với cương vị mới, với nhiệm kỳ công tác mới các đồng chí sẽ tiếp tục phát huy sức mạnh của mình để có thể xây dựng đơn vị mình phát triển hơn nữa, bởi “Khoa tốt, phòng tốt, Nhà trường mới tốt”.




    GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy – Phó Hiệu trưởng Nhà trường
    phát biểu trong buổi Lễ.


    Tân Phó Giám đốc Thư viện Hoàng Thị Thanh Thủy – đã bày tỏ lòng cảm ơn trước sự quan tâm, tín nhiệm của đồng nghiệp, của lãnh đạo Nhà trường, đồng chí hứa cố gắng sẽ phấn đấu và nỗ lực để không phụ niềm tin và sự giao phó đó. Các cá nhân được bổ nhiệm lại cũng thông qua buổi Lễ không quên gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp, lãnh đạo Nhà trường đã tin tưởng cho các đồng chí tiếp tục giữ cương vị công tác của mình trong một nhiệm kỳ công tác mới.


    Bên cạnh những lo toan trước nhiệm vụ mới cho một cương vị công tác mới, trong một thời kỳ mới của Nhà trường vẫn ánh lên niềm vui và nụ cười rạng rỡ. Xin chúc cho họ thành công và thành công hơn nữa cho con đường vinh quang mà họ sẽ đi…


    Một số hình ảnh buổi Lễ:




    GS.TS Phạm Ngọc Quý trao Quyết định Bổ nhiệm của Hiệu trưởng
    cho bà Hoàng Thị  Thanh Thủy.






    GS.TS Phạm Ngọc Quý cùng trao Quyết định Bổ nhiệm lại của
    Hiệu trưởng.




    Lãnh đạo Nhà trường chụp ảnh lưu niệm cùng lãnh đạo các đơn vị
    và các cá nhân được Bổ nhiệm và Bổ nhiệm lại





    Bài và ảnh Nguyễn Vân Anh

  • Lễ khai trương Phòng truyền thống trường Đại học Thủy Lợi

    Lễ khai trương Phòng truyền thống trường Đại học Thủy Lợi

     

    Hòa chung vào các hoạt động kỷ niệm 50 năm thành lập trường chiều ngày 10/11 tại tầng 2 hội trường T45 đã diễn ra lễ khai trương phòng truyền thống trường Đại học Thủy Lợi. Đến tham dự có GS. TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó hiệu trưởng Nhà trường, các đồng chí trong Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường, các phòng ban, các thầy cô giáo và các bạn sinh viên trong trường. Phòng truyền thống là nơi lưu giữ và trưng bày các hình ảnh, tư liệu, hiện vật về quá trình hình thành và phát triển , hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của Nhà Trường trong 50 năm qua.


    Thay mặt Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường, GS. TS Phạm Ngọc Quý đã tuyên bố khai mạc Phòng truyền thống trường Đại học Thủy Lợi. Trong bài phát biểu của mình, thầy đã nhấn mạnh cán bộ, giảng viên cần nắm rõ được những truyền thống của nhà trường; 100 năm sau, 200 năm sau cũng như hôm nay những tư liệu này vẫn sẽ là những minh chứng cho lịch sử, cho những truyền thống mà nhà trường đã xây dựng trong nửa thế kỷ qua. Đồng thời thầy mong nhận được những ý kiến đóng góp thiết thực của các thế hệ cán bộ , giảng viên và sinh viên để phòng truyền thống thật sự là Phòng truyền thống của một Nhà trường Anh Hùng.


    Tham quan phòng truyền thống, những thời kỳ phát triển của nhà trường hiện lên thật sống động: những hình ảnh tư liệu về những bước đi ban đầu gian khó thiếu thốn của nhà trường , thời kỳ xây dựng và phát triển trong điều kiện cả nước có chiến tranh, sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước…Đó là những minh chứng lịch sử vô giá của tháng ngày gian khổ khó khăn nhưng cũng đầy vinh quang của trường Đại học Thủy Lợi. Những huân chương cao quý, hình ảnh về nghiên cứu khoa học, các phong trào học tập, các hoạt động văn nghệ, hoạt động Đoàn… được tái hiện qua các hình ảnh.


    Dòng thời gian vẫn bất tận, nhưng lịch sử vẫn sẽ là những gì đáng quý thiêng liêng nhất đối với mỗi chúng ta. Tham quan phòng truyền thỗng những người con Thủy Lợi thêm tự hào, mến yêu trường mái trường anh hùng, đó sẽ là ngon lửa thắp lên ánh  sáng niềm tin cho những thế hệ hôm nay tiếp bước cha ông viết tiếp trang sử vàng truyền thống của trường Đại học Thủy Lợi.


    Giang – 49C4

    Một vài hình ảnh của buổi lễ Khai trương phòng Truyền thống:








    GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường và các CBGV, sinh viên trong trường tham quan phòng trưng bày truyền thống của Nhà trường trong buổi khai trương.

       







    Thế hệ sinh viên đang theo học tại trường cùng tìm hiểu về quá khứ.

       












  • Danh sách thi học kỳ 1 các lớp K48 trở về trước

    Bấm vào các link dưới đây để tải về Danh sách thi các lớp Khóa 47 và 48:
    Khóa 47
    Khóa 48

  • Gặp mặt kỷ niệm 62 năm ngày thương binh liệt sỹ

    Gặp mặt kỷ niệm 62 năm ngày thương binh liệt sỹ


    Theo truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam, hôm nay nhân dịp ngày thương binh liệt sỹ 27/7, Trường Đại học Thủy Lợi đã tổ chức gặp mặt các gia đình liệt sỹ, các cựu chiến binh, thương binh  là cán bộ giáo viên của Nhà trường.


    Buổi gặp mặt này như một lời tri ân của Trường Đại học Thủy Lợi dành cho những người đã hy sinh một phần cuộc sống của mình cho độc lập của dân tộc, và ngày hôm nay lại tiếp tục sát cánh cùng Nhà trường trong sự nghiệp giáo dục. Thay mặt lãnh đạo Nhà trường GS. TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường đã bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những cống hiến to lớn của các gia đình liệt sỹ cũng như các thươ ng binh, cựu chiến binh, đồng thời GS cũng gửi lời chúc sức khỏe đến toàn thể gia đình và mong muốn luôn đón nhận những đóng góp của các cán bộ, giáo viên là cựu chiến binh, thương binh trong xây dựng và phát triển Nhà trường ngày càng vững mạnh.







    GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng uỷ, Phó hiệu trưởng phát biểu

    .

    Hòa bình ngày hôm nay là sự mất mát, đấu tranh của biết bao nhiêu thế hệ con người đã ngã xuống ngày hôm qua. Một lần nữa, xin gửi lòng biết ơn vô hạn đến những người đã hy sinh, những người mất đi một phần máu thịt, gửi lời biết ơn đến vạn trái tim vẫn đập rộn ràng dẫu đã nằm trong lòng đất, cho màu xanh hòa bình, màu xanh của độc lập tự do….







    Lãnh đạo Nhà trường tặng hoa chúc mừng các gia đình liệt sỹ, các thương binh là cán bộ, giảng viên trong trường


    PV. NVA
    Ảnh HMT