Danh mục: Tin tức & thông báo

  • Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trường Đại học Thủy lợi lần thứ XXVII, nhiệm kỳ 2012 – 2014

    Hòa trong không khí thi đua sôi nổi của thanh thiếu niên Thủ đô chào mừng Đại hội Đoàn  Thành phố Hà Nội lần thứ XIV, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X, được sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng uỷ, Ban giám hiệu, các phòng khoa, ban trong trường và sự chỉ đạo của Thành đoàn Hà Nội, 200 đại biểu ưu tú đại diện cho hơn 8000 đoàn viên trường Đại học Thủy Lợi đã có mặt tại Hội trường T45 để tham dự Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại học Thủy lợi lần thứ 27, nhiệm kỳ 2012-2014.

     
     
    Các tiết mục văn nghệ của Đoàn viên thanh niên trường Đại học Thủy Lợi

     

    Đến dự và chỉ đạo đại hội có các đồng chí Ngọ Duy Hiểu – UVTV Trung ương Đoàn, Thành ủy viên, Bí thư Thành đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên TP Hà Nội. GS.TS Nguyễn Quang Kim – Bí thư Đảng uỷ , Hiệu trưởng Nhà trường cùng đại diện Thành đoàn, các phòng ban trong trường và Đoàn các trường bạn, các phóng viên báo chí, truyền hình đến đưa tin về Đại hội.

     
     Ban chấp hành Đoàn trường chủ trì Đại hội

    Đại hội Đoàn Trường Đại học Thủy lợi lần thứ 27 có nhiệm vụ tập trung trí tuệ, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đoàn Trường lần thứ 26, các Nghị quyết của Đảng uỷ và Đoàn cấp trên. Trên cơ sở đó xác định mục tiêu phương hướng nhiệm vụ và các biện pháp cần thiết nhằm nâng cao chất lượng công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu niên trong nhiệm kỳ tới và những năm tiếp theo xứng đáng với truyền thống của ngôi trường đã trải qua 50 năm xây dựng phát triển. Đại hội cũng tiến hành tổng kết đánh giá công tác đoàn và phong trào thanh niên nhiệm kỳ 2010 – 2012, xây dựng phương hướng hoạt động nhiệm kỳ 2012 – 2014 đồng thời cũng đã bầu ra BCH Đoàn trường khóa XXVII, nhiệm kỳ 2012 – 2014 gồm 23 đồng chí là những cán bộ Đoàn xuất sắc, tiêu biểu trên nhiều lĩnh vực hoạt động và công tác đại diện cho tuổi trẻ Nhà trường. 

    Đồng chí Ngọ Duy Hiểu– UVTV Trung ương Đoàn, Thành ủy viên, Bí thư Thành đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên TP Hà Nội phát biểu

    Sự có mặt của các đồng chí đại diện Thành Đoàn Hà Nội, Đoàn TN các trường bạn, của các đồng chí trong Đảng ủy – BGH, đại diện các phòng, khoa, trung tâm trong Nhà trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với Đại hội. Trong bài phát biểu của mình, đồng chí Ngọ Duy Hiểu đã nhấn mạnh vai trò tích cực của tuổi trẻ Đại học Thủy Lợi trong những phong trào của Thành Đoàn Hà Nội. Sự máu lửa, đam mê, nhiệt huyết luôn cháy hết mình của các bạn Đoàn viên  trong các chương trình góp sức vì thủ đô thân yêu, các phong trào tình nguyện, mùa hè xanh. Đồng chí cũng đánh giá cao công tác chuẩn bị cũng như tiến hành Đại hội. Đặc biệt là các bài tham luận có nội dung và cách trình bày tốt, có giá trị thực tiễn cao, với những cái nhìn đầy đủ toàn diện về thực trạng Đoàn viên thanh niên hiện nay.

     GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường phát biểu ý kiến

    Về phía đại diện Nhà trường, GS.TS Nguyễn Quang Kim đã gửi những lời chúc mừng đến Đại hội. Chúc mừng các đồng chí đã trúng cử vào Ban chấp hành Đoàn trường nhiệm kỳ 2012- 2014. Bên cạnh đó, thầy cũng nhấn mạnh việc xây dựng hệ thống văn hóa học đường trong sinh viên cần được triển khai rộng khắp. Đây cũng sẽ là nền tảng để hình thành môi trường học tập tích cực, thân thiện, năng động, khoa học và hiệu quả.

     

    Đại hội đã nhận được những ý kiến chỉ đạo của Đoàn cấp trên, của Đảng ủy – BGH Nhà trường. Đó là những định hướng quan trọng cho Đoàn trường trong công tác tổ chức triển khai các hoạt động, cho đoàn viên thanh niên trong trường tu dưỡng học tập, rèn luyện và cống hiến vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, vì sự tiến bộ của tuổi trẻ, vì sự nghiệp xây dựng trường Đại học Thủy Lợi.

    Sau 2 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao. Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại học Thủy lợi lần thứ XXVII, nhiệm kỳ 2012 – 2014 đã thành công tốt đẹp. Thành công đó chính là sự đóng góp trí tuệ của các đại biểu dự Đại hội với tri thức, tâm huyết, lòng nhiệt tình và trách nhiệm cao của những người Đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh. Các ý kiến đóng góp vào báo cáo chính trị của Ban Chấp hành khóa XXVI sẽ được BCH khóa XXVII tiếp thu và điều chỉnh, cụ thể hóa trong nhiệm kỳ tới.

     Ban chấp hành Đoàn trường mới ra mắt Đại hội
     
    Chúng ta tin tưởng rằng tập thể các Liên chi Đoàn, các Chi đoàn và các đồng chí Đoàn viên sẽ tiếp tục phát huy tinh thần của thế hệ trẻ, thể hiện ý chí quyết tâm, sát cánh cùng BCH Đoàn trường khóa mới thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội, đưa phong trào Đoàn trường ngày càng trở nên vững mạnh. Xây dựng hình ảnh tiêu biểu của người đoàn viên thanh niên trường Đại học Thủy lợi.

    Một lần nữa xin chúc mừng thành công đặc biệt của Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại học Thủy lợi lần thứ XXVII, nhiệm kỳ 2012 – 2014.

     

    DANH SÁCH CÁC ĐỒNG CHÍ THAM GIA BAN CHẤP HÀNH

     ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

    KHÓA XXVII, NHIỆM KỲ 2012 – 2014

     

    TT

    Họ và tên

    Năm sinh

    Đơn vị

    Trình độ

    Đảng viên

    Chức vụ

    Nam

    Nữ

    1

    Đào Văn Hưng

    1978

     

    Khoa C

    Tiến sỹ

    x

    Bí thư

    2

    Nguyễn Công Viễn

    1985

     

    VP Đoàn

    Kỹ sư

    x

    Phó bí thư

    3

    Lê Thị Mỹ Dung

     

    1986

    Khoa K

    Thạc sỹ

    x

    Phó bí thư

    4

    Nguyễn Quang Lương

    1983

     

    Khoa B

    Thạc sỹ

    x

    UV BTV

    5

    Nguyễn Kim Tuấn

    1991

     

    HSV

    Sinh viên

     

    UV BTV

    6

    Nguyễn Duy Hải

    1987

     

    BM GDTC

    Cử nhân

     

    UV BTV

    7

    Nguyễn Thế Anh

    1983

     

    Khoa N

    Thạc sỹ

    x

    UV BTV

    8

    Lê Văn Chín

    1979

     

    Khoa N

    Tiến sỹ

    x

    UV BCH

    9

    Nguyễn Xuân Hiển

    1983

     

    Khoa C

    Thạc sỹ

     

    UV BCH

    10

    Nguyễn Tuấn Đức

    1991

     

    Khoa TH

    Sinh viên

    x

    UV BCH

    11

    Đào Trung Kiên

    1992

     

    Khoa N

    Sinh viên

     

    UV BCH

    12

    Phạm Văn Thân

    1992

     

    Khoa B

    Sinh viên

     

    UV BCH

    13

    Dương Bá Hùng

    1989

     

    Cty tư vấn

    Kỹ sư

     

    UV BCH

    14

    Lê Đình Hoàng

    1989

     

    Khoa CK

    Sinh viên

     

    UV BCH

    15

    Nguyễn Năng Chính

    1988

     

    Khoa NL

    Sinh viên

     

    UV BCH

    16

    Đỗ Chí Tuấn

    1992

     

    Khoa K

    Sinh viên

     

    UV BCH

    17

    Bùi Khắc Xuân

    1987

     

    Khoa C

    Sinh viên

    x

    UV BCH

    18

    Vũ Duy Đức

    1991

     

    CLB SVTN

    Sinh viên

     

    UV BCH

    19

    Quàng Văn Thương

    1988

     

    Đội TNXK

    Sinh viên

     

    UV BCH

    20

    Phạm Thị Quang

     

    1991

    CLB Chiếu phim

    Sinh viên

    x

    UV BCH

    21

    Nguyễn Hoàng Giang

    1992

     

    52M2

    Sinh viên

     

    UV BCH

    22

    Trương Anh Tú

    1991

     

    51TH1

    Sinh viên

     

    UV BCH

    23

    Đỗ Quang Giang

    1991

     

    Khoa NL

    Sinh viên

     

    UV BCH

     

    DANH SÁCH CÁC ĐỒNG CHÍ THAM GIA BAN KIỂM TRA

     ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

    KHÓA XXVII, NHIỆM KỲ 2012 – 2014

    TT

    Họ và tên

    Năm sinh

    Đơn vị

    Trình độ

    Chức vụ chính quyền, đoàn thể

    Đảng viên

    Chức vụ

    Nam

    Nữ

    1

    Nguyễn Công Viễn

    1985

     

    VP Đoàn

    Kỹ sư

    Phó Bí thư Đoàn trường

    X

    Chủ nhiệm

    2

    Quàng Văn Thương

    1988

     

    Đội TNXK

    Sinh viên

    Đội trưởng đội TNXK

     

    Phó chủ nhiệm

    3

    Nguyễn Thị Trang

     

    1992

    52NKN

    Sinh viên

    Phó Bí thư LCĐ khoa N

     

    Ủy viên

    4

    Nguyễn Hồng Đăng

    1991

     

    51CTL1

    Sinh viên

    Phó Bí thư LCĐ khoa C

     

    Ủy viên

    5

    Lê Hoàng Luân

    1992

     

    53KTĐ

    Sinh viên

    UV BCH LCĐ khoa NL

     

    Ủy viên

     

    Tham luận về Văn hóa học đường – SV Thùy Khánh- 51CTL4

     Bài viết: Thùy Khánh- 51CTL4

    Ảnh: Mai Anh

  • Lễ công bố quyết định bổ nhiệm Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ lợi

    Sáng ngày 19-6-2012, Trường Đại học Thuỷ lợi long trọng tổ chức buổi lễ công bố Quyết định bổ nhiệm phó Hiệu trưởng Nhà trường tại Hội trường T45.

    Buổi lễ có sự hiện diện của: ông Vũ Trọng Hà – Uỷ viên Ban cán sự Đảng – Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ông Phạm Hùng – Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ; về phía Nhà trường có các đồng chí trong Đảng uỷ, Ban giám hiệu, Hội đồng trường, Công đoàn, Đoàn thanh niên, các cán bộ chủ chốt của Nhà trường đã cũng tham dự buổi lễ.

     Mở đầu buổi lễ, đại diện Vụ Tổ chức cán bộ – ông Phạm Hùng – Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã công bố quyết định bổ nhiệm PGS.TS Trần Viết Ổn – Trưởng Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước kiêm nhiệm Viện trưởng Viện Kỹ thuật Tài nguyên nước giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ lợi.

     

    Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn, lãnh đạo Nhà trường

    chúc mừng tân phó Hiệu trưởng PGS.TS Trần Viết Ổn

    Chúc mừng tân Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ lợi, Ông Vũ Trọng Hà – Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ đã nhấn mạnh đây là sự kiện rất quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của Trường đại học Thuỷ lợi trên con đường thực hiện Chiến lược phát triển nhà trường giai đoạn 2006 – 2020 đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn phê duyệt. Đại diện lãnh đạo Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá cao những thành tích của tân Phó Hiệu trưởng trong những năm vừa qua và nhấn mạnh: nhiệm vụ mới là vinh dự cũng là trọng trách nặng nề đối với PGS.TS Trần Viết Ổn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng hy vọng rằng Tân Phó hiệu trưởng sẽ phát huy được năng lực, tâm huyết của mình để tiếp tục có những đóng góp xuất sắc cho sự phát triển của Nhà trường và toàn Ngành.
     

    Ông Nguyễn Trọng Hà – Vụ trưởng Vụ TCCB Bộ NN và PTNT phát biểu chúc mừng và
    giao nhiệm vụ đối với Tân Phó Hiệu trưởng Trường ĐHTL

    .

    Với niềm xúc động trong buổi lễ, Tân Phó hiệu trưởng PGS.TS Trần Viết Ổn đã gửi lời cảm ơn đến Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, lãnh đạo nhà trường, tập thể đã tin tưởng giao phó nhiệm vụ. Tân Phó Hiệu trưởng đã bày tỏ quyết tâm cùng với Ban Giám hiệu Nhà trường và toàn thể cán bộ giảng viên Nhà trường thực hiện thành công chiến lược phát triển Nhà trường trong những năm tới.


    Tân Phó Hiệu trưởng Nhà trường PGS.TS Trần Viết Ổn phát biểu cảm ơn tại buổi lễ
    Thay mặt lãnh đạo Nhà trường, GS.TS Nguyễn Quang Kim – Bí thư Đảng uỷ, Hiệu trưởng Nhà trường cảm ơn sự quan tâm chỉ đạo sát sao và những tình cảm quý báu mà Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn luôn dành cho Trường Đại học Thuỷ lợi. Hiệu truởng Nhà trường cũng nhấn mạnh, nếu không có sự đồng tâm hiệp lực, đoàn kết nhất trí cao của toàn thể Nhà trường trong mỗi nhiệm vụ thì không thể đi tới thành công ;  sự đóng góp của Tân Phó Hiệu trưởng – PGS.TS Trần Viết Ổn cùng với sự ủng hộ của toàn thể CBGV SV nhà trường sẽ là yếu tố không thể thiếu để vươn tới những tầm cao mà tập thể Nhà trường luôn mong đợi.
     

    GS.TS Nguyễn Quang Kim – Bí thư Đảng uỷ , Hiệu trưởng Nhà trường

    Kết thúc buổi lễ, lãnh đạo trường cùng cán bộ các đơn vị đã trao tặng những bó hoa rực rỡ và những lời chia vui chân thành chúc mừng tân Phó Hiệu trưởng trong không khí phấn khởi, ấm áp. Xin kính chúc PGS.TS Trần Viết Ổn sức khỏe để cống hiến nhiều hơn nữa cho sự nghiệp phát triển Nhà trường, cùng tập thể cán bộ, giáo viên, sinh viên toàn trường thực hiện thành công Chiến lược phát triển đưa tên tuổi của Trường Đại học Thủy lợi đến bạn bè trong khu vực và thế giới trong thời gian không xa.


    Tin và ảnh: Hà Linh Ngọc

     
  • Thông báo Về việc phát động cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam”

    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT                                   CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

          TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI                                   Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

                                                                                                                           

                Số      487        /TB-ĐHTL

                                                                            Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2012

     

    THÔNG BÁO

    Về việc phát động cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam”

     


    Thiết thực hưởng ứng “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Lào 2012”, chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị hợp tác giữa hai nước; Góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng, nhất là cho thế hệ trẻ của hai nước về tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước; Vun đắp tình hữu nghị thuỷ chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt – Lào; đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, bóp méo lịch sử, gây chia rẽ tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào của các thế lực thù địch. Nhà trường phát động tới toàn thể cán bộ, giảng viên và sinh viên trong toàn trường tích tham gia cuộc thi “ Tìn hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam”.

    I. Đối tượng dự thi: Toàn thể cán bộ, giảng viên, sinh viên trong toàn trường quan tâm.

    II. Hình thức thi: Thi trắc nghiệm hằng tuần và thi viết.

    1. Thi trắc nghiệm hằng tuần:

     Cách thức thi: Người dự thi tiến hành truy cập vào một trong các trang web của Ban Tổ chức cuộc thi để trả lời câu hỏi thi của Ban Tổ chức

     2. Thi Viết:

     Quy định về bài dự thi :Bài dự thi của tác giả phải là các tác phẩm chưa được công bố ở bất kỳ báo, tạp chí, sách…. và phải chuyển tải được một trong các nội dung theo đúng yêu cầu của Ban tổ chức

     – Thời gian thi viết: Bắt đầu tính từ khi Nhà trường ra thông báo. Hạn cuối cùng nộp bài dự thi về Bài dự thi gửi về Ban tuyên giáo thành ủy Hà Nội trước ngày 30/9/2012).

    III. Giải thưởng

     – Ngoài những giải thưởng của Ban tổ chức, Nhà trường sẽ có các giải thưởng cho các bài thi đạt giải (theo quy chế chi tiếu nội bộ của trường)

                Nhận được thông báo này toàn thể cán bộ, giảng viên, sinh viên trong toàn trường tích cực hửng ứng tham gia.

    Mọi thông tin chi tiết về thể lệ, cách thức thi, giải thưởng xem tại trang Web của Ban tuyên giáo trung ương:

    http://tuyengiao.vn/Home/BantuyengiaoTW/huongdanchidao/2012/4/40443.aspx

     

    Nơi nhận:                                                                                      

         – ĐU, BGH (b/c);

         – ĐTN, HSV, CS2, Viện MT, các Khoa;

         – Các lớp SV;

          – Lưu VT, CTCT&QLSV

    KT.HIỆU TRƯỞNG

    PHÓ HIỆU TRƯỞNG

     

     

    (đã ký)

     

    GS.TS Phạm Ngọc Quý

     

  • Buổi gặp mặt của Nhà trường với chuyên gia tổ chức QS Asia Singapore

    Sáng 13/6/2012, tại Phòng khách, trường Đại học Thủy Lợi đã diễn ra buổi gặp mặt của Nhà trường và chuyên gia tổ chức QS Asia, Singapore. Tham dự có PGS.TS Trịnh Minh Thụ – Phó hiệu trưởng Nhà trường, Ths Phạm Hồng Nga – Trưởng phòng Hợp tác quốc tế, ông Ashwin Fermandes – Chuyên gia tổ chức QS Asia Singapore cùng một số đại diện các phòng ban.

     

    Mở đầu buổi gặp mặt, PGS.TS Trịnh Minh Thụ rất vui mừng chào đón sự hiện diện của ông Ashwin Fermandes. Thầy Phó hiệu trưởng giới thiệu với ông Fermandes về trường Đại học Thủy Lợi với các ngành nghề đào tạo cũng như các hoạt động học tập và nghiên cứu của sinh viên và cán bộ, giảng viên trong trường.

     

    Đại diện từ tổ chức QS Asia Singapore, ông Ashwin Fermandes cũng giới thiệu với Nhà trường về tổ chức QS. Nằm trong Singapore, QS châu Á là công ty con trong khu vực của QS – mạng hàng đầu thế giới cho sự nghiệp giáo dục đào tạo, có trụ sở tại Luân Đôn. QS là nhà cung cấp thông tin và các giải pháp chuyên biệt về nền giáo dục trình độ cao và nghề nghiệp. Kết hợp tất cả các giá trị QS trung tâm, tầm nhìn của QS châu Á được tập trung vào việc giúp đỡ châu Á, Trung Đông và châu Phi tổ chức giáo dục đại học. Các hoạt động của QS Châu Á rất đa dạng. Một trong những hoạt động đáng chú ý của QS Châu Á là việc xuất bản tạp chí News 2 WON U cho phép các trường đại học, các tổ chức giáo dục,… có thể tự giới thiệu về hoạt động cũng như các chuyên ngành đào tạo của mình với bạn bè thế giới.

    Lãnh đạo Nhà trường bày tỏ sự quan tâm, mong muốn được trao đổi thảo luận thêm với tổ chức QS về việc kiểm định trường, xếp hạng trường và giới thiệu về Nhà trường trên tạp chí News 2 WON U.
     
    Trần Mai Anh

  • Lễ công bố quyết định bổ nhiệm Phó Trưởng phòng KHCN, bổ nhiệm lại Phó Trưởng khoa Công trình

    Sáng ngày 12 -5-2012, Trường Đại học Thuỷ lợi tổ chức buổi lễ công bố quyết định của Hiệu trưởng bổ nhiệm Phó Trưởng Phòng Khoa học công nghệ và bổ nhiệm lại  Phó Trưởng Khoa Công trình. Tham dự buổi lễ có GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường, GS.TS Dương Thanh Lượng – Chủ tịch Hội đồng trường, PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng Nhà trường, cùng lãnh đạo các Phòng Ban trong Nhà trường.

    Tại buổi lễ, đồng chí Trần Vũ Hợp – Trưởng phòng Tổ chức cán bộ công bố các quyết định của hiệu trưởng Nhà trường về việc bổ nhiệm các chức danh cán bộ lãnh đạo quản lý, gồm có: 1. Bổ nhiệm có thời hạn ông Nguyễn Cao Đơn – Giảng viên Bộ môn Kỹ thuật Tài nguyên nước giữ chức vụ Phó trưởng Phòng Khoa học công nghệ và thôi giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Quy hoạch Tài nguyên nước thuộc Viện Kỹ thuật Tài nguyên nước ; 2. Bổ nhiệm lại có thời hạn ông Nguyễn Việt Quang – tiếp tục giữ chức vụ Phó trưởng Khoa Công trình.

    GS.TS Nguyễn Quang Kim– Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Nhà trường đã phát biểu chúc mừng các lãnh đạo mới được bổ nhiệm; mong muốn các đồng chí sẽ phát huy năng lực của mình để thực hiện tốt công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học – hai nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà Trường.

    Sau khi lắng nghe phát biểu giao nhiệm vụ từ lãnh đạo Nhà trường, các đồng chí mới được bổ nhiệm bày tỏ lòng cảm ơn về sự quan tâm của Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường đối với quá trình rèn luyện, phấn đấu và hứa sẽ tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng lãnh đạo quản lý để không phụ lòng tin của lãnh đạo các cấp và tập thể giao phó.

    Hà Linh Ngọc

  • Họp khởi động Dự án “Giảm thiểu thiệt hại về kinh tế và đời sống ở vùng hạ lưu do việc xả lũ ở Việt Nam” với ĐSQ New Zealand, đoàn chuyên gia GNS, Damwatch và đại diện Bộ NN&PTNT Việt Nam

    Ngày 28/5 vừa qua, tại phòng 223, nhà A1, trường Đại học Thủy Lợi đã diễn ra cuộc họp khởi động Dự án “Giảm thiểu thiệt hại về kinh tế và đời sống ở vùng hạ lưu do việc xả lũ ở Việt Nam”. Tham dự có GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường, ông Vũ Trung Kiên – Cục phó Cục Đê điều và Phòng chống lụt bão, ông Phạm Hồng Giang – Chủ tịch Hội Đập Lớn Việt Nam, Đại sứ quán New Zealand, các chuyên gia của tổ chức GNS Science và công ty Damwatch Service cùng các đại diện các phòng, ban trong trường.
     
    Ký kết hợp tác ba bên giữa trường Đại học Thủy Lợi, tổ chức GNS Science và công ty Damwatch Service.
     

    Cuộc họp nhằm khởi động triển khai dự án “Giảm thiểu thiệt hại về kinh tế và đời sống ở vùng hạ lưu do việc xả lũ ở Việt Nam”. Việc chuyển giao kỹ năng và năng lực là rất quan trọng cho mục tiêu lâu dài của dự án này. Thông qua việc thiết kế trang web đa phương tiện truyền thông và mô phỏng máy tính dựa trên giả thuyết sẽ cho phép Việt Nam quản lý an toàn đập mô phỏng và nhiều phương pháp quản lý thiên tai  nhằm giảm thiệt hại về người và thiệt hại kinh tế từ việc xả đập hay vỡ đập thông qua một chiến lược phù hợp cho Việt Nam về xây dựng đập và quản lý việc xây dựng đập ở các địa phương. Khi kết thúc dự án, Việt Nam sẽ có những ứng dụng nghiên cứu cụ thể về mô hình thực nghiệm và khung chương trình phát triển với những nhà đầu tư. Các đơn vị phía Việt Nam sẽ sử dụng các ứng dụng  cho các vùng có rủi ro thiên tai và đối phó được với sự thay đổi thời tiết cho đập của Việt Nam.

    Đoàn chuyên gia GNS, Damwatch chụp ảnh lưu niệm cùng sinh viên
     

    Trường Đại học Thủy lợi là đơn vị chuyên trách về an toàn đập đồng thời cũng là đối tác tin cậy của công ty New Zealand, tổ chức GNS Science, và công ty Damwatch Services trong các dự án nhằm giảm thiểu các nguy cơ rủi ro thiên tai và các hậu quả của thiên tai trong tương lai. Cũng tại cuộc họp lần này, GS.TS Nguyễn Quang Kim đại diện Nhà trường đã ký kết hợp tác ba bên giữa trường Đại học Thủy Lợi, tổ chức GNS Science và công ty Damwatch Service.

     

    Trần Mai Anh

     

     

     

  • Hội nghị học tập quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 của Trường Đại học Thuỷ lợi

    Ngày 5-6-2012, Đảng bộ Trường Đại học Thuỷ lợi đã tổ chức Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 Khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị Khoá XI “Về phương hướng nhiệm vụ phát triển Thủ đô giai đoạn 2011-2020” và 9 Chương trình công tác của BCH Đảng bộ TP Khoá XV tới toàn thể Đảng viên thuộc Đảng bộ Nhà trường.

    Tại Hội nghị, các đại biểu được nghe PGS.TS Nguyễn Viết Thông – Tổng thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương quán triệt những nội dung cơ bản của Nghị quyết.

     
    PGS.TS Nguyễn Viết Thông – Tổng Thư ký Hội đồng lý luận Trung ương

    Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ, phương thức lãnh đạo. Nghị quyết Trung ương 4 tập trung vào 3 vấn đề cấp bách:

    Thứ nhất, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

    Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.hicvs

    Thứ ba, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Ba nội dung đó có quan hệ gắn bó, trong đó, nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt, mang tính cấp bách nhất.

    Đồng chí cũng đã phân tích, chỉ rõ những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trên cả 3 vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, chỉ ra tính chất, phạm vi, xu thế và hậu quả của những yếu kém, khuyết điểm đó.Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét toàn diện, chỉ ra nguyên nhân chủ quan và khách quan của những yếu kém, khuyết điểm, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu; khẳng định các nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động lẫn nhau, xuyên thấm vào nhau rất phức tạp.
    Trên cơ sở xác định ba nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách nêu trên, Trung ương đã chỉ ra các giải pháp mang tính đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, khả thi, kết hợp “chống và xây” “xây và chống”, tập trung vào những vấn đề bức xúc nhất, cấp bách nhất với 4 nhóm giải pháp:

     (1) Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong và gương mẫu của cấp trên;(2) Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt Đảng; (3) Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách; (4) Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Tinh thần toát lên trong các nhóm giải pháp đó là: Xác định những việc cần làm, có thể làm ngay và những việc cần có thời gian chuẩn bị, nhất là về vấn đề xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện một cách kiên quyết, hiệu quả.
    Trong các nhóm giải pháp, cần đặc biệt chú ý chuẩn bị và tiến hành tốt việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao; giữ gìn đạo đức lối sống của bản thân và của người thân trong gia đình. ..

    Trong khuôn khổ hội nghị, PGS.TS Nguyễn Viết Thông cũng trình bày Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị “về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô giai đoạn 2011-2015, 9 Chương trình công tác của BCH Đảng bộ TP Khoá XV, Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng và Quy định về những điều Đảng viên không được làm …

    Hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 của Đảng bộ Trường Đại học Thuỷ lợi đã được tổ chức nghiêm túc. Nội dung cơ bản của Nghị quyết TW 4 khoá XI đã được quán triệt sâu rộng đến cán bộ Đảng viên, tạo sự thống nhất về ý chí, hành động trong toàn Đảng bộ, góp phần đấu tranh chống các quan điểm sai trái, các biểu hiện lệch lạc trong nhận thức, củng cố kiện toàn Nhà trường, nâng cao chất lượng hội nhập quốc tế, đảm bảo phát triển hiệu quả và bền vững.

    Hà Linh Ngọc

     

  • Hồ Chí Minh và những ngày đi tìm đường cứu nước

    Ở bến Nhà Rồng – TP Hồ Chí Minh có một khu di tích quy tập những hình ảnh về cuộc đời và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng dễ hiểu, bởi từ nơi đây, ngày 5/6/1911, một người thanh niên yêu nước Việt Nam có tên là Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước.

     

    Nhà Rồng (nơi Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước). Ảnh: Phạm Lợi.

     Mang tên mới: Văn Ba, anh xin được chân người phụ bếp trên một chiếc tàu biển của Pháp Latusơ Tơrêvin. Từ đây, hoà mình trong đời sống của thợ thuyền, người thanh niên Văn Ba bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước thoát khỏi ách nô lệ của chế độ thực dân.

    Cuộc hành trình 30 năm ròng, đi qua 28 quốc gia, làm nên sự nghiệp lớn, xuất phát từ một anh phụ bếp Văn Ba trên một chiếc tàu vận tải hàng hải. Tuy lao động vất vả suốt ngày, suốt tháng không có ngày nghỉ, ông chủ chỉ trả cho anh mỗi tháng không quá 50 phrăng, là thứ tiền công rẻ mạt nhất cho một lao động, nhưng anh không nản lòng, chê trách. Mà trái lại, với thái độ cởi mở, lễ phép với mọi người; từ người lao động đến những du khách thượng hạng đi trên tàu, ai cũng quý mến anh, sẵn sàng giúp đỡ mỗi lần anh muốn biết về một điều gì đó. Xong việc, anh tranh thủ học thêm hoặc đọc sách hay tự học ngoại ngữ. Tàu cập bến một số nước, anh Ba lên bờ, không phải như những người khác, bao nhiêu tiền dồn vđo việc ăn chơi phung phí; anh dành thời gian đi sâu tìm hiểu hiện trạng thực tế xã hội. Anh chợt nhận ra rằng, mỗi quốc gia mỗi vẻ khác nhau về phong cảnh và con người; nhưng về xã hội thì đâu đâu cũng có người nghèo, người giàu, đâu cũng có các tệ nạn xã hội, đâu cũng có người tốt và kẻ xấu.

    Anh tiêu tiền hợp lý, chỉ sử dụng tiền khi cần thiết, còn dành một ít tiền gửi về cho người cha ở nhà đang còn gặp nhiều khó khăn. Trên đất Pháp, anh viết thư gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xin vào học Trường Thuộc địa. Đây không chỉ là trường đào tạo học sinh sau này phục vụ chính sách cai trị của Pháp mà còn đào tạo một số nghề chuyên môn như điện báo, kế toán, xưởng trưởng… Anh ký tên Nguyễn Tất Thành, trong thư anh ghi: “ý muốn trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức”. Song lời yêu cầu thiết tha đó không được chấp nhận. Một lần nữa, anh lại xuống tàu tiếp tục cuộc hành trình qua những châu lục khác.

    Trên chiếc tàu biển của hãng Sácgiơ Rêminy nước Pháp, Nguyễn Tất Thành bắt đầu chuyến hành trình qua các nước bên bờ biển châu Phi. Khi tàu cập bến, anh thường tranh thủ thời gian rỗi lên thăm thành phố cảng, dạo ngắm phong cảnh châu Phi và tìm hiểu đời sống kinh tế, xã hội của lục địa đen này. Anh đã được chứng kiến nhiều cảnh đau xót. Thân phận của nô lệ da đen thật kinh khủng. Họ là người mà không được sống cuộc sống của con người. Họ bị hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần, họ là thứ hàng hoá trao đổi mua bán giữa các ông chủ buôn người công khai được pháp luật thừa nhận. Bọn chủ xem tính mạng những người nô lệ da đen là thứ trò chơi tiêu khiển, là những đồ dùng khi cần thì sử dụng, khi không cần thì vứt đi không tiếc. Trước những cảnh đời đau xót đó, Nguyễn Tất Thành đã có lúc xúc động và khóc. Người đau nỗi đau chung của nhân loại cho thân phận người nô lệ, cho số phận của người dân Việt Nam bị áp bức, bị mất quyền tự do của con người.

     

    Tàu Đô Đốc Latútsơ Tơrêvin, nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước.

    Rời châu Phi, để lại nỗi buồn của những cảnh đời, những băn khoăn suy tư về một câu hỏi lớn: Làm thế nào để trên thế giới bớt đi sự bất công? Từ châu Phi, anh đến châu Mỹ, đi qua Mactinich, Urugoay, Achentina, rồi lần đầu tiên đặt chân lên nước Mỹ, nơi anh thường được nghe về một tuyên ngôn độc lập nổi tiếng cả thế giới. Người muốn dừng chân trên đất Mỹ một thời gian để tìm hiểu bản chất của sự độc lập kiểu Mỹ như thế nào.

    Thời gian đầu Nguyễn Tất Thành đến nhận một công việc làm bánh tại một gian bếp của khách sạn Omni Parker House ở thành phố Boston. Tại đây, anh thường lui tới khu vực Háclem, nơi ở của người nghèo, chủ yếu là người da đen. Anh làm quen với các phong trào đấu tranh với giới chủ, từ những cuộc quyên góp tiền gửi về giúp đỡ quê hương châu Phi. Có lần khi trả lời nhà báo A.Luy Xtơrông, Bác Hồ nhớ lại thời kỳ này: “Khi ấy tôi chưa hiểu lắm về chính trị, nhưng tôi cảm thấy họ đều là những người nghèo khổ đang mong muốn được tự do. Họ có bao nhiêu tiền cũng bỏ ra trong lúc quyên góp, thế là tôi dốc cả tiền túi của mình ra góp vào đấy”.

    Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ sang nước Anh. Thời kỳ đầu gặp nhiều khó khăn về kinh tế nên phải tạm xin việc quét tuyết cho một trường học, rồi chuyển sang làm nghề đốt lò. Tiền thu chẳng được bao nhiêu vừa đủ tiền thuê nhà, tiền học thêm tiếng Anh, còn lại chỉ đủ những bữa ăn thanh đạm. Sau đó nhờ có người giới thiệu, anh chuyển đến làm thuê ở khách sạn Cáclơtơn. ở đây có ông vua đầu bếp nổi tiếng Excôpphiê người Pháp. Anh Thành nhận việc rửa bát đĩa, xoong nồi, lao động chăm chỉ, tính tình cởi mở, đặc biệt rất có ý thức trong công việc. Mỗi lần phục vụ bữa tiệc lớn của những người giàu có, thức ăn thừa nhiều, anh Thành không vứt những thức ăn còn có thể dùng được, mà gói lại mang ra đường cho những người nghèo.

    Việc làm đó được ông Excôpphiê rất chú ý. Là người có tư tưởng tiến bộ nên ông rất quý anh và ông đã giúp anh cách làm bánh – một bí quyết nghề nghiệp. Có công việc mới, anh Thành vừa đỡ vất vả lại có thời gian để học thêm tiếng Anh. Lúc này ở nước Anh đã hình thành một tổ chức gồm những người châu á, có tư tưởng tiến bộ, gọi là “Hội những người lao động hải ngoại”. Anh Thành trở thành hội viên của Hội vì Hội này ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam.

    Thời kỳ ở nước Anh, ngoài điều kiện thuận lợi cho anh học tiếng, điều kiện xã hội và chính trị đương thời còn giúp anh hiểu biết nhiều về chế độ chính trị của xã hội tư bản, về đấu tranh giai cấp giữa công nhân và tư sản… Tuy điều kiện rất tốt song có điều những thông tin về quê hương quá ít, ở nước Pháp – nước đang trực tiếp đô hộ dân tộc mình – sẽ có nhiều thông tin về quê hương. Hơn nữa nhờ liên lạc được với cụ Phan Chu Trinh và một số người Việt Nam đang ở Paris, Nguyễn Tất Thành càng hiểu hơn điều kiện thuận lợi khi mình có mặt ở Paris, do đó anh quyết định trở lại nước Pháp.

    Thời kỳ này cụ Phan Chu Trinh đang ở Pháp cũng rơi vào hoàn cảnh khó khăn chung. Cụ phải làm nghề ảnh để có thu nhập sinh sống. Thời kỳ mới đến Paris, nhờ sự quen biết trước nên cụ Phan đã giúp anh Thành làm nghề thợ ảnh. Để giảm bớt khó khăn chung, cụ Phan cùng đến ở nhà của Phan Văn Trường tại số 6 Vila đờ Gôbơlanh, quận 13 Paris. Dần dần ngôi nhà này trở thành nơi hội tụ của người Việt Nam ở Paris. Thủ đô Paris là trung tâm chính trị xã hội không những của châu Âu mà còn của cả thế giới. Các đảng phái đại diện quyền lợi chính trị, kinh tế của giai cấp mình đua nhau thi thố làm cho không khí xã hội Paris càng thêm sôi động.

    Qua một thời gian theo dõi diễn biến chính trị xã hội ở Pháp và tích cực liên hệ với những người Pháp, người Việt có tư tưởng tiến bộ, đặc biệt anh nhận thấy trong nhiều đảng phái chính trị thì Đảng Xã hội Pháp là Đảng tiến bộ – giương cao ngọn cờ của cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp – Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Do đó, Nguyễn Tất Thành tự nguyện tham gia Đảng Xã hội Pháp vào đầu năm 1919.

    Chiến tranh thế giới kết thúc. Nhiều tổ chức chính trị tiến bộ gửi yêu sách, nguyện vọng đến Hội nghị. Những người Việt Nam ở Pháp có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành đã thảo luận thống nhất Bản yêu sách tám điểm của những người yêu nước An Nam, ký tên Nguyễn Ái Quốc và từ đó tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Nhờ nhạy cảm về chính trị và được sự chuẩn bị chu đáo, bản yêu sách đã được công bố công khai trên báo chí trước ngày khai mạc Hội nghị Vecxay. Do đó, nó nghiễm nhiên được đặt trước các nguyên thủ quốc gia tham gia Hội nghị và nhất là công luận đã lên tiếng thì nhân dân Pháp và các lực lượng tiến bộ sẽ ủng hộ. Nội dung yêu sách nói lên nguyện vọng của các dân tộc nhược tiểu, hy vọng những lời cam kết chính thức và quan trọng của các cường quốc về chế độ nhân đạo, công lý sẽ được thực hiện, những yêu sách này là những nguyện vọng chính đáng và nhu cầu tối thiểu cần được hưởng của một dân tộc, của một con người bình thường được sống trong thời đại.

    Một sự kiện chính trị lớn khác trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn ái Quốc, đó là ngày 16 và 17-7-1920, trên Báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp đăng bài “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I Lênin đã gây xúc động lớn đến Nguyễn ái Quốc. Sau này Người nhớ lại: “Trong luận cương ấy có những chữ chính trị khó hiểu, nhưng cứ đọc đi, đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đả “Hỡi đồng bào bị đày đọa đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta”. Từ đó tôi hoàn toàn theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.

    Nhờ những hoạt động tích cực đó mà Đảng Cộng sản Pháp mới có những động thái như thông qua “Lời kêu gọi những người bản xứ thuộc địa” do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, vạch trần những chế độ hà khắc của chủ nghĩa thực dân đối với những người bản xứ, phải chịu hai tầng áp bức – một là người lao động, hai là người bản xứ – kêu gọi đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung. Trong cuộc đấu tranh của những người lao động bản xứ có sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp… Lời kêu gọi được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Việt, in truyền đơn, bí mật gửi về Việt Nam, thức tỉnh phong trào cách mạng trong nước.

     

    Nguyễn Ái Quốc (người ngồi hàng đầu bên trái) với một số đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V (7/1924).

     Cũng trong những ngày trên đất Pháp, Người còn sáng lập ra “Hội Liên hiệp thuộc địa”, nhằm tạo hợp lực lượng, đoàn kết các dân tộc thuộc địa với giai cấp công nhân chính quốc để đấu tranh chống kẻ thù chung. Đây là mặt trận liên minh các lực lượng dân tộc bị áp bức, lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp do một lãnh tụ thuộc địa, đó là Nguyễn ái Quốc đứng ra tổ chức. ảnh hưởng của anh càng lớn lao trên diễn đàn quốc tế bao nhiêu thì mật thám càng ráo riết theo dõi hoạt động cách mạng của anh bấy nhiêu.

    “Hội Liên hiệp thuộc địa” được chính thức thành lập ngày 26/6/1921 tại Paris. Hội xây dựng chương trình, điều lệ và cử ra Ban Chấp hành của Hội. Hội ra bản tuyên ngôn do Nguyễn ái Quốc soạn thảo. Đặc biệt Hội đã cho ra tờ báo Người cùng khổ (Le Paria). Nguyễn ái Quốc vừa là chủ nhiệm kiêm chủ bút, viết bài, sau này cả phát hành báo.

    Ngày 1/4/1922, báo ra số đầu tiên. Trang đầu đăng lời kêu gọi giống như một tuyên ngôn của báo. Tài chính của báo do sự ủng hộ nhiệt tình của các đồng chí Pháp cũng như trụ sở báo, phương tiện… Nhà văn nổi tiếng Pháp H. Bácbuýt nhận đỡ đầu cho báo, các đồng chí M.Casanh, G.Lêuy… tham gia viết bài cho báo. Từ lúc ra đời cho đến lúc dừng hoạt động (4/1926), toàn bộ báo ra được 38 số là một sự cố gắng lớn, trong đó vai trò của Nguyễn Ái Quốc rất quan trọng.

    Ngoài việc lo hoạt động của báo, Người còn viết nhiều bài trên các lĩnh vực: xã luận, bình luận, truyện ký, tiểu phẩm, tranh vẽ, đưa tin, dịch thuật… là một cây viết chính, là linh hồn tồn tại và phát triển của báo. Những bài viết của Nguyễn Ái Quốc tập trung tố cáo chế độ bóc lột của thực dân trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Vạch trần những thủ đoạn, mánh khoé bóc lột tư bản như đặt ra nhiều thứ thuế phi lý, sinh ra các tệ nạn xã hội như thuốc phiện, rượu, bắt lính, chiếm đoạt ruộng đất… Người kêu gọi, muốn xoá những chế độ bất công đó không có gì khác hơn là đoàn kết các dân tộc, đứng lên đấu tranh giai cấp. Hoà cùng tiếng nói với Báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, Báo Người cùng khổ đã tạo thành một mặt trận thống nhất chung của nhân dân thuộc địa với giai cấp vô sản và nhân dân lao động Pháp chống chủ nghĩa tư bản.

    Như vậy là từ một người yêu nước nhiệt tình cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước và dấn thân vào cuộc đấu tranh để thực hiện thắng lợi con đường đó. Sáu năm hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc từ người đi tìm đường trở thành người dẫn đường. Là đảng viên Cộng sản, trở thành người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, sau này sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930. Năm 1941, sau vừa đúng 30 năm xa Tổ quốc, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua bao thác ghềnh và giành được độc lập vào mùa thu năm 1945

    Xuân Ngọc – CAND Xuân 2011
    cand.com.vn

  • Ngày Môi trường thế giới 2012: “Gieo mầm” Kinh tế Xanh

    (VOV) – Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển nền Kinh tế Xanh mà không phải quốc gia nào cũng có được.

    Năm 2012, Liên Hợp Quốc lấy chủ đề cho Ngày Môi trường Thế giới là “Kinh tế Xanh: Có vai trò của bạn”. Việc chọn chủ đề này nhằm phản ánh nhận thức sâu rộng đối với Kinh tế Xanh như là bước đi tiếp theo hướng tới thế kỷ XXI bền vững.

    Quan trọng hơn, khi mà các quốc gia trên thế giới đang vực dậy sau khủng hoảng kinh tế, chủ đề này nhấn mạnh sự cần thiết rằng, nền Kinh tế Xanh không chỉ mang ý nghĩa bao quát mà còn mang lại những kết quả tích cực cho sự phát triển kinh tế, công bằng xã hội và sự tiến bộ trong quản lý môi trường.

    Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), Kinh tế Xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống, tạo việc làm và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái. Trong nền Kinh tế Xanh, sự tăng trưởng kinh tế phải gắn với giảm phát thải carbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái.

    Thực tế, kể từ khi thuật ngữ “Kinh tế Xanh” được công nhận năm 2008 thì chỉ 1 năm sau, theo tính toán của UNEP, cộng đồng EU và Mỹ đã tạo ra 2 – 3,5 triệu việc làm khi xây dựng các tòa nhà xanh, Trung Quốc tạo nên 10 triệu việc làm trong lĩnh vực tái chế và năng lượng tái tạo với doanh thu 17 tỷ USD/năm. Và Brazil – quốc gia Nam Mỹ đi đầu trong việc xây dựng một nền Kinh tế Xanh có ngành công nghiệp tái chế với nguồn thu 2 tỷ USD/năm, đồng thời giảm 10 triệu tấn khí nhà kính thải ra môi trường.

    Đấy là tại những nước và khu vực phát triển, còn ở nhóm nước đang phát triển, theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Kinh tế Xanh như xây dựng, năng lượng, vận tải có thể lên tới 563 tỷ USD vào năm 2030 cùng với 100 tỷ USD để thích nghi với biến đổi khí hậu.

    Những thống kê này cho thấy, “gieo mầm” Kinh tế Xanh, tạo nên tăng trưởng xanh là chiến lược cho phát triển bền vững ở tương lai.

    Bên cạnh đó, thực tiễn tại các nước cũng cho thấy rằng, việc thúc đẩy tăng trưởng xanh hay quá trình chuyển đổi sang nền Kinh tế Xanh tạo ra tiềm năng lớn để đạt được phát triển bền vững và giảm nghèo đói với tốc độ chưa từng thấy. Riêng đối với các nước đang phát triển, tăng trưởng xanh còn tạo đà cho một bước nhảy vọt để phát triển kinh tế mà không theo con đường phát triển kinh tế “Ô nhiễm trước, xử lý sau”.

    So với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam hội tụ nhiều lợi thế để phát triển Kinh tế Xanh. Việt Nam có vị trí địa lý nằm trung tâm châu Á, một châu lục được đánh giá là đang và sẽ phát triển năng động nhất thế giới. Chúng ta được thiên nhiên ưu đãi, nền nông nghiệp phát triển với nhiều sản phẩm đứng trong Top 5 thế giới. Việt Nam có nền chính trị ổn định, xã hội thân thiện, thuần nhất và người dân ôn hòa. Đây là những lợi thế mà không phải quốc gia nào cũng có được.

    Tuy nhiên, để hướng tới sự phát triển này, Việt Nam phải khắc phục những hạn chế về trình độ phát triển, công nghệ sản xuất, trình độ phát triển khoa học cũng như thể chế pháp luật… Bên cạnh đó, nhận thức và năng lực của toàn hệ thống (con người, cơ sở hạ tầng, tài chính và thể chế) cũng cần thay đổi nhằm xóa bỏ thói quen cũ trong sản xuất và quản lý.

    Theo các chuyên gia, đứng trước thời cơ mới, Việt Nam cần phát huy các lợi thế so sánh, khắc phục các yếu kém để phát triển đất nước. Phương thức tăng trưởng xanh là con đường tốt nhất để giúp Việt Nam thu hẹp khoảng cách phát triển trong thời gian tương đối ngắn, nhờ sử dụng hiệu quả nội lực và toàn cầu hóa.

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: Mục tiêu hướng tới chất lượng tăng trưởng của Việt Nam sẽ tập trung phát triển những ngành có lợi thế cạnh tranh, có sử dụng công nghệ cao để từng bước nâng cao sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.

    Điều này thể hiện trong Dự thảo chiến lược Tăng trưởng xanh giai đoạn 2011 – 2020 tầm nhìn đến năm 2050 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư soản thảo. Chiến lược nêu rõ “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực tiễn tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ vài cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”.

    Như vậy, tăng trưởng xanh là phù hợp với chiến lược dài hạn của Việt Nam và định hướng phát triển bền vững nói chung, phù hợp với những lợi thế so sánh mà Việt Nam cần phát huy trong thế giới toàn cầu hóa./.

    Việt Đức/VOV online

  • Hướng tới kỷ niệm 67 năm Ngày truyền thống Ngành Thuỷ lợi Việt Nam: Thuỷ lợi – Nhịp cầu của khát vọng và vinh quang

    ( Phỏng vấn GS.TS Trương Đình Dụ, chủ trì nhóm tác giả của Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam vừa đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh cho công trình mang tên: “ Cụm công trình ngăn sông bằng Đập Trụ đỡ và Đập Xà lan di động ”)

     

     

                                                                                   GS Trương Đình Dụ (trái) và PV

    PV: Thưa GS. TS Trương Đình Dụ! Được biết ông là một trong 8 tác giả của Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam vừa được Nhà nước trao tặng phần thưởng cao quý: Giải thưởng Hồ chí Minh cho cụm công trình ngăn sông bằng đập Trụ đỡ và Đập Xà lan di động. Đây, có thể nói là món quà đầy ý nghĩa, vô cùng quý giá không chỉ  đối  với ông và cộng sự mà còn đối  với cả ngànhThuỷ lợi Việt Nam! Vậy ông có cảm nghĩ gì?

    GS.TS Trương Đình Dụ:

    Trước hết xin chân thành cảm ơn báo Tài nguyên nước đã quan tâm và giành thời gian phỏng vấn để tuyên truyền Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và công nghệ mà chúng tôi vừa đạt được.

                Tôi rất cảm động, vinh dự và tự hào khi tôi và các cộng sự được giải thưởng mang tên Bác, Giải thưởng Hồ Chí Minh về KHCN là phần thưởng  cao nhất của nước ta về sáng tạo khoa học công nghệ.Tôi rất vui mừng vì  mấy điều sau đây: Một là, khi làm hồ sơ đăng ký xét giải thưởng  mới thấy rõ giải thưởng Hồ Chí Minh là đỉnh cao nhất về KHCN và hết sức cao quý, đạt được là rất khó, vì với những tiêu chuẩn rất đặc biệt: Sáng tạo khoa học phải đặc biệt xuất sắc, đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội phải đặc biệt quan trọng và có tầm quốc tế về khoa học công nghệ. Hai là, tôi đã phần nào đền đáp được công ơn cách mạng đã đưa lại cho tôi, vì tôi là người xuất thân từ nông dân nghèo, nhờ có cách mạng mới được đến trường để biết chữ rồi được học lên trung học, đại học  và sau đó được cử  đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô cũ, làm luận án phó tiến sỹ,và sau đó tôi đã làm nghiên cứu khoa học suốt cả cuộc đời ở viện Khoa học Thủy lợi. Lúc ấy tôi chỉ có ý nghĩ là phải nghiên cứu được cái gì để áp dụng có hiệu quả cho sản xuất. Mà bây giờ rất sung sướng đã vượt được ước mơ đó.  Ba là, đã thành công trong chọn hướng nghiên cứu: Bám sản xuất trước mắt và phục vụ sản xuất lâu dài. Nhờ suy nghĩ như vậy, nên sau ngày giải phóng Miền Nam tôi tập trung nghiên cứu cửa van tự động cống vùng triều là vấn đề cấp bách lúc đó và đã tìm ra cửa van cánh cửa tự động thủy lực hoàn toàn mới ở nước ta cũng như trên thế giới, được ứng dụng rộng rãi ở đồng bằng sông Cửu Long và năm 2000 tôi và anh Trần Tuấn Bửu đã được tặng giải thưởng nhà nước về KHNN loại cửa van đó.Tiếp đến tôi chọn hướng phục vụ sản xuất lâu dài là công nghệ xây dựng cống ngăn sông  vùng ven biển.  Bốn là, tôi vui mừng vì đã kiên trì chịu khó đi sâu, không nản chí khi gặp  nhiều trở ngại trong nghiên cứu đề tài để có kết quả đặc biệt xuất sắc về lý thuyết và vượt nhiều khó khăn trong ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất để có đóng góp đặc biệt quan trọng về kinh tế xã hội. Năm là, tôi vui mừng là đã tạo ra một trường phái khoa học công nghệ về xây dựng công trình ngăn sông kiểu mới đập trụ đỡ và đập xà lan, gồm nhiều cán bộ tâm huyết trong một trung tâm 70 người thuộc Viện Thủy công để nghiên cứu, thiết kế, phổ biến chuyển giao và thi công ứng dụng vào sản xuất.  

    PV: Ngành Thuỷ lợi có rất nhiều lĩnh vực hoạt động, nhiều vấn đề cần quan tâm. Vậy tại sao ông lại chọn công trình này để nghiên cứu?

    GS.TS Trương Đình Dụ:

    Đúng, ngành thủy lợi có nhiều lĩnh vực và nhiều vấn đề cần quan tâm, nhưng tôi chọn công trình ngăn sông  vùng ven biển để nghiên cứu là vì những lý do như sau: Thứ nhất là từ những năm 80 thế kỷ trước sau khi đi sâu vào đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tôi thấy đây là nơi quan trọng của đất nước, nơi cần  công tác thủy lợi nhất và thủy lợi phải tập trung nghiên cứu nhiều vấn đề. Nhưng  ba vấn đề quan trọng nhất là  kênh dẫn nước, cống ngăn triều giữ ngọt và cải tạo đất. Nghiên cứu thiết kế kênh tuy cũng phức tạp về tính toán quy hoạch, đào kênh vùng đất yếu, nhưng không phức tạp bằng xây dựng cống. Và thực tế việc xây dựng  các cống ở ĐBSCL gặp nhiều khó khăn. Quả vậy việc xây dựng  cống đòi hỏi kiến thức tổng hợp: nghiên cứu tính thủy văn thủy lực, tính nền móng, tính thiết bị đóng mở và tinh toán kết cấu công trình. Còn vấn đề cải tạo đất cũng quan trọng, nhưng là hệ quả của hai vấn đề trên.  Lúc đó chỉ có các công ty tư vấn thiết kế cống theo quy trình quy phạm và theo sách đã dạy. Có thể nói nhiều kết cấu cống trên nền đất yếu bất hợp lý nhưng không ai có thể cải tiến vì chưa có kết quả nghiên cứu.  Đang trăn trở, băn khoăn với những bất hợp lý của kết cấu truyền thống cho những cống nhỏ và vừa thì điều trăn trở nữa lại đến.

     Điều thứ hai, bắt đầu từ năm 1990, trong quá trình tìm hiểu về chương trình cân bằng nguồn nước Quốc gia, tôi biết được rằng các đồng bằng ven biển, nhất là ĐBSCL sẽ thiếu nguồn nước nghiêm trọng do các nước thượng nguồn phát triển kinh tế sẽ dùng hết nguồn nước tự nhiên, ví dụ như Thái lan khai thác 4 triệu ha đất vùng đông bắc, Căm Pu Chia sử dụng nước biển Hồ. v.v và thiếu nước do thảm thực vật bị suy thoái. Từ suy nghĩ này tôi đã có ý tưởng là ở đồng bằng ven biển phải tạo các “hồ chứa” bằng cách ngăn các cửa sông lớn để tr ữ nước ngọt và chống xâm nhập mặn thì ta mới đủ nước để phát triển sản xuất. Nhưng muốn xây dựng các cống ngăn các sông lớn thì công nghệ cống truyền thống không đáp ứng được, nên phải nghiên cứu công  nghệ mới… Vài năm gần đây các thông tin về biến đổi khí hậu và nước biển dâng thì công nghệ mới về ngăn sông vùng ven biển lại càng có ý nghĩa lớn trong sự nghiệp thủy lợi phục vụ phát triển kinh tế – xã hội trong tình hình mới phức tạp.     

    PV: Tôi được biết, giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ là giải thưởng cao quý được trao tặng 5 năm một lần. “Cụm công trình ngăn sông bằng Đập Trụ đỡ và Đập xà lan di động” rõ ràng là công trình KHCN đặc biệt xuất sắc. Đặc biệt, đối với ngành Thuỷ lợi Việt Nam, đây là công trình đầu tiên, những nhà khoa học đầu tiên được Đảng và Nhà nước công nhận, tôn vinh đối với một giải thưởng có giá trị cao, mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội thiết thực.Vậy xin ông cho biết nội dung cơ bản, ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của công trình?

    GS.TS Trương Đình Dụ:

    Để dễ thấy rõ tính mới đặc biệt của công trình, trước hết tôi xin nêu vài nét về công nghệ cống truyền thống: Cống truyền thống làm việc theo ba nguyên lý:

     Ổn định chống trượt theo nguyên lý ma sát, tức là trọng lượng cống nhân với hệ số ma sát của nền sinh ra lực chống trượt, nên thường gọi là nguyên lý trọng lực, nghĩa là càng nặng thì càng dễ ổn định. Ổn định chống thấm theo nguyên lý đường viền ngang dưới đáy cống, tức là chống thấm nhờ sự kín khít giữa đáy và nền. _ Chống xói nhờ bản đáy, sân tiêu năng và sân phủ nối tiếp thượng hạ lưu. Để thực hiện ba nguyên lý này, kết cấu cống phải có bản đáy, sân tiêu năng và sân phủ. Trên bản bản đáy xây các trụ pin và giữa các trụ pin lắp đặt các cửa van. Kiểu cống này đã có hàng ngàn năm nay, phổ biến khắp trên thế giới bằng các giáo trình và quy trình quy phạm. Cống truyền thống có ưu điểm là: Bản đáy kết hợp được luôn ba việc: chống trượt, chống thấm và chống xói trong cống; kết cấu vững chắc; dễ kiểm tra trong thi công. Nhưng nhược điểm cơ bản của cống truyền thống là tất cả kết cấu cống phải thi công trong hố móng khô và rộng. Đối với cống nhỏ thì ít gặp khó khăn, nhưng đối cống trên sông lớn sâu và rộng thì việc làm khô hố móng rất phức tạp thường có hai cách: Thứ nhất là làm cống trên bãi bờ lồi ở đoạn sông cong, rồi đắp đập ngăn sông và đào kênh nối sông với cống, cách này tốn nhiêu đất xây dựng, tổn hại đến cảnh quan môi trường tự nhiên và giá thành cao; cách thứ hai là làm đê quai vây từng phân đoạn ở lòng sông để thi công móng. Cách này gặp nhiều khó khăn trong thi công khung vây rộng, thường  không có tính khả thi, vả lại giá thành rất cao.

     Nội dung cơ bản của cụm công trình này là tìm ra kiểu cống mới có nguyên lý làm việc phù hợp với công nghệ xây dựng cống dưới lòng sông, để  không phải làm hố móng rộng như cống truyền thống. Từ năm 1992 –1995 trong đề tài KC-12-10a tôi đã tìm ra nguyên lý đập trụ đỡ và đập xà lan.

    Đập trụ đỡ có ba nguyên lý làm việc như sau: – Chống trượt theo nguyên lý ngàm, từng trụ riêng biệt được ngàm vào nền bằng hệ cọc, nhờ vậy có thể thi công từng trụ trong khung vây hẹp giữa sông.( Thực chất khi xây dựng cống truyền thống ở vùng đất yếu đã phải làm hệ cọc dưới bản đáy là cũng một phần đã theo nguyên lý ngàm). – Chống thấm theo nguyên lý đường viền đứng bằng tường cừ cắm vào nền, cũng là kết cấu dễ thi công ngay  trong dòng chảy; – Chống xói theo nguyên lý mở rộng cống để có lưu tốc qua cống nhỏ hơn lưu tốc cho phép của đất nền, nên chỉ cần gia cố bằng thảm đá là vật liệu dễ thi công trong dòng chảy. Như vậy, nguyên lý làm việc của đập trụ đỡ khác hoàn toàn cống truyền thống. Ba nguyên lý cơ bản này làm cho việc thi công những kết cấu chính của đập trụ đỡ ( trụ chịu lực, tường chống thấm và thảm đá chống xói) được tiến hành giữa dòng sộng một cách dễ dàng. Nói cách khác, ba nguyên lý này tạo công nghệ thi công đập trụ đỡ giữa dòng sông.

    Đập xà lan làm việc theo các nguyên lý cơ bản sau: – Sử dụng hai nguyên lý của cống truyền thống là Nguyên lý chống trượt  nhờ lực ma sát của đáy cống và nền,  cộng thêm gờ tựa của thảm đá chống xói thượng hạ lưu và nguyên lý chống thấm theo đường viền ngang; đồng thời sử dụng ba nguyên lý mới là: + Nguyên lý nổi Acsimet, đập có thể nổi chìm để chế tạo trong hố đúc, rồi di dời và hạ chìm vào hố móng đã chuẩn bị sẵn. + Nguyên lý chống lún bằng cách giảm ứng suất của đập lên nền nhỏ hơn sức chiụ của nền và phân bố đều để đặt cống trên nền yếu không xử lý hoặc xử lý nhẹ mà không bị lún. + Nguyên lý chống xói tương tự như đập trụ đỡ là mở rộng cống để có lưu tốc qua cống nhỏ hơn lưu tốc gây xói của đất nền, nên chỉ cần thả thảm đá trước và sau cống…

    Năm nguyên lý trên cho ta thiết kế và thi công các kết cấu chính như trụ pin, bản đáy, trụ pin, cửa van, .v.v  của một hoặc nhiều cống trong hố đúc sẵn rồi làm nổi, lai dắt đến vị trí xây dựng công trình đã chuẩn bị sẵn để đánh đắm trong hố móng dưới sông đã chuẩn bị sẵn, sau đó thả thảm đá chống xói thượng hạ lưu và thi công các hạng mục phụ kèm theo ta được công trình làm nhiệm vụ ngăn triều, giữ ngọt và tháo lũ và gọi loại cống này là đập xà lan.

    Ý nghĩa khoa học thứ nhất của cụm công trình là tìm những nguyên lý mới về chống trượt, chống thấm và chống xói để tạo ra kiểu cống mới đập trụ đỡ được thi công trong dòng chảy bằng công nghệ mới đạt hiệu quả cao về mọi măt thay cho công nghệ thi công cống truyền thống trong hố móng khô có nhiều tồn tại. Còn ý nghĩa khoa học thứ hai của cụm công trình là tìm ra ba nguyên lý mới về tính nổi, ứng suất nhỏ và chống xói cùng với sử dụng hai nguyên lý chống trượt và chống thấm của cống truyền thống để có  kiểu cống mới đập xà lan, được thi công theo công nghệ mới trong dòng chảy đạt hiệu quả rất cao về mọi mặt so với cống truyền thống. Như vậy, ý nghĩa khoa học xuất sắc của  cụm công trình là đã tìm ra những nguyên lý mới cơ bản và những  công nghệ thi công mới để tạo ra những kiểu cống mới có nhiều ưu điểm nổi bật mà cống truyền thống không thể có được.

     

    Về giá trị thực tiễn của cụm công trình, thứ nhất đáp ứng được yêu cầu bức bách của sản xuất: Đập trụ đỡ đã, đang và sẽ đáp ứng một yêu cầu bức bách về xây dựng các công trình ngăn sông lớn vùng ven biển mà công nghệ cống truyền thống không đáp ứng được. Đập xà lan đã, đang và sẽ đáp ứng một yêu cầu bức bách mà các kiểu cống khác không thể thực hiện được là có thể di dời cống đến một vị trí mới do cơ cấu sản xuât thay đổi và có thể xây dựng cống ở giữa vùng dân cư dày đặc.

    Thứ hai đạt hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao, góp phần quan trọng trong  phát triển kinh tế xã hội ở những điểm sau:

    +Một là đảm bảo cảnh quan môi trường sinh thái tự nhiên của dòng sông trong quản lý khai thác cũng như trong khi xây dựng công trình.

    + Hai là khối lượng công trình giảm nhiều nên tiết kiệm được vậy liệu xây dựng

    + Ba là thời gian thi công được rút ngắn khoảng 30% so với cống truyền thống.

    + Bốn là giảm khoảng 80% khối lượng đền bù giải phóng mặt bằng so với phương án cống đặt trên bờ.

    + Năm là vốn đầu tư có thể giảm được 25 đến 40% so với phương án truyến thống.

                Ví dụ cống Mương Chuối trong dự án chống ngập khu vực tp Hồ Chí Minh nếu làm kiểu đập trụ đỡ dưới sông giảm được 700 tỷ đồng so với phương án truyền thống đặt trên bờ.

    Riêng đập xà lan còn có ưu điểm nổi bật là khi ở vị trí cũ không cần cống nữa do thay đổi cơ cấu sản xuất thì có thể di dời cống đến vị trí xây dựng mới. Điều mà không kiểu cống nào thưc hiện được.

                 PV:  Là đồng nghiệp, cũng là người làm công tác quản lý, gắn bó nhiều năm trong ngành, tôi hiểu những khó khăn, rào cản về pháp lý cũng như trong cuộc sống thường nhật, trong quá trình nghiên cứu, thực hiện công trình này. Giáo sư có thể chia sẻ với bạn đọc Tài nguyên nước?

                GS.TS Trương Đình Dụ:

     Đúng! Anh là đồng nghiệp trong ngành thủy lợi làm công tác quản lý xây dựng cơ bản trong nhiều năm nên anh đã hiểu khó khăn của quá trình nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất.Tôi chỉ xin chia sẻ thêm vài điểm cụ thể để minh họa cho câu hỏi. Thứ nhất, kinh phí đề tài khoa học thời kỳ thập niên 80,90 của thế kỷ trước là rất ít, không đủ trang trải cho nhóm nghiên cứu. Đề tài KC-12-10a do tôi làm chủ nhiệm và 6 cộng sự trong ba năm chỉ được 60 triệu. Trong khi đó cán bộ làm hợp đồng kinh tế thu nhập rất khá, nên những kỹ sư trẻ mới ra trường tuy còn nghèo nhưng có tâm huyết mới kiên trì theo đề tài. Lúc đó tôi phải chia sẻ với các cộng sự từng đồng và động viện họ nhìn vào tương lai để vượt khó khăn trước mắt, khi kết quả chưa được ứng dụng. Nhưng thực ra khi được ứng dụng thử nghiệm ở cống Sông Cui (Long An), rồi đến thiết kế cống Hiền Lương (Quảng Ngãi), kể cả cho đến khi được thiết kế đập Thảo Long, tuy đời sống của nhóm nghiên cứu có được nâng lên nhưng v ẫn thấp hơn mặt bằng xung quanh Viện, vì thiết kế phí của những công trình này đã giảm đi gần một nửa do chi phí xây lắp giảm và lại phải đầu tư kinh phí chuyển giao. Giảm thu nhập chỉ là phần nhỏ, những thiệt thòi về việc riêng do tập trung cho nghiên cứu của từng cá thể mới là đáng kể. Điều tôi buồn nhất hiện nay là bạn bè, người thân cứ tưởng tôi giàu lắm vì thấy làm nhiều công trình nhưng thực tế thu nhập của tôi rất bình thường, vì làm nhiều nhưng ứng dụng để thu kinh phí được ít và chủ yếu dành cho phát triển. Điều này những cộng sự gần gũi của tôi hiểu rất rõ.    

                Thứ hai, tính mới của đập trụ đỡ và đập xà lan làm cho nhiều người không tin vào kết quả đề tài được ứng dụng vì chúng có nguyên lý làm việc hoàn toàn khác với cống truyền thống có trong sách giáo khoa và quy trình quy phạm đang tồn tại ở nước ta và trên thế giới. Đây cũng là một trở ngại rất lớn.

     Thứ ba là rào cản pháp lý: Trong luật quản lý nhà nước về xây dựng công trình không có điều nào bắt buộc phải áp dụng tiến bộ kỹ thuật, mà chỉ bắt buộc phải theo đúng quy trình quy phạm đã có. Vì vậy, nếu người lãnh đạo ngành tuân thủ luật nước không cho ứng dụng kết quả nghiên cứu vào xây dựng công trình cũng không sai, không trách họ được. Rào cản pháp lý là trở ngại nhất cho ứng dụng kết quả nghiên cứu. Nhưng đập trụ đỡ vượt rào cản đó ở đập Thảo Long ( Thừa Thiên Huế) là nhờ lúc đó Bộ cho nhiều đơn vị tham gia thiết kế các phương án để so chọn, trong đó có phương án của công ty Xaphe (Pháp). Bộ đã lập tổ chuyên gia để chấm điểm. Phương án đập trụ đỡ đã được chọn vì nó có nhiều ưu điểm vượt trội mà các phương án theo công nghệ truyền thống của các đơn vị khác không thể so được. Việc tháo gỡ rào cản pháp lý này trước hết là ở người phụ trách kỹ thuật của Bộ có dám thực hiện không. May mắn cho công nghệ đập trụ đỡ là lúc đó GSTSKH Phạm Hồng Giang làm Thứ trưởng, đã chủ trương cho ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong xây dựng công trình để nâng cao hiệu quả đầu tư. Từ chủ trương đó anh Phạm Hồng Giang đã cho thử nghiệm đầy đủ ở cống sông Cui (Long An) năm 1998 để rút kinh nghiệm cho công trình Thảo Long.

    Số phận của đập xà lan cũng vậy, nghiên cứu từ 1995, mời chào ứng dụng nhiều nơi chưa được, nhưng khi vào tỉnh Bạc Liêu báo cáo, Anh Nguyễn Trường Giang lúc đó là phó chủ tịch tỉnh kết luận:” Đây rồi, đập kiểu này là cứu cánh của chúng tôi, vì hiện nay chúng tôi có kinh phí nhưng không dám xây cống, vì xây xong vài ba năm lại đập phá tốn kém, lảng phí”, và ngay sau đó Anh Nguyến Trường Giang đã phê duyệt xây dựng hai cống đập xà lan là Phước Long và Thông Lưu. Ở đây, tôi muốn nói rằng dù kết quả nghiên cứu có tốt đi mấy nữa nhưng nếu  người lãnh đạo sợ phạm luật, sợ trách nhiệm, không dám phê duyệt thì không thể ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất.

    Thứ tư là rào cản kinh tế của việc ứng dụng: Khi ứng dụng kết quả nghiên cứu đập trụ đỡ, đập xà lan vào thiết kế công trình thì tổng mức đầu tư giảm khoảng 30 -40%, đưa lại hiệu quả lớn cho đất nước, nhưng điều trớ trêu lại xẩy ra là thu nhập của người thiết kế, người thi công và người quản lý xây dựng công trình lại giảm đi tương ứng. Do vậy trừ người nghiên cứu ra, người thi công và quản lý xây dựng thường không nhiệt tình ứng dụng kết quả nghiên cứu vì vừa tăng thêm khó khăn trong công việc lại bị giảm thu nhập…

    Có những rào cản lớn như vậy, nên đập trụ đỡ và đập xà lan chỉ được ứng dụng vào những công trình có điều kiện: + Hoặc chủ đầu tư không đủ kinh phí để xây dựng công trình theo kiểu truyền thống, ví dụ cống Hiền Lương (Quảng Ngãi) nên đồng ý xây dựng cống theo kiểu đập trụ đỡ; hoặc xây dựng cống theo kiểu truyền thống quá tốn kém vì quá nhiều khó khăn, ví dụ cống Thảo Long (Thừa Thiên Huế) và nhiều cống lớn đang thiết kế ở dự án chống ngập úng khu vực tp Hồ Chí Minh; hoặc những nơi không thể ứng dụng cống truyền thống mà phải ứng dụng đập xà lan để có thể di dời, như các cống ở vùng phân ranh mặn ngọt; hoặc những nơi không giải phóng được mặt bằng để xây dựng cống truyền thống; hoặc những nơi nếu xây dựng cống truyền thống thì không kịp tiến độ để thanh toán như 7 cống thuộc dự án Ômôn –Xà no. Ở đây phải cảm ơn anh Phạm Hùng Cường, phụ trách WB đã mạnh dạn cho ứng dụng công nghệ mới đập xà lan vào dự án vốn nước ngoài… Những rào cản trên đây trực tiếp gây cản trở cho việc ứng dụng kết quả nghiên cứu  vào sản xuất. Nghĩa là những nơi có nhiều vốn và thi công được theo công nghệ truyền thống thì họ không mặn mà ứng dụng công nghệ đập trụ đỡ và đập xà lan.       

    PV: Nhân giải thưởng cao quý mà ông và các công sự vừa được Đảng và Nhà nước tôn vinh, tôi nghĩ rằng: Thuỷ lợi luôn là nhịp cầu mang khát vọngchân chính của các nhà khoa học đến vinh quang. Lẽ đương nhiên, để có được “vòng nguyệt quế”lung linh này, ông và các nhà khoa học trẻ trong nhóm tác giả đã dồn hết tâm huyết, trí tuệ và sức lực của mình trong nhiều năm qua. Nói sâu hơn và tổng quát hơn, nếu có thể đúc kết lại sự thành công qua giải thưởng cao quý này, ông có thể rút ra những  bài học gì?

    GS.TS Trương Đình Dụ:

    Khi làm đề tài này tôi và các cộng sự chỉ biết dồn hết tâm huyết, năng lực của mình, kiên trì, vượt mọi khó khăn trong hơn 20 năm với kỳ vọng sẽ đưa được kết quả nghiên cứu vào sản xuất có hiệu quả. Lúc đó, năm 1992 chúng tôi chưa nghĩ rằng sau này sẽ được giải thưởng Hồ Chí Minh. Nhưng bây giờ khi làm hồ sơ xét giải thưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực khoa học công nghệ ứng dụng, tôi biết được rằng giải thưởng Hồ Chí Minh là đỉnh cao nhất của khoa học công nghệ, phải đạt được tiêu chuẩn đặc biệt xuất sắc về khoa học công nghệ và có đóng góp đặc biệt quan trọng cho nền kinh  tế quốc dân. Quá trình phấn đấu trong chặng đường làm khoa học vừa qua cho tôi rút ra những bài học sau:

    -Thứ nhất, phải có định hướng khoa học có tầm chiến lược, để giải quyết những vấn đề cơ bản có ảnh hưởng rõ ràng tới cả vùng rộng lớn của Quốc gia, hoặc giải quyết những vấn đề khoa học về công trình có tính tổng hợp, phục vụ cho cả vùng rộng lớn và dẫn đến thay đổi công nghệ xây dựng, mang lại hiệu quả lớn cho kinh tế xã hội thì kết quả nghiên cứu mới có giá trị đặc biệt.

    -Thứ hai phải có ý chí phấn đấu, tâm huyết và kiên trì và phải hy sinh tất cả cho hướng đi đã chọn.

    -Thứ ba phải có lãnh đạo ngành dám chịu trách nhiệm ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học dù chưa có quy phạm được ban hành. Đây là điều kiện hết sức quan trọng về những kết quả nghiên cứu công trình công ích như thủy lợi. Lãnh đạo ngành là quản lý nhà nước thường chỉ muốn duyệt theo quy trình, quy phạm cho yên ổn. Họ không thích duyệt những công trình kiểu mới, có thể gây rủi ro. Họ không duyệt cũng không ai trách được họ, vì họ làm đúng luật.Vì vậy, nếu như chúng tôi không gặp Thứ  trưởng Phạm Hồng Giang thì chắc gì đập trụ đỡ đã kịp ra đời sớm. Nếu không có anh Nguyễn Trường Giang nguyên phó chủ tịch tỉnh Bạc Liêu mạnh dạn duyệt cho làm đập xà lan đầu tiên thì chắc gì hiện nay đã có đập xà lan ứng dụng rộng rãi.

    -Thứ tư phải có một đội ngũ cán bộ vừa khá chuyên môn, vừa tâm huyết, kiên trì và chịu đựng hy sinh sẵn sang đi theo hướng đã chọn. Người chủ trì phải gương mẫu, có tâm đối xử tốt với cộng sự, phải bao dung, đề cao dân chủ trong khoa học, phải nâng họ lên để họ yên tâm làm việc, theo hướng đã vạch. Ví dụ như trong giải thưởng Hồ Chí Minh tôi có thể ghi họ là cộng sự vì những nguyên lý là do tôi tìm ra và chỉ đạo ứng dụng, nhưng tôi ghi họ là đồng tác giả để anh em trẻ, thời gian làm việc còn dài, phấn khởi và có trách nhiệm tiếp tục phát triển tốt hơn nữa định hướng công trình ngăn sông mà đất nước đang rất cần trong điều kiện nước biển dâng và biến đổi khí hậu.

    PV: Tôi được biết, nhóm Tác giả được giải lần này, ngoài ông ra, còn lại là các tác giả trẻ, rất trẻ, gồm: PGS.TS Trần Đình Hoà, ThS Trần Văn Thái, ThS Thái Quốc Hiền, ThS Trần Minh Thái, TS V ũ Hồng Sơn, ThS Nguyễn Thế Nam và ThS Phan Đình Tuấn. Trong nhóm tác giả được giải, ông là người cao tuổi nhất, là”cây đa”, là “Trụ đỡ”cho công trình. Vậy ông muốn nói điều gì với các cộng sự  – các nhà khoa học trẻ đầy nhiệt  huyết và tài năng ấy?

    GS.TS Trương Đình Dụ:

    Là người đề ra hướng nghiên cứu, tìm ra những nguyên lý cho đập trụ đỡ và đập xà lan và chỉ đạo ứng dụng thực tế, tôi thấy cần tâm sự với các cộng sự mấy điều: Điều thứ nhất, mong các bạn phấn đấu để củng cố và phát triển lực lượng nghiên cứu và ứng dụng ở Trung tâm Công trình đồng bằng ven biển và Đê điều, nơi ra đời cụm công trình này, hiện có nhiều kỹ sư trẻ khá triển vọng, đang thiêt kế nhiều công trình ngăn sông lớn, và phấn đấu để xây dựng Trung tâm này trở thành một đơn vị lớn xứng với tầm phát triển công nghệ ngăn sông vùng ven biển nước ta trong tình hình biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Điều thứ hai, mong các bạn tiếp tục giữ ngọn lửa nhiệt tình với hướng công nghệ ngăn sông mới đã hình thành, vượt khó khăn trước mắt để nghiên cứu, sáng tạo nhằm phát triển công nghệ ngăn sông ở nước ta lên đỉnh cao mới nữa. Điều thứ ba, mong các bạn giữ phẩm chất cần thiết đầu tiên của người làm khoa học là khiêm tốn và trung thực, hãy tự xét mình vừa qua đã đóng góp được gì cho cụm công trình và sắp tới sẽ phấn đấu như thế nào để không ngừng, nâng cao uy tín của giải thưởng. Tôi nói như vậy vì tôi cho rằng được giải thưởng là đỉnh cao, nhưng không có nghĩa là dừng lại ở đó mà trách nhiệm của tôi và các bạn là phải tiếp tục hoàn thiện, nâng cao làm cho cụm  công trình này hấp dẫn hơn nữa, lung linh hơn nữa để xứng với giải thưởng mang tên Bác Hồ vĩ đại…  

    PV: Thế còn đối với các cơ quan quản lý, các nhà lãnh đạo của ngành Nông nghiệp &PTNT… và cả chúng tôi nữa, ông muốn gửi gắm điều gì?

    GS.TS Trương Đình Dụ:

    Nhân dịp này, tôi xin thay mặt nhóm tác giả bày tỏ lòng biết ơn lãnh đạo Bộ NN&PTNT, Bộ KHCN, các cơ quan quản lý của  hai Bộ và UBND tỉnh Bạc Liêu đã tạo điều kiện để Đập trụ đỡ và Đập xà lan được nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng rỗng rãi vào sản xuất có hiệu quả cao. Năm ngoái tôi đề nghị với Bộ trưởng Cao Đức Phát cho hội thảo để có thể đưa cống Mương Chuối từ trên bờ xuống sông sẽ  tiết kiệm ít nhất 700 tỷ đồng. Tôi rất cảm động khi nghe Bộ trưởng nói:” Tôi ngồi đây có trách nhiệm là làm gi có lợi cho đất nước, tôi sẽ cho hội thảo.” Và điều mừng là sau khi hội thảo Bộ đã cho điều chỉnh dự án cống Mương Chuối xuống dưới lòng sông. Qua câu chuyện này tôi tin rằng những tiến bộ kỹ thuật, những kết quả nghiên cứu có hiệu quả sẽ được Bộ mạnh dạn cho áp dụng vào sản xuất nhanh hơn và nhiều hơn. Nhân đây, xin kính đề nghị với Bộ cho Trung tâm Công trình Đồng bằng ven biển và Đê điều phát triển thành một đơn vị đủ tầm để nghiên cứu công trình vùng ven biển trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

    Cũng nhân dịp này xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhiều bạn bè, đồng nghiệp, đã luôn động viên khích lệ chúng tôi vươn lên khi gặp khó khăn trong quá trình nghiên cứu khoa hoc và ứng dụng vào thực tế …

    Nhân được phát biểu trên báo Tài nguyên nước là tiếng nói riêng, là linh hồn của Ngành Thủy lợi Việt Nam, tôi chúc cho Báo của chúng ta sẽ phát triển mạnh hơn, ra nhiều số hơn để có điều kiện dành nhiều hơn cho các bài về tiến bộ kỹ thuật và kết quả nghiên cứu, nhằm tuyên truyền phổ biến kịp thời cho sự nghiệp thủy lợi với vai trò đặc biệt quan trọng trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

      PV:  Xin cảm ơn GS.TS Trương Đình Dụ. Chúc ông và các cộng sự luôn phát huy trí tuệ, lòng nhiệt tình, sức mạnh đoàn kết, gặt hái được nhiều” mùa vàng” hơn nữa, mang lại vinh quang cho ngành Thuỷ lợi Việt Nam!

     

    HÀ QUANG thực hiện