Danh mục: Tin công nghệ

  • Thông báo Hội thảo “Quản lý tổng hợp tài nguyên đất và nước”


    Đất và nước được coi là nguồn tài nguyên vô giá đối với con người. Với các quốc gia phát triển, tài nguyên đất và nước đóng vai trò vô cùng quan trọng và được đặt lên hàng đầu trong việc khai thác, sử dụng và quản lý với quy mô lớn. Ngược lại, đối với những quốc gia đang phát triển, vai trò của những nguồn tài nguyên này vẫn chưa được nhận thức rõ ràng, song hành với điều đó là việc sử dụng lãng phí và ít có động thái để bảo tồn và sử dụng hiệu quả nguồn khoáng sản quý báu này.


    Tổ chức Hợp tác về Nguồn Nước toàn cầu (GWP) định nghĩa “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) là một quá trình xúc tiến việc phối hợp quản lý và phát triển các nguồn nước, đất đai và các nguồn lực liên quan nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh tế và phúc lợi xã hội một cách cân bằng mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ thống sinh thái trọng yếu” (GWP, 2000). Như vậy, để quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên nước chúng ta không thể không quan tâm tới quản lý bền vững tài nguyên đất.


    Trong khuân khổ hợp tác nghiên cứu và đào tạo với trường Đại học Kyushu, trường Đại học Thủy Lợi kết hợp với trường Đại học Kyushu tổ chức hội thảo khoa học “Quản lý tổng hợp tài nguyên đất và nước” vào ngày 22/11/2010 tại Trường Đại học Thủy Lợi.


     


    Xem chi tiết Thông báo: Tại đây

  • Chống ngập bằng cống ở TP.HCM tốn hơn 11.500 tỷ đồng

    Dưới đây là trao đổi của Thứ trưởng
    với phóng viên VietNamNet.


    Thứ trưởng Đào Xuân Học, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy Lợi. 
    (Ảnh: M.
    Nguyệt)

    Được biết, cuối năm 2007, Chính phủ
    giao cho Bộ NN&PTNT nhiệm vụ xây dựng Dự án Quy hoạch thuỷ lợi chống ngập
    úng khu vực TP.HCM, xin Thứ trưởng cho biết tiến độ của dự án này?

    –
    Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, Bộ đã tập hợp các nhà khoa học đầu ngành thủy lợi,
    có kinh nghiệm và am hiểu địa bàn TP.HCM của 6 đơn vị: Viện Quy hoạch Thủy lợi
    Miền Nam, Viện Quy hoạch Thủy lợi, Hội Thủy lợi TP.HCM, Trường ĐH Thủy lợi cơ
    sở 2, Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam và Công ty Tư vấn Thủy lợi Hec II xây
    dựng phương án chống ngập cho TP.HCM bằng cống.

    Ngoài
    ra, Bộ đã tổ chức nhiều lần hội thảo xin ý kiến của các nhà khoa học trong và
    ngoài ngành, xin ý kiến của Hội đồng nhân dân, UBND TP.HCM, các cơ quan quản lý
    của TP và đã nhận được sự đồng thuận cao của lãnh đạo, Hội đồng nhân dân và các
    cơ quan quản lý của thành phố. Bộ đã báo cáo với Chính phủ, đã thành lập Hội
    đồng thẩm định gồm các bộ liên quan và các nhà chuyên môn của TP và trong ngành
    Thuỷ lợi, Môi trường. Hội đồng Thẩm định đã nhất trí và đề nghị Chính phủ phê
    duyệt dự án để sớm triển khai thực hiện.

    Chống ngập bằng cống không ảnh hưởng quy hoạch TP.HCM

    Khi phương án này được thuyết trình cho các nhà khoa học và
    lãnh đạo TP.HCM, đã có một số ý kiến cho rằng đề án không khoa học, tốn kém và
    không khả thi. Thứ trưởng có thể giải thích về vấn đề này?

    –
    Sau khi phương án quy hoạch chống ngập úng cho TP.HCM do Bộ NN&PTNT đề xuất
    được đăng tải trên các báo, có một số ý kiến của các nhà khoa học xung quanh
    vấn đề này, tôi cho đây là điều không thể tránh khỏi vì nó là vấn đề phức tạp,
    nhạy cảm, tôi đồng cảm với những nỗi lo lắng đó.

    Tuy
    nhiên, là một người cán bộ kỹ thuật tôi thấy vấn đề khá rõ ràng và thực sự
    chúng ta không có giải pháp nào khác tốt hơn ngoài giải pháp đã được đề xuất
    trong các phương án mà bản quy hoạch đã nêu. Có ba nguyên nhân khách quan gây
    ngập úng ở TP.HCM là: Ngập do mưa lớn; ngập do lũ từ thượng nguồn và từ Đồng
    bằng sông Cửu Long (ngập lũ); ngập do triều từ biển vào (ngập triều) và ngập do
    những nguyên nhân tổng hợp: mưa + triều + lũ.

    Để
    giải quyết úng ngập của TP, người ta có thể nghĩ đến việc dùng đê bao và cống,
    khoanh lại thành các vùng kín rồi sử dụng máy bơm để bơm nước hạ thấp mực nước
    trong kênh rạch để nhận nước mưa từ cống rãnh của thành phố.

    Tuy
    nhiên, do gần biển, biên độ dao động từ đỉnh triều với chân triều rất cao
    (2,5-3,5m), đồng thời lại là vùng bán nhật triều rất thuận lợi cho việc tiêu
    thoát, do đó phương án khoanh vùng để sử dụng máy bơm là không hợp lý (trừ
    những vùng biệt lập và có tính đặc thù vẫn phải dùng bơm vợi).

    Giải
    pháp đề xuất của Bộ là lên đê bao cùng với hệ thống cống để ngăn triều, ngăn lũ
    và lợi dụng chân triều để tiêu thoát nước mưa.

    Thưa Thứ trưởng, phương án chống
    ngập cho TP.HCM bằng cống có làm ảnh hưởng đến mỹ quan, quy hoạch của TP?
    Phương án có tính đến hiện tượng mực nước biển ngày càng dâng cao do biến đổi
    khí hậu? 

    – Mỗi một cống lớn sẽ được thiết kế
    như một công trình kiến trúc đẹp, không ảnh hưởng đến mỹ quan và quy hoạch của
    TP sau này. Hơn nữa, việc thực hiện 2 phương án bao này không có gì mâu thuẫn
    nhau trong giải quyết vấn đề ngăn triều, ngăn lũ và tạo nền cho việc tiêu thoát
    nước mưa trong TP.

    Hệ
    thống đê bao và cống có nhiệm vụ ngăn triều, ngăn lũ có cao trình cao hơn mặt
    đất xây dựng của TP từ 0.5m đến 1m và được kết hợp với công trình cầu làm đường
    giao thông thuận tiện cho việc đi lại của người dân trong vùng. Chỗ nào có tàu
    thuyền đi lại thì các cống có thiết kế âu thuyền để tàu thuyền vẫn đi lại được
    khi đóng cống. Nói chung phương án quy hoạch sẽ không mâu thuẫn với các quy
    hoạch của các ngành khác mà phối hợp mang lại hiệu quả lớn trong đầu tư như:
    quy hoạch xây dựng, giao thông, phát triển kinh tế vùng…

    Phương
    án quy hoạch này còn gọi là phương án “bao trong”, phương án này vẫn đáp ứng
    được khi mực nước biển dâng lên khoảng 50cm. Trong nội dung của dự án, chúng
    tôi cũng đề xuất cả phương án “bao ngoài”, tức là bao tại cửa của các con sông
    lớn: Lòng Tàu, Soài Rạp. Hay nói cách khác là thực hiện vùng III trong dự án.
    Đây là câu chuyện lâu dài có tính đến mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu.


    Một đoạn đường ngập nước do triều cường ở
    TP.HCM
    (Ảnh: VNN/T.Duy)

    Chống ngập: Cần 11.531 tỷ đồng

    Sau khi có quyết định của Thủ tướng, dự án này sẽ được thực
    hiện như thế nào? Trong bao nhiêu năm? Gồm những khu vực nào? Với dự án này, dự
    kiến đến bao giờ TP.HCM mới tạm hết ngập?

    –
    Như đã đề cập ở trên, sau khi quyết định được Thủ tướng phê duyệt sẽ tiến hành
    thành lập Ban chỉ đạo dự án và sẽ tìm nguồn vốn để thực hiện ngay trong năm
    sau. Hiện tại Bộ đang cho thực hiện một số quy hoạch chi tiết. Bộ cũng đã làm
    việc với Đại sứ quán Hà Lan, Chính phủ Hà Lan sẽ hỗ trợ một dự án kỹ thuật để
    hướng dẫn các chuyên gia VN thiết kế, thi công các cống theo công nghệ mới, đảm
    bảo đẹp về hình thức, thi công ngay trên các dòng sông và kênh. Đồng thời, nếu
    TP đồng ý thì họ sẽ hỗ trợ tính toán lại hệ thống tiêu thoát trong nội thị trên
    nền mực nước theo phương án đề xuất của Bộ.

    Trình
    tự thực hiện chia làm hai giai đoạn, trong trường hợp đủ vốn thì có thể tiến
    hành đồng thời cả 2 vùng I: gồm toàn bộ khu vực bờ hữu sông Sài Gòn – Nhà Bè và
    vùng II: gồm toàn bộ khu vực ngã ba sông Đồng Nai – Sài Gòn. Thời gian của dự
    án dự kiến đến hết năm 2012, tuy nhiên còn phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn và sự
    phối hợp nhịp nhàng giữa TP.HCM và tỉnh Long An.

    Thưa Thứ trưởng, tổng chi của dự án này khoảng bao nhiêu? Nguồn kinh phí lấy
    từ đâu: ngân sách Nhà nước, UBND TP.HCM hay sự đóng góp của người dân?

    –
    Dự kiến tổng mức đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi chống ngập úng khu vực
    TP.HCM là 11.531 tỷ đồng. Trong đó, kinh phí thực hiện trong giai đoạn I (đến
    2012) là 10.080 tỷ đồng, giai đoạn II (sau 2012) là 1.451 tỷ đồng. Nguồn vốn
    đầu tư được trích từ nguồn Ngân sách Nhà nước (bao gồm ngân sách TW và ngân
    sách của TP.HCM) và nguồn vốn ODA.

    Xin cảm ơn Thứ trưởng!

    Theo
    Minh Nguyệt-Vietnamnet

     

  • Buổi giảng bài do VEF tổ chức vào ngày 7/8/2007 tại trường Đại học Thủy Lợi

    VEF (Quỹ Giáo Dục Việt Nam) là tổ chức được chính phủ Mỹ thành lập nhằm tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam thông qua các hoạt động trao đổi giáo dục trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ. Từ khi thành lập đến nay, VEF đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học và cung cấp nhiều suất học bổng có giá trị đến các công dân Việt Nam.


    Trong tháng 8 sắp tới, VEF phối hợp với Viện Hàn Lâm Khoa Học Hoa Kỳ sẽ tổ chức các buổi giảng bài và giao lưu của nhiều Giáo sư người Mỹ tại một số trường Đại học ở Việt Nam.


    Theo đề xuất của VEF, tại Trường Đại học Thuỷ Lợi sẽ có Giáo sư Vernon Snoeyink của trường University of Illinois, Urbana-Champaign giảng bài về chủ đề:  


    “Drinking Water: Treatment to Minimize Water Quality


    Changes and Energy Losses During Distribution”


    (tạm dịch: Nước sinh hoạt: Xử lý để giảm thiểu sự biến đổi chất lượng nước và mất mát năng lượng trong quá trình cấp nước)


    Thời gian: 8h30 đến 11h30 ngày 7/8/2007


    Địa điểm: phòng 223 – A1 – Đại học Thủy Lợi


    Đây là một buổi học nhiều bổ ích và cũng là cơ hội để mở rộng quan hệ của Nhà trường với tổ chức VEF nên rất mong nhận được sự quan tâm và tham dự đầy đủ của các quý thầy cô và sinh viên cao học, sinh viên bậc đại học năm cuối các chuyên ngành liên quan.


    Mọi thông tin chi tiết, xin liên hệ Phòng Hợp tác Quốc tế – Đại học Thuỷ Lợi. Điện thoại: (04) 8533083. Email: [email protected].


     

  • Tham dự cuộc họp INWEPF lần thứ 4 tại Thái Lan

    Tham dự cuộc họp INWEPF lần thứ 4 tại Thái Lan

    Bộ Nông nghiệp và PTNT nhận được giấy mời tham dự cuộc họp Ban chỉ đạo INWEPF (International Network for Water and Ecosystem in Paddy Field) lần thứ 4 với chủ đề “Sự thịnh vượng và bền vững đối với ruộng lúa nước và hệ sinh thái” (Prosperity and Sustainability of Paddy Fields and Ecosystem) do Cục Thuỷ lợi hoàng gia Thái Lan tổ chức từ ngày 05 đến ngày 07 tháng 07 tại Băng cốc – Thái Lan.


    Bô thông báo để các đơn vị biết và nếu có nhu cầu tham dự thì đăng ký theo hướng dẫn. Người tham gia không mất phí đăng ký và phải tự túc chi phí ăn ở, đi lại.


    Một số quy định nộp bài báo cáo tham dự hội nghị:
    – Nộp bản tóm tắt viết bằng tiếng anh khoảng 200-400 từ trước ngày 15/02/2007; kiểu font Times New Roman (cỡ chữ 12) hoặc font Arial (cỡ chữ 11); cách dòng đơn; khổ giấy A4; cách lề trên về dưới 2,5 cm, lề trái và phải 2.0 cm.
    – Người tham gia có thể viết báo cáo với các chủ đề dưới đây:


     + Water Management in Paddy Fields


    +  Technology to Improve Irrigation and Drainage in Paddy Fields


    + Sustainability of Paddy Fields and Ecosystem to wards Society


    + Monetary and Value – added Assessment in Paddy Fields
    – Nộp báo cáo tới email: [email protected]

    –  Xem chi tiết tại: http://www.rid.go.th/Thaicid/view.pdf


    Chương trình hội nghị: http://kromchol.rid.go.th/ffd/inwepf/4th/Brochure.pdf


     


    Liên hệ:


    Mr. Kanchadin Srapratoom


    Thailand INWEPF Committee


    Loan Project Branch


    Royal Irrigation Department


    811 Samsen Road, Dusit District, Bangkok


    10300, Thailand


    Tel.662-241-2687, Fax 662-241-2688


    E-mail: inwepf @gmail.com


    Thông tin chi tiết xin xem tại: www.rid.go.th/Thaicid/

  • Hội thảo MERDCVEL – 06

    1. Introduction.


    Marketing, Management, Education, Research and Development and Cultural Value for Engineers, Managers and Leaders are key words for alleviation of poverty, environmental protection, natural disaster prevention, sustainable development and international integrations – MERDCVEL-06 is excellent opportunities to exchange, discuss and present the best knowledge, expertise’s, lesson learned, case studies, ideas and innovation and answers on :


    1.1      What are the roles and new concepts of Marketing, Management, Education, Research and Development and Cultural Value in flat world?
    1.2      What is the best ways to improve knowledge’s, build up capabilities, skills, abilities of our engineers, academics, researchers, managers, leaders for sustainable development, International Integration challenges and opportunities of WTO
    1.3      What is the meaning of registration of professional engineers, code of ethics, continuity study, mutual recognition and services in order to have transparency, prevent and avoid corruption and increase value of engineering and culture. How we can build a better world and achieve the high quality and bring enjoyment to the life?  
    1.4      How we can use Vietnamese and Asian Cultural Value and Intelligent for business development. The important role of Cultural Value, brands and human recourses for future development.
    1.5      How we can build International Institutes, Universities, Center of Education, Training, Research, Research, Technology Transfer, Investment, Trade… for Sustainable Development and Cultural Values? How we can combine Western Civilization and Asian Culture to make more money, build up the intellectual market and connecting the best people over the word to help the development of Vietnam and human quality?


     


    2. Who will attend the short course and seminar on MERDCVEL – 06’.


    2.1      Engineers, Architects, Managers Researcher, Academics and Leaders from Companies, Institutes, Universities…
    2.2      Staffs of Authorities, Non-Government Organizations.
    2.3      Staffs of ministries, Government, People Committee, Department.
    2.4      Students, young engineers.
    2.5      Friends and Colleagues. Engineers, who wish to become Asean Engineers.


    3. Time and Place :


    From September 6 -8, 2006.
    Place : Hanoi (Fixed)
    And From October 6 -8, 2006 – Place Ho Chi Minh City (Tentative).


    4. Guest Speakers and Key Speakers.


    4.1 Dr., FF. of AAET  Viphandh Roengpith – President and Director of Asian University Pattaya, Thailand.
    4.2 Academician, PE, Chitr Lilavivat, Thailand – FF. of AAET, executive member Charted Engineers of England.
    4.3  Prof. Dr. Vu Gia Hien, Apollos University, USA.
    4.4 Dr. Tran Ha Anh, Engineer of Ecole Polytechnique (1959), Pre Vice Chairman of Committee of Science, Technology & Environment of the NA.
    4.5  Mr. Bui Kien Thanh, Senior Advisor.
    4.6 Mr. Nguyen Tri Dzung, President, Network of International Cooperation for Development.
    4.7 Mr. Nguyen Vi Khai, Senior Advisor, Prof. on Philosophy.
    4.8 Prof. Dr. Nguyen Truong Tien, FF of AAET.
    4.9 Prof. Dr. Nguyen Tien Chuong, Institute for Building Science and Technology.
    4.10 Dr. Trinh Minh Thu, Hanoi Water Resource University.
    4.11 Dr. Vo Hung Tuan, France.
    4.12 Dr. Le Van Cuong, Director of Research Center, France.
    4.13 Dr. Luong Bach Van, Ho Chi Minh City Committee.
    4.14 Prof. Dr. Mai Trong Nhuan.
    4.15 Prof. Dr. Tran Nghi.
    4.16 Senior Expert Le Van Thinh
    4.17 Mr. Bertil Nord.
    4.18 Dr. Phung Duc Long.
    And other colleagues and friends.



    5. Programs.


















    Day 1


    September 6, 2006


    Registration


    Opening Seminar / Short course.


    Marketing and Management – Education, Research and Development.


    Lectures and discussions.


    Day 2


    September 7, 2006


    The role of Science, Engineering, Technology.


    Investment and Commerce for Sustainable Development.


    Cultural and Engineering Value.


    Round Table of interested participants


    Lectures and discussions.


    Day 3


    September 8, 2006


    Lectures and discussion.


    Registration of Engineers, Mutual Recognition, Code of Ethics, Continuity Study Assessment and Examination of PE.


    Certification of VUSTA.


     


    6. Registration Fees.


    The MERDCVEL-06’ is non profit activity and self finance. The organizing committee will as some Organization / Corporation will be Sponsor and Co-Sponsor.
    The Speakers will make kind contribution. Minimum. Registration fee is asked as follow :
    –  Delegates over 31 years old   : 400.00 Dong VN (for 02 days seminar/short course)
    –  Delegation  to be registered as ASEAN Engineer : 500.000 Dong VN (for 03 days seminar/short course and RoundTable).
    – Young Engineers (less than 30 years old) : 300.000 Dong VN
    –  Students : 200.000 Dong VN.
    The fees is covered :
    –   Proceeding of Short course / Seminar.
    –   Coffee and tea.
    –  Lunch.
    –  Assessment and Examination for ASEAN Engineers (for interested engineers). The examination will make in English.
    The Organization Committee will responsible for Guest Speakers :
    –  Accommodation.
    – Local Transportation.
    –  Food.
    –  Visit Hanoi.


     


    7. Time Schedule


    –  Confirmation to be speakers        : August 15, 2006.
    –  Papers for Proceeding    : August 20, 2006.
    –  Registration of participant           :
           + First Announcement                : August 10, 2006.
           + Second Announcement           : August 20, 2006.
           + Invitation and Official Program: August 25, 2006.


     


    8. Contact Person.


    Prof. Dr. Nguyen Truong Tien, Deputy Director of Hancorp.
    FF of AAET.
    Vice Chairman of National Committee for Registration of Engineers.
    President of Vietnam of Society  Soil Mechanics and Geotechnical Engineering (VSSMGE).
    President of Advisory of Advance Associates Consulting Corporation.


    Address : No9 – Alley 44 – Ham Tu Quan Str., Hoan Kiem Distr., Hanoi – Vietnam.


    Tel : (84-4) 9324 959.                 Fax : (84-4) 9325 969


    Email : [email protected]


    Mobile : 090340 5769.


    You are most welcome to make any contribution, modification and suggestion. Thank you.


    Prof. Dr. FF. Nguyen Truong Tien


    Chairman of Organization Committee of MERDCVEL – 06’

  • Nghiệm thu Đề tài NCKH cấp Nhà nước

    Nghiệm thu Đề tài NCKH cấp Nhà nước




    Ngày 7/1/2006 Cơ sở 2 Đại học Thủy lợi đã tổ chức Đánh giá nghiệm thu cấp cơ sở Đề tài Nghiên cứu Khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu dự báo hạn hán vùng Nam trung bộ và Tây nguyên và Xây dựng các giải pháp phòng chống” – Mã số KC-08-22 do PGS.TS Nguyễn Quang Kim làm chủ nhiệm và Cơ sở 2 Đại học Thủy lợi chủ trì.


    Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp cơ sở gồm 9 thành viên lá các Nhà Khoa học có uy tín trong các ngành khoa học liên quan, đánh giá cao các kết quả đạt được của đề tài và đã thống nhất đề nghị cho đề tài được nghiệm thu ở cấp Nhà nước


    Xem tóm tắt báo cáo (Download)









                                                                                Nguồn: CS2-ĐHTL

  • Về an toàn của các hồ, đập trong điều kiện mưa lũ lớn

    Về an toàn của các hồ, đập trong điều kiện mưa lũ lớn

    Về an toàn của các hồ, đập trong điều kiện mưa lũ lớn


    GS. TS. Nguyễn Chiến – Khoa Công trình


     


    1.     Tổng quát


    Chúng ta vừa chứng kiến những ngày mưa lũ kinh hoàng ở các tỉnh miền Trung. Mưa lũ lớn, gây ngập trên diện rộng và gây tổn thất lớn lao về người và tài sản, nặng nề nhất là ở các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An. Mặc dù đỉnh lũ đã đi qua, nhưng ngập úng ở các vùng dân cư còn dài, khả năng phát sinh dịch bệnh, thiếu đói ở các khu vực dân cư vùng ngập lũ đang hiện hữu. Cả nước đang hướng về miền Trung với tinh thần tương thân tương ái, cứu trợ trước mắt và giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội lâu dài.


    Bên cạnh các vấn đề kinh tế, xã hội thì Nhà nước và các cơ quan chuyên ngành cũng đang tập trung nghiên cứu các vấn đề chuyên môn nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống cơ sở hạ tầng, nhà cửa và các công trình trong điều kiện có mưa lũ lớn. Các hồ, đập Thủy lợi là những công trình dễ bị tổn thương nhất khi có mưa lũ lớn, do đó công tác nghiên cứu và triển khai bảo đảm an toàn cho hồ, đập là một nhiệm vụ cấp bách của ngành nông nghiệp – thủy lợi nói riêng và của cả nước nói chung.


     


    2.     Đặc tính dễ bị tổn thương trong mưa lũ lớn của các hồ đập thủy lợi.


    Hiện nay, cả thế giới đang phải đối mặt với các vấn đề biến đổi khí hậu, trong đó có hiện tượng mưa lũ vượt ra ngoài các quy luật thông thường. Đợt lũ lịch sử vừa qua ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An là một ví dụ. Đã xảy ra hiện tượng lũ chồng lên lũ, con lũ trước chưa rút hết thì con lũ sau đã sầm sập đổ về. Thêm vào đó, cường suất của con lũ sau là rất lớn; lượng mưa 1 ngày tại Chu Lễ (Hương Khê – Hà Tĩnh) đo được là 800mm; tổng lượng mưa 5 ngày lên tới 1300÷1500mm. Tổng lượng nước này được dồn vào các thung lũng sông gây nên lũ lụt kinh hoàng. Trong điều kiện mưa lũ lớn như vậy, các hồ đập thủy lợi rất dễ bị tổn thương bởi các lý do sau đây.


    –        Các hồ đập thường khống chế một lưu vực nhất định. Toàn bộ nước mưa trên lưu vực được dồn vào bụng hồ phía trước đập. Lưu vực càng lớn, nước dồn về càng nhiều; rừng bị phá, mặt đệm trơ trọi, nước dồn về càng nhanh làm cho đường tràn xả nước không kịp, gây tràn và vỡ đập.


    –        Hơn 90% số đập tạo hồ ở nước ta hiện nay là đập đất. Loại đập này có điểm yếu là khi nước tràn qua thì dễ gây xói, moi sâu vào thân dẫn đến bị vỡ. Ngoài ra, khi cường suất mưa lớn và kéo dài, đất thân đập bị bão hòa nước làm giảm khả năng chống đỡ, dẫn đến trượt mái và hư hỏng đập.


    –        Trong thiết kế và xây dựng đập ở nước ta hiện nay, tiêu chuẩn phòng lũ được xác định theo cấp công trình. Ví dụ đập cấp I chống được con lũ thiết kế có chu kỳ xuất hiện lại là 500÷1000 năm; trị số tương ứng của đập cấp II là 200 năm; cấp III: 100 năm; cấp IV: 67 năm; cấp V: 50 năm. Như vậy các đập cấp IV, V khả năng chống lũ thấp, khả năng nước tràn dẫn đến vỡ đập là lớn. Ngoài ra, số lượng các đập loại này rất nhiều; việc quản lý, bảo dưỡng các đập nhỏ cũng không được chặt chẽ, bài bản như đối với các đập lớn.


    Thực tế đã xảy ra ở nước ta trong những năm qua là hư hỏng ,sự cố và vỡ đập chỉ xảy ra ở đập vừa và nhỏ. Trong trận lũ lịch sử ở Hà Tĩnh vừa qua, đập Khe Mơ bị vỡ là một đập nhỏ, trong khi các đập lớn như Kẻ Gỗ, Bộc Nguyên, Sông Rác … vẫn an toàn.


    –        Đập dù lớn hay nhỏ khi bị vỡ đều gây ra tổn thất nặng nề cho bản thân công trình, và cho vùng hạ du. Ở các đập mà hạ du là khu dân cư hoặc kinh tế, văn hóa thì thiệt hại do vỡ đập gây ra ở hạ du lớn hơn gấp nhiều lần so với thiệt hại đối với bản thân công trình, và phải mất nhiều năm sau mới có thể khắc phục được.


    Những đặc điểm trên đây cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của công tác đảm bảo an toàn hồ – đập thủy lợi, nhất là trong mùa mưa lũ lớn.


     


    3.     Các hướng nghiên cứu để đảm bảo an toàn hồ đập


    Do đặc điểm địa hình, địa chất, thủy văn, thời gian xây dựng của các đập là rất khác nhau nên việc nghiên cứu và đánh giá an toàn hồ đập cũng phải được thực hiện riêng cho từng công trình cụ thể. Tuy nhiên, trong nghiên cứu có thể phân ra các hướng như sau.


    a- Nghiên cứu về thủy văn-lũ và tràn sự số:


    –        Tính toán lại thủy văn-lũ của hồ-đập với việc cập nhật các tài liệu mới nhất về khí tượng, thủy văn, yếu tố mặt đệm bị thoái hóa do phá rừng, đào bới trên lưu vực …


    Trên cơ sở số liệu tính toán thủy văn-lũ để nghiên cứu, thiết kế bổ sung tràn sự cố nếu cần thiết.


    –        Nghiên cứu các mối quan hệ giữa các số liệu khí tượng – thủy văn phục vụ cho việc cảnh báo, dự báo lũ đối với hồ-đập. Công tác này là rất quan trọng đối với các hồ chứa lớn, có nhiệm vụ phòng lũ cho hạ du.


    Theo hướng nghiên cứu này, trong thời gian qua đã triển khai thành công đề tài “Nghiên cứu lũ vượt thiết kế ở các hồ chứa và giải pháp làm tràn sự cố” do GS. TS. Phạm Ngọc Quý làm chủ nhiệm.


    b- Nghiên cứu các vấn đề về an toàn đập, đặc biệt là đập đất:


    –        Nghiên cứu khả năng chống thấm qua thân và nền đập, các giải pháp đảm bảo an toàn về thấm.


    –        Nghiên cứu ổn định của mái đập trong những điều kiện bất lợi như mưa lớn làm toàn bộ đất thân đập bị bão hòa nước; thiết bị chống thấm bị thủng; thiết bị thoát nước bị tắc; trường hợp mực nước hồ rút nhanh sau lũ …


    –        Nghiên cứu khả năng xói và giải pháp bảo vệ mái hạ lưu đập khi có nước tràn đỉnh đập. Theo hướng này, ở trường ta đã thực hiện các đề tài nghiên cứu về thấm dị hướng qua đập đất, ổn định của mái khi nước rút nhanh, giải pháp chống thấm bằng tường hào ximăng – bentonite, hào đất – bentonite, phương pháp gia cố chống xói mái đập hạ lưu …


    c- Nghiên cứu các vấn đề về an toàn của công trình tháo lũ:


    –        Khả năng tháo của công trình tràn với các điều kiện biên thực tế.


    –        Các vấn đề tiêu năng, chống xói ở hạ lưu tràn.


    –        Các vấn đề về mạch động, rung động công trình.


    –        Các vấn đề về khí thực mặt tràn, dốc nước.


    –        Vấn đề hàm khí, thoát khí ở công trình tháo nước.


    d- Nghiên cứu về khả năng thoát lũ và an toàn cho vùng hạ du đập:


    –        Khả năng thoát lũ ở hạ du khi tràn xả lũ thiết kế, lũ kiểm tra.


    –        Sự truyền sóng lũ trong sông hạ lưu với các kịch bản vỡ đập khác nhau.


    –        Về chỉ giới thoát lũ và các biện pháp đảm bảo an toàn cho vùng hạ du.


     



    1. Về an toàn của hồ-đập Kẻ Gỗ

    Hồ Kẻ Gỗ là hồ chứa nước lớn nhất ở Hà Tĩnh hiện nay. Hồ có tổng dung tích 425 triệu m3, dung tích hữu ích 345 triệu m3, diện tích lưu vực 233 km2. Hồ có nhiệm vụ tưới cho 21.136 ha đất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt và công nghiệp 1,6 m3/s, kết hợp phát điện trong mùa tưới. Công trình đầu mối thuộc cấp II; đập chính là đập đất cao 37,4 m; ngoài ra còn có 3 đập phụ cũng là đập đất. Công trình xả lũ gồm tràn chính (tràn Dốc Miếu) có B=2×10 m, lưu lượng xả thiết kế Q=1065 m3/s; ngoài ra còn có tràn dự phòng qua hành lang cống lấy nước và tràn sự số có B=65 m. Cống lấy nước dưới đập có kích thước B×H=3×3m; lưu lượng thiết kế Q=28,2 m3/s, cống có cửa van ở hạ lưu để điều tiết nước cho tưới, cấp nước, phát điện.


    Hồ Kẻ Gỗ được xây dựng trong thời gian 1976-1988. Trải qua hơn 30 năm làm việc, hồ đã phát huy tốt tác dụng của mình, biến một vùng đất khô cằn của hai huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà thành vùng đồng bằng màu mỡ, ruộng vườn tươi tốt quanh năm.


    Trong thời gian 2005-2006 đã có đợt khảo sát đánh giá an toàn hồ-đập, đã phát hiện các biểu hiện xuống cấp của công trình đầu mối như nước thấm ra mái hạ lưu đập chính và đập phụ, xâm thực trên bề mặt mũi phun đập tràn, xâm thực trong lòng cống lấy nước ở khu vực sau cửa van điều tiết thượng lưu và một số hư hỏng cục bộ khác.















     Hình 1: Xâm thực trên mặt dốc nước đường tràn









    Hình 2: Nước thấm ra mái HL đập


        Dự án sửa chữa, nâng cấp hồ chứa nước Kẻ Gỗ thực hiện từ năm 2007 đến nay đã giải quyết được các vấn đề sau:


    –        Sửa chữa, nâng cấp đập chính và các đập phụ (chống thấm, kiên cố hóa đỉnh đập, bảo vệ mái thượng lưu …).


    –        Sửa chữa, nâng cấp cống lấy nước và cửa van điều tiết.


    –        Nâng cấp, hiện đại hóa hệ thống kênh (đang thực hiện).


    –        Nâng cấp hệ thống đường quản lý.


    Trong trận lũ đầu tháng 10 năm 2010 vừa qua, các hạng mục của công trình đầu mối làm việc bình thường. Tràn xả lũ đã được điều tiết để vừa hạn chế lưu lượng xả lớn nhất xuống hạ lưu và vẫn đảm bảo an toàn cho bản thân công trình. Lưu lượng xả lớn nhất trong đợt này là 600 m3/s, nhỏ hơn lưu lượng xả thiết kế là Q=1065 m3/s. Tuy nhiên khu vực hạ du vẫn ngập nặng là do kết hợp với mưa lớn lịch sử và triều cường từ phía biển.


    Dưới góc độ chuyên môn, hiện tại hệ thống công trình hồ Kẻ Gỗ còn có những điểm cần quan tâm như sau:


    –        Đường tràn chính: xâm thực bề mặt dốc nước chưa được khắc phục, nếu tràn xả đủ lưu lượng thiết kế, khả năng xâm thực sẽ còn mạnh hơn.


    –        Tràn sự cố được kết cấu theo kiểu tự vỡ khi nước tràn qua. Tuy nhiên qua nhiều năm tràn không làm việc, vật liệu thân đập đã được lèn chặt, liệu đập có tự vỡ được như thiết kế nữa không?


    –        Muốn chủ động điều tiết cửa xả để cắt lũ cho hạ du và bảo vệ bản thân công trình, cần có số liệu dự báo mưa lũ chính xác, kịp thời. Hiện tại ở thượng nguồn hồ Kẻ Gỗ chưa có trạm khí tượng thủy văn, đây là một khó khăn lớn cho công tác dự báo.


    –        Vấn đề quy hoạch phòng chống lũ cho hạ du chưa được giải quyết một cách bài bản.


    Hiện tại Viện Kỹ thuật Công trình – trường Đại học Thủy lợi đang thực hiện Hợp đồng nghiên cứu về đảm bảo an toàn cho hồ-đập Kẻ Gỗ nên tất cả các vấn đề nêu trên đang được quan tâm xem xét.


     



    1. Kết luận

    An toàn cho hồ-đập là một vấn đề cấp bách hiện nay. Trong điều kiện biến đổi khí hậu, mưa lũ bất thường, các hồ đập nói chung, đặc biệt là các hồ-đập vừa và nhỏ có mức độ an toàn không cao, nguy cơ xảy ra sự cố vỡ đập là có thật.


    Để từng bước nâng cao độ an toàn của hồ-đập, cần phải thực hiện các nghiên cứu cụ thể đối với từng nhóm đề tài nêu trên. Nhà nước cần sớm hoàn chỉnh các tiêu chuẩn và chế tài đối với vấn đề an toàn hồ đập, có chính sách đầu tư đúng hướng và nhất quán đối với sự nghiệp Thủy lợi nói chung và công tác an toàn hồ-đập nói riêng.

  • Trường Đại học Thủy lợi trúng tuyển 01 đề tài độc lập cấp Nhà nước thực hiện trong kế hoạch năm 2009

    Ngày 16 tháng 7 năm 2008, Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định số 1472/QĐ-BKHCN về việc phê duyệt tổ chức và cá nhân chủ trì đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm độc lập cấp nhà nước thực hiện trong kế hoạch năm 2009. Trường Đại học Thủy lợi đã trúng tuyển 01 đề tài do GS. TS Nguyễn Văn Mạo chủ trì với tên “Nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo an toàn các công trình xây dựng trong điều kiện thiên tai bất thường vùng duyên hải miền Trung”.

    Thông tin chi tiết

  • Đại hội thành lập Hội tưới tiêu Việt Nam

    Đại hội thành lập Hội tưới tiêu Việt Nam

    Ở Việt Nam, trong những thập kỷ qua, công tác thuỷ lợi nói chung cũng như tưới tiêu nói riêng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm.Nhiều công trình, hệ thống công trình thuỷ lợi lớn nhỏ được xây dựng, hình thành nên cơ sở vật chất hạ tầng hết sức to lớn với giá trị trên 100 nghìn tỷ đồng phục vụ tưới tiêu, ngăn mặn, giữ ngọt, du lịch, đảm bảo cho sản xuất và đời sống dân sinh.Công tác tưới tiêu đã khẳng định được vai trò vị trí của mình trong công tác Thuỷ lợi, đóng góp to lớn cho việc phát triển của Ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.


    Ngày 19/7/2007, Đại hội thành lập Hội tưới tiêu được tổ chức tại Trường Đại học Thuỷ lợi.Tham dự đại hội có đại diện cho các cơ quan Trung ương, các Bộ ngành, Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Kế hoạch đầu tư, đại diện các cơ quan, Công ty, Sở, các Chi cục Thuỷ lợi, Chi cục đê điều và phòng chống lụt bão, các Hội thuỷ lợi, Hội Đập lớn…










    GS.TS Đào Xuân Học làm Chủ tịch danh dự của Hội tưới tiêu Việt Nam 


    Trong bài phát biểu khai mạc Đại hội, PGS.TS Đào Xuân Học – Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhấn mạnh sự cần thiết của việc tập hợp đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực tưới tiêu (hiện cả nước có trên 22.000 người) đang không ngừng phát triển, lớn mạnh để có điều kiện tập trung phát huy năng lực trí tuệ, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tham gia tư vấn về cơ chế chính sách tưới tiêu cho cơ quan quản lý nhà nước cũng như vận động cộng đồng tham gia vào phát triển công tác tưới tiêu.


    Tên gọi chính thức của tổ chức là Hội tưới tiêu Việt Nam. Hội có tên giao dịch quốc tế theo Tiếng Anh là Vietnam National Commission on Irrigation and Drainage. Là tổ chức tự nguyện, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, tập hợp những người hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học kỹ thuật, quy hoạch, khảo sát thiết kế xây dựng, quản lý vận hành công trình thuỷ lợi và các hoạt động khác liên quan đến công tác tưới tiêu nhằm trao đổi thông tin, kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới, mở rộng hợp tác khoa học công nghệ…


    Sau khi thông qua Điều lệ Hội tưới tiêu Việt Nam và phương hướng hành động hoạt động của Hội, Đai hội giới thiệu và bầu ra Ban chấp hành Hội tưới tiêu Việt Nam. Ban chấp hành Hội tưới tiêu Việt Nam đã họp phiên đầu tiên và công bố: bầu GS.TS Đào Xuân Học làm Chủ tịch danh dự của Hội; ông Phạm Xuân Sử – nguyên Cục trưởng Cục Thuỷ lợi, trưởng Ban vận động giữ chức vụ chủ tịch Hội, các Phó Chủ tịch Hội bao gồm: PGS.TS Nguyễn Quang Kim – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ lợi; ông Nguyễn Thế Quảng – Viện trưởng Viện Khoa học Thuỷ lợi; ông Tô Trung Nghĩa – Viện trưởng Viện Quy hoạch Thuỷ lợi; Ông Tăng Đức Thắng – Phó Viện trưởng viện Khoa học Thuỷ lợi miền Nam cùng Ban thường vụ gồm 25 uỷ viên và Ban Kiểm tra gồm 5 đồng chí.


    Linh Ngọc


    Ảnh HMT