Danh mục: Tin khoa học công nghệ

  • Thông báo kêu gọi đề xuất đề tài/dự án khoa học và công nghệ theo Nghị định thư giai đoạn 2024 – 2026 (Chương trình hợp tác khoa học và công nghệ Việt Nam – Italy)

    Thông báo kêu gọi đề xuất đề tài/dự án khoa học và công nghệ theo Nghị định thư giai đoạn 2024 – 2026 (Chương trình hợp tác khoa học và công nghệ Việt Nam – Italy)

    CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM-ITALY

    Thông báo kêu gọi đề xuất đề tài/dự án

    khoa học và công nghệ theo Nghị định thư giai đoạn 2024 – 2026

    Thời gian đóng thông báo: 17h00 ngày 11/9/2023

    GIỚI THIỆU

    Trong khuôn khổ Hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Italy, ký tại Hà Nội ngày 10.5.1992 và có hiệu lực từ 10.5.1998, Tổng Vụ Xúc tiến hợp tác (kinh tế, văn hóa và khoa học)- Phòng IX thuộc Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Italy và Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam (dưới đây được gọi là các Bên) khởi động Chương trình hợp tác khoa học và công nghệ giai đoạn 2024-2026.

    1. YÊU CẦU CHUNG

    1.1 KẾ HOẠCH TÀI TRỢ

    Trong khuôn khổ Chương trình hợp tác này, các đề tài/dự án hợp tác nghiên cứu chung sẽ được hai Bên cùng xem xét tài trợ với mục đích khuyến khích sự hợp tác song phương giữa các nhóm nghiên cứu của hai nước.

    Kinh phí được tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu như sau: Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam (MOST) sẽ cấp kinh phí cho các nhóm nghiên cứu của Việt Nam và Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Italy (MAECI) sẽ cấp kinh phí cho các nhóm nghiên cứu của Italy.

    1.2 YÊU CẦU

    Đề xuất dự án:

    – Phải có cùng thời hạn khi Chương trình đang diễn ra: 3 năm;

    – Mỗi Chủ nhiệm đề tài (PI) chỉ được gửi một đề xuất đề tài/dự án.

    Quy định phía Italy:

    – Các tổ chức nghiên cứu công lập và ngoài công lập (phi lợi nhuận);

    – Chủ nhiệm nhiệm vụ phải mang quốc tịch Italia hoặc Châu Âu, cư trú hợp pháp tại Italy và phải tham gia một tổ chức công lập và ngoài công lập (phi lợi nhuận) với vị trí cố định hoặc tạm thời phải có thời hạn hoạt động ít nhất đến khi hoàn thành năm đầu tiên của đề xuất đề tài/dự án hợp tác nghiên cứu chung (ngày kết thúc hợp đồng phải có trong CV).

    Quy định phía Việt Nam:

    – Các tổ chức khoa học và công nghệ, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ, cơ quan nhà nước và tổ chức, cá nhân có đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ được quy định bởi pháp luật Việt Nam.

    – Các đề tài/dự án phải tuân thủ các chính sách tài trợ của Việt Nam.

    1.3 CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐẠT YÊU CẦU

    – Thiếu bất kỳ yêu cầu nào được liệt kê ở trên;

    – Hồ sơ nộp không đầy đủ như yêu cầu tại Mục 3 của Thông báo này;

    – Các đề xuất đề tài/dự án hợp tác nghiên cứu chung không thuộc lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam và Italy được nêu tại Mục 2 của Thông báo này.

    2. LĨNH VỰC ƯU TIÊN

    Các đề tài/dự án hợp tác phải thuộc một trong các lĩnh vực sau:

    – Khoa học Nông nghiệp và Thực phẩm (Agriculture and Food Science); 

    Giới hạn trong: chế biến và bảo quản thực phẩm; cơ giới hóa nông nghiệp (limited to food processing and preservation; agriculture  mechanization)

    – Biến đổi khí hậu và phát triển bền vững (Climate Change and Sustainability) e.g. Energy, Mobility, Nature Based Solutions, Water management);

    Giới hạn trong: năng lượng; tính cơ động; giải pháp dựa vào thiên nhiên; quản lý môi trường. (limited to energy; mobility; nature based solutions; environmental management)

    – Xã hội thông tin (Information Society);

    Giới hạn trong: Trí tuệ nhân tạo (AI); Internet vạn vật (IoT); Công nghệ truyền thông – thông tin (ICT); Thành phố thông minh (Smart Cities); Dữ liệu lớn (Big Data)

    – Khoa học vũ trụ và quan sát trái đất (Space Science and Earth Observation);

    Giới hạn trong: viễn thám; giám sát thiên tai; công nghệ vũ trụ tiên tiến.( limited to remote sensing; monitoring of natural hazards; advanced space technologies).

    – Công nghệ Bảo tồn và phục chế các di sản văn hóa và thiên nhiên (Technologies Conservation and restoration of  Natural and Cultural Heritage);

    *  Đề tài/dự án không thuộc lĩnh vực ưu tiên nêu trên sẽ không được xem xét.

    * Một số lĩnh vực nghiên cứu được liệt kê ở trên có thể không được tài trợ, tùy thuộc vào chất lượng khoa học của các đề xuất đề tài/dự án.

    3. QUY TRÌNH NỘP ĐỀ XUẤT ĐỀ TÀI/DỰ ÁN

    Các đề xuất đề tài/dự án nghiên cứu chung phải được các Chủ nhiệm của Việt Nam và Italy nộp riêng cho các Bên tương ứng, tuân theo các thủ tục nộp hồ sơ cụ thể của quốc gia đó được liệt kê dưới đây. Các hồ sơ chỉ nộp ở một trong hai Bên sẽ không được chấp nhận và xem xét để đánh giá.

    Về phía Italy:       

    – Chủ nhiệm đề tài/dự án phía Italy cần nộp đề xuất trực tuyến bằng cách điền vào các biểu mẫu quy đinh tại liên kết sau: http://web.esteri.it/pgr/

    – Thuyết minh phải được viết bằng tiếng Anh hoặc tiếng Italy. Các ngôn ngữ khác sẽ không được chấp nhận.

    – Đối với bất kỳ câu hỏi nào liên quan đến Thông báo kêu gọi này, vui lòng liên hệ với địa chỉ email sau: [email protected].

    – Đối với các dự án liên quan đến thí nghiệm trên động vật phải được sự phê duyệt của Ủy ban đạo đức có thẩm quyền. Phải nộp các minh chứng được sự chấp thuận của OPBA (Organismo Preposto al Benessere degli Animali) cho các thử nghiệm này. Xin lưu ý rằng bắt buộc phải có sự cho phép chính thức của Bộ Y tế có thẩm quyền để bắt đầu các hoạt động (D.Lgs 26_04/03/2014 và Chỉ thị 2010/63 EU). Các dự án liên quan đến thí nghiệm với con người phải được thực hiện theo Chỉ thị 536/2014/EC. Chủ nhiệm người Italy phải tự cam kết tuân thủ các quy tắc trong phần Phương pháp trong đề xuất đề tài/dự án.

    – Hồ sơ đăng ký của các dự án nghiên cứu chung phải được kèm theo thư xác nhận có chữ ký của người đại diện hợp pháp của tổ chức đăng ký hoặc người đại diện được ủy quyền hợp lệ theo quy định. Thư xác nhận này phải được viết bằng tiếng Ý, có thể tải xuống mẫu có sẵn tại đường link kèm theo Thông báo kêu gọi này. Thư xác nhận cũng phải nêu rõ về việc đồng ý tuân thủ tất cả các điều khoản trong Thông báo kêu gọi này, bao gồm cả khoản đồng tài trợ của tổ chức cũng phải được liệt kê trong phần ngân sách tạm thời của đề xuất. Ngoài ra nếu Chủ nhiệm giữ vị trí tạm thời, thư xác nhận cũng phải nêu rõ Tổ chức chủ trì sẽ thay thế Chủ nhiệm bằng một thành viên khác của nhóm nghiên cứu nếu hợp đồng với Chủ nhiệm bị chấm dứt trước khi dự án kết thúc. Từ đó đảm bảo rằng các hoạt động nghiên cứu được được thực hiện mà không có bất kỳ sự gián đoạn nào. Thư xác nhận phải được tải lên trang web có sẵn tại liên kết: http://web.esteri.it/pgr/.

    Về phía Việt Nam:

    – Đề cương đề xuất đề tài/dự án khoa học và công nghệ theo Nghị định thư viết bằng tiếng Việt (Theo mẫu tại Thông tư số 10/2019/TT-BKHCN ngày 29/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ) có đủ chữ ký và dấu của các bên liên quan;

    – Thuyết minh bao gồm: Mô tả mục tiêu, nội dung nghiên cứu chính, kết hoạch hợp tác, dự kiến nguồn nhân lực thực hiện, phân công nhiệm vụ giữa các đối tác Italy và Việt Nam, kết quả dự kiến và dự trù kinh phí, nguyên tắc cơ bản của việc cùng thương mại hóa kết quả nghiên cứu và chia sẻ lợi ích.

    – Hồ sơ phải được nộp cùng với các văn bản hành chính khác theo quy định của Việt Nam.

    – Thông tin về việc nộp đề xuất sẽ được đăng trên trang thông tin điện tử của Bộ Khoa học và Công nghệ: www.most.gov.vn.

    – Hồ sơ đề xuất đề tài/dự án khoa học và công nghệ theo Nghị định thư hợp tác với Italy phải được nộp đồng thời trực tuyến và trực tiếp:

    * Nộp trực tuyến: Bản scan của hồ sơ được gửi đến địa chỉ: http://stm.most.gov.vn.   

    * Nộp trực tiếp: bản gốc được gửi trực tiếp hoặc thông qua đường bưu điện về Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, 113 Trần Duy Hưng, Hà Nội.

    Hồ sơ được gửi trong phòng bì dán kín, bìa ngoài có ghi:

    “Hồ sơ đăng ký thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo Nghị định thư, Chương trình hợp tác KH&CN lần thứ 8 Việt Nam-Italy”

    Đầu mối liên hệ:

    Ông Đinh Quý Cương

    Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ KH&CN

    113 Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội

    Tel: +(84-24) 39435376

    Fax: +(84-24) 39439987

    E-Mail: [email protected]

    4. ĐÁNH GIÁ VÀ LỰA CHỌN ĐỀ TÀI/DỰ ÁN Ở CẤP ĐỘ QUỐC GIA VÀ SONG PHƯƠNG

    4.1 QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ

    Sau khi kết thúc thời gian kêu gọi, tất cả các đề xuất nhận được sẽ được kiểm tra về tính hợp lệ. Quá trình đánh giá sẽ được thực hiện ở cấp quốc gia để xác định danh sách rút gọn các đề xuất xếp hạng hàng đầu. Sau đó, ở cấp độ song phương, hai Bên sẽ đạt được sự đồng thuận về danh sách cuối cùng của các dự án đủ điều kiện tài trợ trong cuộc họp của Ủy ban Hỗn hợp, như được được nêu tại Điều 4 của Hiệp định, hai Bên sẽ thống nhất danh sách các đề tài/dự án được lựa chọn để hai Bên đồng tài trợ. Danh sách này sẽ được đưa vào nội dung của Chương trình hợp tác và sẽ được hai Bên cùng cấp kinh phí từ ngân sách hàng năm của hai nước.

    Các đề xuất sẽ được đánh giá theo các tiêu chí sau:

    – Nội dung khoa học của đề tài/dự án nghiên cứu;

    – Năng lực của nhóm nghiên cứu;

    – Phương pháp luận và tư liệu tổng quan;

    – Giá trị gia tăng đối với sự phát triển kinh tế xã hội và đối với sự hợp tác song phương;                                    

    – Đáp ứng đầy đủ về tài chính.

    Về phía Việt Nam

    Quy trình đánh giá đề tài/dự án nghiên cứu chung sẽ được thực hiện theo quy định tại Thông tư 10/2019/TT-BKHCN ngày 29/10/2019 Quy định quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Nghị định thư.

    Các đề xuất dự án hợp lệ sẽ được đánh giá bởi các Hội đồng khoa học do Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập. Chủ nhiệm nhiệm vụ phải nộp đầy đủ hồ sơ chi tiết cho Bộ Khoa học và Công nghệ, bao gồm các tài liệu chính sau:

    • Thuyết minh chi tiết nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Nghị định thư;

    –   Thỏa thuận hợp tác giữa các đơn vị tham gia đề tài/dự án nghiên cứu phía Việt Nam, có đủ chữ ký của tất cả các đối tác tham gia và cơ quan chủ trì;

    –   Thỏa thuận hợp tác giữa các đối tác Italy và Việt Nam (bằng tiếng Anh kèm theo bản dịch ra tiếng Việt)

           Các yêu cầu tối thiểu cho Thỏa thuận hợp tác với các đối tác Italy như sau:

    – Tên đề tài/dự án;

    – Tên của tất cả các đối tác tham gia;

    – Mô tả mục tiêu, nội dung nghiên cứu chính, kết hoạch hợp tác, dự kiến nguồn nhân lực thực hiện, phân công nhiệm vụ giữa các đối tác Italy và Việt Nam, kết quả dự kiến và dự trù kinh phí, nguyên tắc cơ bản của việc cùng thương mại hóa kết quả nghiên cứu và chia sẻ lợi ích.

    YÊU CẦU SẢN PHẨM

    Đề tài/dự án cần đáp đầy đủ các tiêu chí của nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia theo các quy định hiện hành của Bộ Khoa học và Công nghệ, cũng như đáp ứng các điều kiện theo thông tư số 10/2019/TT-BKHCN ngày 29/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ theo quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo nghị định thư. Nhiệm vụ Nghị định thư cần có tính đột phá về công nghệ.

    Các sản phẩm của đề tài phải là sản phẩm đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và thế giới. Các sản phẩm của nhiệm vụ cần đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia với các sản phẩm dạng I, dạng II và dạng III:

                * Sản phẩm dạng I phải là những sản phẩm tiên tiến, có chỉ tiêu kỹ thuật rõ ràng.

                * Sản phẩm dạng II ưu tiên những quy trình công nghệ tiên tiến.

                * Sản phẩm dạng III gồm ít nhất 01 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục ISI/Scopus, 2 bài báo trên các tạp chí khoa học có uy tín trong nước và được tính điểm hội đồng giáo sư ngành, liên ngành do quỹ Nafosted ban hành.

                * Sản phẩm dạng IV Đào tạo được ít nhất 01 thạc sĩ hoặc góp phần đào tạo tiến sĩ (theo hướng luận văn tốt nghiệp thực hiện theo các nội dung của hợp tác nghị định thư).

    – Ngoài ra còn một số tài liệu hành chính khác được quy định tại Thông tư 10/2019/TT-BKHCN ngày 29/10/2019.

    Mọi thông tin chi tiết về hồ sơ sẽ được đăng tải trên trang web của Bộ Khoa học và Công nghệ: www.most.gov.vn.   

    4.2 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ

    Về phía Italy:

    Danh mục các đề tài/dự án được lựa chọn và quy trình cấp kinh phí sẽ được đăng tải trên trang web của Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Italy theo địa chỉ sau:

    https://www.esteri.it/it/diplomazia-culturale-e-diplomazia scientifica/cooperscientificatecnologica/programmiesecutivi/accordi_programmi_culturali_tecnologici/ . Các chủ nhiệm đề tài/dự án được lựa chọn sẽ được thông báo trực tiếp.

    Về phía Việt Nam:

    Danh mục các đề tài/dự án được lựa chọn sẽ được Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ thông báo bằng văn bản cho các tổ chức chủ trì, chủ nhiệm nhiệm vụ Nghị định thư được tuyển chọn và các nhiệm vụ không được tuyển chọn.

    5. CẤP KINH PHÍ CHO CÁC ĐỀ TÀI/DỰ ÁN ĐƯỢC LỰA CHỌN

    Về phía Italy:

    Các đề tài/dự án được lựa chọn sẽ được hai Bên cùng cấp kinh phí trong khả năng tài chính hàng năm của mình.

    Các dự án được chọn và liệt kê trong danh mục sẽ được cấp kinh phí hàng năm. Theo Luật Italy số 401/90, bắt đầu mỗi năm thông báo sẽ được đưa ra bởi Tổng cục Xúc tiến hợp tác (kinh tế, văn hóa và khoa học), Phòng IX của Bộ Ngoại giao và Hợp tác Quốc tế Italy, mời các Chủ nhiệm đề tài/dự án của Italy trong danh mục Chương trình hợp tác nộp đề xuất kinh phí hàng năm.

    Tổ chức chủ trì lập dự toán tất cả các chi phí của dự án và sẽ được hoàn trả hàng năm, sau khi nộp các chứng từ tài chính và có đánh giá tích cực về báo cáo khoa học tương ứng.

    Kinh phí hỗ trợ của Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Italy cấp cho các đề tài/dự án được chọn vào khoảng 50% tổng chi phí của mỗi đề tài/dự án. Do đó, Tổ chức chủ trì phải cam kết tài trợ khoảng một nửa tổng chi phí của đề tài/dự án. Kinh phí tài trợ có thể chi phí này có thể được dùng trả lương cho thành viên có liên quan và các chi phí liên quan khác. Bất kỳ khoản đóng góp tài chính nào khác từ các tổ chức công hoặc tư nhân của Italy hoặc Thụy Điển sẽ được đánh giá tích cực.

    Khoản tài trợ của Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Italy cho mỗi dự án là khoảng 40.000 Euro/năm, chưa tính khoản 50% đóng góp của các tổ chức chủ trì.

    Về phía Việt Nam:

    Sau khi nhận được thông báo, chủ nhiệm đề tài/dự án được lựa chọn trong Chương trình hợp tác hoàn thiện hồ sơ và gửi về Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ để thẩm định kinh phí theo quy định tại Thông tư 10/2019/TT-BKHCN ngày 29/10/2019 Quy định quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Nghị định thư.

    6. THÔNG TIN LIÊN HỆ

    Để biết thêm thông tin về cuộc gọi hiện tại, ứng viên có thể tham khảo các liên hệ sau:

    Tại Italy:

    Văn phòng IX – Tổng cục Xúc tiến và Đổi mới Văn hóa, Kinh tế

    Bộ Ngoại giao và Hợp tác Quốc tế (MAECI)

    E-mail: [email protected]

    Tại Việt Nam:

                   Vụ Hợp tác quốc tế

                   Bộ Khoa học và Công nghệ

                   113 Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội.

    Đầu mối liên hệ:

    Ông Đinh Quý Cương

    Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ

    113 Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

    Tel: +(84-24) 39435376

    Fax: +(84-24) 39439987

    E-Mail: [email protected];

    Nguồn: Thông báo kêu gọi đề xuất đề tài/dự án khoa học và công nghệ theo Nghị định thư giai đoạn 2024 – 2026 (Chương trình hợp tác khoa học và công nghệ Việt Nam – Italy) (most.gov.vn)

  • Bằng độc quyền sáng chế số 36731 về Thiết bị tách nước hai cấp cho bùn nạo vét

    Bằng độc quyền sáng chế số 36731 về Thiết bị tách nước hai cấp cho bùn nạo vét

    ​

    Sáng chế đề cập một giải pháp kỹ thuật phục vụ công tác xử lý bùn nạo vét cho cảng nói riêng cũng như nạo vét bùn ở hồ/sông/biển nói chung.

    Thiết bị tách nước hai cấp cho bùn nạo vét

    Độ sâu luồng vào và độ sâu trước bến có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh khai thác cảng, đặc biệt là với cảng nước sâu ở Việt Nam. Hơn nữa, hàng năm ở khu vực này thường có hiện tượng bị bồi lấp với khối lượng ước tính lên tới triệu mét khối bùn. Nếu không được nạo vét kịp thời, các cảng có thể mất cơ hội đón tàu trọng tải lớn, ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế. Mặt khác, việc xử lý bùn nạo vét là vấn đề hết sức cấp thiết, hiện nay vẫn chủ yếu đề xuất nhấn chìm xuống biển nhưng sẽ gây tác động lớn đến môi trường sinh thái nếu không được nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt đối với bùn nạo vét bị ô nhiễm thì xử lý nước lẫn trong bùn càng cấp thiết hơn vì nó gây tác động trực tiếp đến môi trường sinh thái xung quanh.Việc giảm tỷ lệ nước trong hỗn hợp bùn nạo vét sẽ giúp cho việc vận chuyển hỗn hợp sau tách nước thuận tiện hơn. Bùn nạo vét sau khi tách nước có thể tái sử dụng để san lấp, có thể được xử lý để làm vật liệu tái chế. Sáng chế đề cập đến thiết bị tách nước hai cấp dùng cho bùn nạo vét bao gồm: tang tách nước sơ cấp kiểu trọng lực, sàng rung tách nước thứ cấp và khung đỡ, sàng rung tách nước nằm trong tang tách nước, cả tang tách nước và sàng rung tách nước đều được đỡ bởi khung đỡ. Thiết bị tách nước hai cấp dùng cho bùn nạo vét theo sáng chế có thể lắp đặt trên bờ hoặc đặt trên một thiết bị nạo vét bùn dạng nổi để nạo vét bùn ở hồ/sông/biển.

    Công tác nạo vét bùn cát ở các cảng biển

    Nhóm nghiên cứu

  • Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích số 3242

    Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích số 3242

    Vừa qua, PGS. TS. Nguyễn Thị Kim Cúc, giảng viên ngành Công nghệ sinh học (CNSH) trường Đại học Thủy lợi và tập thể tác giả đã vinh dự và tự hào được Cục Sở hữu Trí tuệ cấp Bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích số 3242 về Quy trình nuôi trồng Đông trùng hạ thảo 100% hữu cơ với nguồn nguyên liệu bổ sung tảo xoắn và dịch chiết hoa quả cho sản phẩm có hàm lượng chất có hoạt tính sinh học (Cordycepine và Adenosine) cao.

    Trong quy trình này, giải pháp Thủy lợi (Kỹ thuật tưới hiện đại – công nghệ cao – tưới phun sương nhẹ) đã được nghiên cứu và áp dụng để tạo độ ẩm cao nhưng không ướt và ổn định (70-80%) trong suốt thời gian nuôi. Kỹ thuật tưới này đã được kết hợp nhịp nhàng với giải pháp CNSH (kỹ thuật và nguyên liệu) để tạo ra quy trình tối ưu cho ra sản phẩm Đông trùng hạ thảo hữu cơ 100% có giá trị cao.

    Công nghệ sinh học được hiểu là việc áp dụng các kỹ thuật, công nghệ trên đối tượng sinh vật nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ xã hội loài người. Vậy CNSH cần được đào tạo và nghiên cứu theo hướng nào trong Trường Đại học Thủy lợi? Tài nguyên nước sẽ là nguồn căn của ngành CNSH? Đây chính là suy nghĩ xuyên suốt tháng năm xây dựng đề án mở ngành CNSH tại Trường Đại học Thủy lợi. Nhóm tác giả đã thật may mắn được làm việc và cộng tác với những người Thầy, những người đồng nghiệp tốt để phát triển hướng phát triển  ngành của Trường gắn với thành tựu khoa học truyền thống của Nhà trường về Tài nguyên nước, đồng thời phù hợp với xu thế phát triển của ngành CNSH.

    NTKC

  • Phê duyệt Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

    Phê duyệt Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

    (ĐCSVN) – Mục tiêu chung của quy hoạch nhằm bảo đảm cấp nước, tiêu, thoát nước cho dân sinh, sản xuất nông nghiệp, các ngành kinh tế và bảo vệ môi trường; nâng cao năng lực phòng, chống, giảm thiệt hại do thiên tai, góp phần phát triển kinh tế – xã hội bền vững, bảo đảm an ninh nguồn nước, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển ở thượng nguồn các sông liên quốc gia.

    Ảnh minh họa 

    Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang vừa ký Quyết định số 847/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

    Phạm vi quy hoạch bao gồm trên toàn bộ phần diện tích đất liền và một số đảo đông dân cư, có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh (Vân Đồn, Cát Bà, Bạch Long Vỹ, Phú Quý, Lý Sơn, Phú Quốc, Côn Đảo), theo các vùng phát triển kinh tế-xã hội, theo các lưu vực sông.

    Mục tiêu chung của quy hoạch nhằm bảo đảm cấp nước, tiêu, thoát nước cho dân sinh, sản xuất nông nghiệp, các ngành kinh tế và bảo vệ môi trường; nâng cao năng lực phòng, chống, giảm thiệt hại do thiên tai, góp phần phát triển kinh tế – xã hội bền vững, bảo đảm an ninh nguồn nước, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển ở thượng nguồn các sông liên quốc gia.

    Cấp đủ nguồn nước phục vụ sinh hoạt

    Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, về cấp nước, phấn đấu cấp đủ nước phục vụ sinh hoạt; cấp và tạo nguồn cấp nước cho nông thôn, đô thị, công nghiệp, khu kinh tế…; đáp ứng nhu cầu nước cho hoạt động kinh tế ven biển, các đảo có đông dân cư. Chủ động nguồn nước tại chỗ cho sinh hoạt ở các khu vực bị ảnh hưởng của hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn; chú trọng một số vùng đặc biệt khó khăn về nguồn nước, vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn, lũ, ngập lụt, úng. Chủ động kiểm soát mặn, ngọt tại các vùng cửa sông, vùng ven biển.

    Cấp nước tưới chủ động cho diện tích lúa 2 vụ với tần suất đảm bảo 85%, riêng vùng đồng bằng sông Hồng đảm bảo 85-90%, đối với các vùng khó khăn về nguồn nước và giải pháp thủy lợi (miền núi, biên giới, ven biển, hải đảo) bảo đảm 75-85%; kết hợp các giải pháp tưới tiết kiệm nước.

    Cấp nước tưới đảm bảo cho 70% diện tích cây trồng cạn, nâng dần tần suất đảm bảo tưới cho rau màu lên 90%, cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm 90-95%. Đảm bảo cấp đủ nước cho gia súc, gia cầm với khoảng 10,5 triệu con. Cấp nước và thoát nước chủ động cho 1,35 triệu ha nuôi trồng thủy sản thâm canh tập trung.

    Đồng thời, bổ sung nguồn nước trên sông, kênh, hệ thống thủy lợi bị ô nhiễm, góp phần cải tạo môi trường, đảm bảo chất lượng nước đáp ứng yêu cầu sử dụng nước.

    Về tiêu, thoát nước, phấn đấu bảo đảm tiêu, thoát nước qua công trình thủy lợi cho khoảng 3,5 triệu ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp, thủy sản và diện tích đất đô thị, công nghiệp với tần suất mưa thiết kế 10%.

    Khắc phục hoàn toàn tình trạng ô nhiễm nguồn nước

    Tầm nhìn đến năm 2050 cấp đủ nguồn nước phục vụ sinh hoạt với mức đảm bảo 100%; cấp và tạo nguồn cấp nước cho khu vực nông thôn, đô thị, công nghiệp, khu kinh tế…; đáp ứng nhu cầu nước cho hoạt động kinh tế ven biển, các đảo có đông dân cư.

    Cấp nước tưới chủ động cho toàn bộ diện tích lúa được tưới với tần suất đảm bảo tối thiểu 85%, riêng vùng Đồng bằng sông Hồng đảm bảo 90% đến 95%, chủ động với các kịch bản cực đoan, nâng cao tỷ lệ tưới tiết kiệm nước.

    Khắc phục hoàn toàn tình trạng ô nhiễm nguồn nước trên các sông, kênh, hệ thống thủy lợi…

    Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phòng chống thiên tai và thủy lợi

    Để phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phòng chống thiên tai và thủy lợi, Quy hoạch đã đưa ra phương án chung và phương án phát triển cho từng vùng.

    Phương án chung gồm: Tạo nguồn, tích trữ, điều hòa nguồn nước; nâng cấp, cải tạo các hệ thống thủy lợi; khắc phục tình trạng hạ thấp mực nước; cấp nước sinh hoạt; tiêu, thoát nước và chống ngập úng; phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn; phòng, chống lũ, ngập lụt và các loại hình thiên tai khác.

    Cụ thể, nâng cấp, cải tạo các hệ thống thủy lợi: Nâng cao hiệu quả, năng lực của các công trình hiện có, trong đó tập trung nâng cấp công trình đầu mối, hệ thống kênh chính, bổ sung đầu tư mới các công trình thuộc hệ thống, tăng khả năng tự làm sạch, cải thiện chất lượng nước, phòng, chống ô nhiễm nguồn nước trong hệ thống công trình thủy lợi, bảo đảm khôi phục, duy trì và nâng cao năng lực phục vụ của các hệ thống thủy lợi, góp phần đồng bộ với kết cấu hạ tầng các ngành.

    Khắc phục tình trạng hạ thấp mực nước: Xây dựng đập dâng, công trình dâng nước trên dòng chính đối với các sông có biến động lớn về lòng dẫn, diễn biến hạ thấp đáy sông, suy giảm mực nước và nguy cơ xâm nhập mặn cao…

    Cấp nước sinh hoạt: Đầu tư xây dựng hệ thống các công trình cấp nước, tạo nguồn, dẫn nguồn cấp nước ổn định cho sinh hoạt, hoàn thiện các công trình cấp nước tập trung nông thôn, ưu tiên cho khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn, lũ, ngập lụt, úng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và các đảo. Nâng cấp, sửa chữa, kết hợp với quản lý, vận hành, duy tu bảo dưỡng nhằm phát huy hiệu quả, hoạt động bền vững của công trình; ưu tiên lấy nước từ hệ thống công trình thủy lợi, hồ chứa, đập dâng để bảo đảm nguồn nước ổn định cho công trình cấp nước sinh hoạt.

    Phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn: Đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp các công trình tạo nguồn nước, tích trữ nước, điều tiết, cân đối nước, cấp nước tại chỗ; sử dụng nước từ hệ thống thủy lợi, hồ thủy điện… phục vụ cấp nước sinh hoạt trong trường hợp xảy ra thiên tai, hạn hán, thiếu nước xâm nhập mặn; nghiên cứu, đầu tư xây dựng công trình trữ, hồ chứa nước phân tán phù hợp với đặc điểm từng vùng, triển khai đầu tư hồ trữ nước ngọt, công trình để trữ nước trên hệ thống sông, kênh rạch…

    Nguồn: https://dangcongsan.vn/thoi-su/

  • Thông báo nhắc hạn nộp bài Hội nghị Khoa học Thường niên – năm 2023

    Thông báo nhắc hạn nộp bài Hội nghị Khoa học Thường niên – năm 2023

    ​
    Hội nghị Khoa học thường niên năm 2023 dự kiến gồm các tiểu ban sau:   
    1. Công trình: Thuộc các lĩnh vực công trình thủy lợi, công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp, công trình giao thông, công trình biển, địa kỹ thuật và thủy điện; 
    2. Kỹ thuật Tài nguyên nước: Thuộc các lĩnh vực kỹ thuật tưới tiêu, quy hoạch và quản lý hệ thống các công trình thủy lợi, cấp nước phục vụ đa mục tiêu;
    3. Thủy văn – Thủy lực: Thuộc các lĩnh vực thủy văn, thủy lực, quản lý giảm nhẹ thiên tai và biến đổi khí hậu;
    4. Hóa & Môi trường: Thuộc các lĩnh vực môi trường, hoá và công nghệ sinh học;
    5. Công nghệ thông tin: Thuộc các lĩnh vực công nghệ thông tin và toán ứng dụng;
    6. Điện – Điện tử: Thuộc các lĩnh vực kỹ thuật điện, điện tử viễn thông, năng lượng, điều khiển và tự động hóa;
    7. Cơ khí: Thuộc các lĩnh vực cơ khí, kỹ thuật ô tô và kỹ thuật cơ điện tử;
    8. Khoa học xã hội: Thuộc các lĩnh vực phương pháp giảng dạy, phát triển kỹ năng, luật và lý luận chính trị;
    9. Kinh tế và Quản lý: Thuộc các lĩnh vực kinh tế, tài chính, du lịch và quản lý;
    10. Ngôn ngữ Anh: Thuộc các lĩnh vực về ngôn ngữ và phương pháp giảng dạy tiếng Anh.
    Chi tiết xem tại: http://hoithaokhcn.tlu.edu.vn/
  • Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền sáng chế

    Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền sáng chế

    Vừa qua, TS. Nguyễn Ngọc Linh và ThS. Nguyễn Văn Kựu – Khoa Cơ khí; PGS.TS. Nguyễn Thị Thế Nguyên – Khoa Hóa và Môi trường; PGS.TS. Lê Hải Trung – Khoa Công trình cùng các cộng sự của Trường Đại học Giao thông vận tải, Trường Đại học Xây dựng, Sở Khoa học và Công nghệ Tỉnh Thanh Hóa đã được Cục Sở hữu trí tuệ – Bộ Khoa học và Công nghệ trao Bằng độc quyền sáng chế về Hệ thống thiết bị ép kiện và đóng bao chất thải rắn sinh hoạt và quy trình ép kiện và đóng bao chất thải rắn sinh hoạt sử dụng thiết bị này.

    Bằng độc quyền sáng chế số 36099 – Hệ thống thiết bị ép kiện và đóng bao chất thải rắn sinh hoạt và quy trình ép kiện và đóng bao chất thải rắn sinh hoạt sử dụng thiết bị này.

    Số đơn 1-2021-05945.

    Cấp theo Quyết định số 31641/QĐ-SHTT. ngày 18/5/2023

    Có thể thấy rằng, nhiều năm qua công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại các địa phương chưa được quan tâm đúng mức. Riêng việc thu gom, vận chuyển rác giữa thành thị và nông thôn cũng chưa có sự thống nhất cách thức triển khai sao cho hiệu quả. Nhiều năm qua, không ít doanh nghiệp đã đề xuất muốn xây dựng các nhà máy xử lý rác có công nghệ hiện đại xong đến nay, chôn lấp lộ thiên và đốt không qua xử lý vẫn là giải pháp được sử dụng chủ yếu tại các khu xử lý rác. Điều này cho thấy, Việt Nam còn thiếu định hướng, lựa chọn được công nghệ xử lý phù hợp cũng như mô hình hoạt động hiệu quả. Để xử lý các bãi rác lộ thiên hiện nay là một vấn đề cấp bách do rác để lâu ngày ngập trong nước gây ô nhiễm không khí và nguồn nước ngầm xung quanh, giải pháp đặt ra là ép rác thành các kiện đóng vào bao đưa đi chôn lấp đồng thời tách được nước ra khỏi rác là một giải pháp tối ưu. Kiện rác được đóng bao chôn lấp ở các bãi rác được thiết kế đúng tiêu chuẩn sẽ giảm thiểu được ô nhiễm môi trường xung quanh.

    Nghiên cứu này tập trung vào việc nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ đóng bao-tách nước và các giải pháp phục vụ quá trình vận chuyển, lưu trữ và đốt chất thải rắn sinh hoạt có thể cháy, sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế – kỹ thuật hiện có của các đơn vị xử lý rác ở trên cả nước. Theo đó, quy trình công nghệ đóng bao-tách nước được đề xuất đặt trọng tâm vào hệ thống thiết bị không phức tạp về mặt công nghệ, thuận tiện trong việc chế tạo, vận hành và bảo trì, có tính cơ động cao để đáp ứng điều kiện mặt bằng thi công xử lý hạn chế, cũng như có thể nhân rộng để tăng công suất xử lý theo yêu cầu trong thời gian ngắn.

    Phòng KHCN&HTQT

  • Hoạt động sinh hoạt học thuật sôi nổi tại Trường Đại học Thủy lợi

    Hoạt động sinh hoạt học thuật sôi nổi tại Trường Đại học Thủy lợi

    Vừa qua, bộ môn Quản trị kinh doanh – khoa Kinh tế và Quản lý đã tổ chức sinh hoạt khoa học cho 04 giảng viên, nội dung buổi sinh hoạt nhằm trình bày và trao đổi về các kết quả và định hướng nghiên cứu. Toàn bộ môn đã được nghe các cô giáo trình bầy về các nghiên cứu cùa mình:

    – TS. Nguyễn Thuỳ Linh trình bày về “Sự hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ thuế điện tử: nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”. Nghiên cứu này nhằm đánh giá và đo lường mức độ tác động của một số nhân tố đến sự hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ Thuế điện tử, từ đó sẽ giúp cho cơ quan quản lý hoàn thiện, nâng cao chất lượng dịch vụ, hiện đại hóa ngành thuế.

    – TS. Hoàng Thị Ba  “Quản trị quan hệ khách hàng ngành chè xuất khẩu: Kinh nghiệm thế giới và bài học rút ra đối với các doanh nghiệp Viêt Nam”, nghiên cứu đưa ra những lý luận về quản trị quan hệ khách hàng, những khó khăn trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng của ngành chè xuất khẩu, giải pháp khắc phục khó khăn và một số bài học kinh nghiệm trong quản trị quan hệ khách hàng của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam.

    – TS. Đặng Thị Minh Thùy “Sự gắn kết của khách hàng với các cộng đồng thương hiệu trực tuyến – Nghiên cứu tại Việt Nam” chỉ ra ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu học đến sự gắn kết của khách hàng Việt Nam với các cộng đồng thương hiệu trực tuyến.

    – TS. Hoàng Thị Thu Hiền trình bày nghiên cứu về “Lý luận về rào cản kỹ thuật, đề xuất một số giải pháp vượt rào cản cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản”. Nghiên cứu đưa ra các lý luận về rào cản kỹ thuật, các rào cản kỹ thuật của Mỹ và EU đối với rau quả, từ đó trình bày các giải pháp vượt rào cản của các doanh nghiệp xuất khẩu rau quả.

    Buổi sinh hoạt học thuật đã giúp các giảng viên có cái nhìn đa chiều, bổ sung thêm kiến thức mới thuộc nhều lĩnh vực khác nhau. Các thành viên trong hội đồng đều đánh giá cao những kết quả nghiên cứu nói trên.

    Bộ môn Quản trị kinh doanh – Khoa Kinh tế và Quản lý

  • Nam sinh “con nhà nông” thiết kế bàn tay robot cho người liệt vừa chơi game, vừa chữa bệnh

    Với sản phẩm “Thiết kế mô hình bàn tay robot để phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân liệt một bàn tay” dưới hướng dẫn của TS. Ngô Quang Vĩ và PGS.TS Nguyễn Trọng Thắng, em Dương Văn Vũ, sinh viên khoa Điện – Điện tử, Trường Đại học Thủy lợi mới đây đã xuất sắc giành giải Nhất nghiên cứu khoa học cấp trường.

    Thiết kế

    Dương Văn Vũ với sản phẩm bàn tay robot. Ảnh: Tào Nga

    “Bàn tay robot” – vừa chơi game, vừa chữa bệnh

    Chia sẻ với PV báo Dân Việt sau khi nhận giải Nhất nghiên cứu khoa học với sản phẩm bàn tay robot, Dương Văn Vũ bày tỏ: “Em rất vui với kết quả này và đây là động lực cho em hoàn thiện sản phẩm hơn nữa để ứng dụng hữu ích hơn cho người bệnh”. 

    Vũ cho biết, nghiên cứu mô hình với mục tiêu mang đến cho người bệnh một thiết bị phục hồi chức năng bàn tay tại nhà. Bàn tay này có khả năng gập duỗi các ngón tay linh hoạt theo nhiều mức độ khác nhau bằng công nghệ xử lý ảnh. Bên cạnh đó, sản phẩm còn phát triển thêm các bài tập thụ động và các bài tập có mục tiêu.

    “Ý tưởng xuất phát từ trường hợp thực tế của thầy giáo hướng dẫn em có người cháu bị bẩm sinh khó vận động bàn tay. Hai thầy trò đã quyết định nghiên cứu sản phẩm để phục hồi chức năng cho những người như cháu. Trên thị trường đã có các sản phẩm tương tự nhưng nhược điểm là trẻ con rất chán với những bài tập đơn điệu và đeo vào nóng nên đòi cởi ra không chịu tập.

    Khi đó em nghĩ trẻ con rất thích chơi game nên đã chuyển hóa các bài tập thành game. Người bệnh sẽ chủ động luyện tập chứ không còn bị ép. Từ lúc lên ý tưởng đến phát triển sản phẩm, em thực hiện trong vòng 6 tháng”, Vũ kể.

    Thiết kế

    Vũ đang giới thiệu về sản phẩm. Ảnh: Tào Nga

    Theo chia sẻ của Vũ, sản phẩm hiện đang phát triển 2 game là bắt bóng dành cho trẻ 2-3 tuổi và xếp hình dành cho trẻ 5-6 tuổi. Thiết bị này không dây nên sử dụng độc lập. Người lớn thì được lập trình các bài tập bình thường. Bàn tay cũng có nhiều kích cỡ linh hoạt cho mọi người đều sử dụng được.

    “Sắp tới em sẽ nghiên cứu phát triển thêm cho sản phẩm có thể giúp bác sĩ thăm khám bệnh từ xa thay vì bệnh nhân phải đến bệnh viện. Tính năng này hiện đã có nhưng khoảng cách chưa được xa. Ngoài ra em muốn tích hợp sản phẩm có thể theo dõi tình trạng sức khỏe và không chỉ phục hồi bàn tay mà cả cánh tay”, Vũ cho hay.

    Gây ấn tượng với bàn tay robot ứng dụng trong y tế này, trước đây Vũ cũng có 2 đề tài về cánh tay robot ứng dụng trong dây chuyền sản xuất công nghiệp.

    Thiết kế

    Sinh viên Dương Văn Vũ, lớp TĐH1, Khoa Điện – Điện tử trình bày đề tài đạt giải Nhất mang tên: Nghiên cứu thiết kế mô hình bàn tay robot để phục hồi chức năng cho bệnh nhân liệt 1 bàn tay. Ảnh: NVCC

    Chàng trai mê nghiên cứu khoa học từ cấp 2

    Vũ sinh ra trong gia đình làm nông, một mình mẹ nuôi 3 chị em Vũ ăn học giỏi giang. Chị của Vũ vừa tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại thương. Vũ kể, từ năm cấp 2 em đã có đam mê về điện. Lên cấp 3 và đại học, em có cơ hội được thực hành nhiều hơn. Tuy nhiên, do mải mê làm các mô hình mà Vũ từng bỏ bê việc học năm cấp 3, học lệch, chỉ giỏi môn Vật lý. Khi thi đại học, Vũ đã phải dồn sức học ôn các môn còn lại để trúng tuyển vào Trường Đại học Thủy lợi. 

    Hiện tại Vũ đã biết cân bằng hơn giữa việc học và tham gia nghiên cứu khoa học. Ngược lại, Vũ thấy rằng việc nghiên cứu khoa học giúp cho việc học trở nên dễ dàng hơn. 

    Thiết kế

    GS.TS Nguyễn Trung Việt, Phó hiệu trưởng trao thưởng cho các đề tài xuất sắc đạt giải Nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2023. Ảnh: NVCC

    Được biết, năm lớp 12 khi dịch Covid-19 bùng phát, Vũ đã nghiên cứu làm ra máy rửa tay sát khuẩn kèm đo nhiệt độ được sử dụng tại chính ngôi trường mình đang học là Trường THPT Yên Phong, Bắc Ninh. Cũng trong năm lớp 12, Vũ gây ấn tượng với nghiên cứu máy bay không người lái để phục vụ cho việc phun thuốc trừ sâu. 

    Khi được hỏi về kinh phí đã dành cho nghiên cứu khoa học, Vũ tiết lộ: “Em không tốn nhiều tiền mà tận dụng tháo bộ điều khiển từ các dự án từ trước đã làm. Khi lên đại học, em có đi làm thêm nên có tiền để chủ động mua thiết bị nghiên cứu chứ không phải tháo lắp ra nữa”.

    “Hiện tại em muốn phát triển về mảng robot và sau đó sẽ học lên thạc sĩ”, Vũ chia sẻ thêm.

    Đánh giá về các công trình nghiên cứu khoa học, GS.TS Nguyễn Trung Việt, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi cho biết: Năm học 2022-2023 phong trào nghiên cứu khoa học sinh viên Trường Đại học Thủy lợi tăng cao khi đã nhận được kỷ lục với 263 đề tài. Các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên đã tiếp cận với nhiều vấn đề khoa học công nghệ mới, sản phẩm có khả năng ứng dụng cao. Phần lớn các báo cáo có chất lượng tốt, khả năng thuyết trình của sinh viên rất tự tin. Năm nay có 10 đề tài xuất sắc được trao giải và Dương Văn Vũ là sinh viên đạt giải cao nhất. 

    Theo Dân Việt

  • Thiếu điện – Cắt điện – Tiết kiệm nước

    Thiếu điện – Cắt điện – Tiết kiệm nước

    Vì ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, tình trạng nắng nóng, hạn hán, thiếu nước đã làm cho các hồ thủy điện ảnh hưởng nghiêm trọng. Đây là dấu hiệu đáng lo ngại cho sự thiếu nước sản xuất, sinh hoạt cũng như việc sản xuất điện sẽ gặp nhiều khó khăn khi mà trong thời gian tới, nắng nóng còn gia tăng. Việc đưa ra các giải pháp tức thời và dài hạn để nhằm giảm mạnh việc tiêu hao lượng nước một cách lãng phí là rất cần thiết lúc này. Trường Đại học Thủy lợi đã góp phần không nhỏ trong công tác phát triển thủy điện của nước ta.

    Với nhà máy thủy điện, việc duy trì mực nước phù hợp là cực kỳ quan trọng. Với các nhà máy ví dụ như các hình dưới (hình 1): khi mực nước hồ về mực nước chết (MNC) thì:

    1. Công suất khả dụng (công suất có thể phát được) chỉ còn (56 ÷ 65)%. Lúc này, nếu có nhiều nước cũng không thể phát công suất lớn được.
    2. Tiêu hao nước tăng cao (167 ÷ 186) % (để phát được 1kWh ở mực nước thấp cần lượng nước gần 2 lần so với khi ở mực nước cao).
    3. Việc vận hành trong điều kiện cột nước thấp sẽ phát sinh các điều kiện làm việc bất lợi đối với thiết bị của nhà máy thủy điện.

     

    Hình  1 – Biểu đồ đặc tính năng lượng của nhà máy thủy điện (đường đỏ – công suất phát; đường xanh: mức độ tiêu hao nước)

    Các giải pháp có thể thực hiện:

    1. Giải pháp tức thời: tiết kiệm năng lượng

    • Các hộ dùng điện sử dụng điện tiết kiệm
    • Các nhà thủy điện: xác định chế độ phát điện tốt khi mực nước hồ thấp (tiết kiệm nước)

    2. Các giải pháp dài hạn:

    Với mục tiêu NetZero vào 2050, khi đó tỷ trọng năng lượng tái tạo trong hệ thống tăng cao thì vai trò của thủy điện lại càng đặc biệt quan trọng (khi không có các nguồn lưu trữ khác). Cần có giải pháp dài hạn trong vận hành các công trình hiện có và phát triển các công trình thủy điện mới:

    • Xác định lại chế độ vận hành của các nhà máy thủy điện khi tỷ trọng năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, …) trong hệ thống điện tăng cao;
    • Đánh giá hiện trạng chất lượng vận hành của các nhà máy thủy điện (đánh giá mức độ hiệu quả trong sử dụng nước), từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng vận hành;
    • Nâng cao khả năng dự báo thủy văn trong việc lập kế hoạch phát điện cho các nhà máy thủy điện (dài hạn và ngắn hạn);
    • Áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong việc nâng cao chất lượng vận hành các nhà máy thủy điện;
    • Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án thủy điện tích năng. Tăng công suất quy hoạch của các nhà máy lưu trữ năng lượng, đặc biệt là các nhà máy thủy điện tích năng.

    3. Các giải pháp TLU đã thực hiện:

    • Nghiên cứu chế độ vận hành hợp lý (tối ưu, cận tối ưu) cho các nhà máy thủy điện, bậc thang nhà máy thủy điện
    • Tập huấn nâng cao chất lượng vận hành phát điện cho các nhà máy thủy điện (hình 2)
    • Xây dựng các công cụ hỗ trợ vận hành phát điện, chuyển giao cho các nhà máy thủy điện (Phần mềm: Vận hành tối ưu trạm thủy điện) (hình 3, 4)
    • Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác vận hành các nhà máy thủy điện. (hình 5)

    Hình  2 – Trường Đại học Thủy lợi tổ chức tập huấn nâng cao chất lượng vận hành phát điện cho các nhà máy thủy điện

    Hình  3 – Cán bộ vận hành theo dõi chỉ dẫn vận hành phát điện từ phần mềm Vận hành tối ưu trạm thủy điện

    Hình 4 – Kết quả ứng dụng sản phẩm khoa học công nghệ của Trường Đại học Thủy lợi trong vận hành nhà máy thủy điện

    Hình  5 – Tập thể giảng viên Bộ môn Thủy điện và năng lượng tái tạo – Trường Đại học Thủy lợi

    TS. Nguyễn Đức Nghĩa – Bộ môn Thủy điện và Năng lượng tái tạo

     Khoa Công trình – Trường Đại học Thủy lợi

  • Quản lý chất thải nhựa ngành Nông nghiệp, thực trạng và giải pháp

    Quản lý chất thải nhựa ngành Nông nghiệp, thực trạng và giải pháp

    Nông nghiệp và phát triển nông thôn là một trong những ngành kinh tế quan trọng của quốc gia. Các hoạt động sản xuất nông nghiệp góp phần thiết yếu trong bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định đời sống và an sinh xã hội. Tuy nhiên, hoạt động này cũng tạo áp lực lớn cho môi trường, trong đó có vấn đề chất thải nhựa trong ngành. Tổng lượng chất thải rắn (bao gồm chất thải nhựa) phát sinh từ trồng trọt khoảng 661,5 nghìn tấn/năm (gồm 550 nghìn tấn ni lông, 77,49 nghìn tấn vỏ bao bì phân bón và 33,98 nghìn tấn vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật); chất thải rắn phát sinh từ chăn nuôi là 67,93 triệu tấn, trong đó riêng chất thải nhựa 77 nghìn tấn từ nhựa vỏ bao bì thức ăn; thủy sản là 880 nghìn tấn bùn thải và 273 nghìn tấn chất thải nhựa từ bao bì thức ăn, vỏ thuốc thú y và các loại chất rắn khác.. Chính từ hiện trạng trên, cần thiết thúc đẩy các giải pháp hành động giảm thiểu chất thải nhựa ngành nông nghiệp một cách có hệ thống.

    Theo ông Phùng Đức Tiến – Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các giải pháp này phải huy động nguồn lực của tất cả các bên nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động sản xuất, hướng tới phát triển nền sản xuất nông nghiệp có trách nhiệm, hiện đại, hiệu quả và bền vững. Qua đó, góp phần xây dựng nền kinh tế nông nghiệp tuần hoàn, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

    Thúc đẩy mô hình thu gom và tái chế hiệu quả

    Hiện nay, một số giải pháp đang triển khai tại nhiều địa phương, giúp giảm thiểu, thu gom, phân loại, tái sử dụng và tái chế chất thải trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp.

    Điển hình là mô hình thu gom rác thải nhựa trên tàu cá, kết nối với cơ sở thu hồi vật liệu tại Quy Nhơn (Bình Định), thuộc Dự án “Nhân rộng mô hình cộng đồng quản lý chất thải sinh hoạt và nhựa tại 5 thành phố” được tài trợ bởi UNDP Việt Nam và Đại sứ quán Nauy tại Việt Nam. Chất thải nhựa được tái chế thành các sản phẩm như: viên nén nhiêu liệu (RDF), các sản phẩm tái chế như: ngói lợp, gạch, hàng rào và các sản phẩm khác.

    Gạch tái chế từ cất thải nhựa- Dự án UNDP _DWP5C giai đoạn 2  (Ảnh: Phương Lan)

    Cụ thể, hoạt động gom rác thải nhựa trên tàu cá, kết nối với cơ sở thu hồi vật liệu giúp tận dụng lực lượng ngư dân thành thành viên trong tổ thu gom rác trên biển, giảm thiểu lượng chất thải nhựa trôi nổi, đem lại thu nhập cũng như gia tăng giá trị kinh tế cho nguồn chất thải có thể tái chế.

    Hay như mô hình chuyển đổi phao xốp trong nuôi trồng thủy sản sang vật liệu nổi theo quy chuẩn tại Quảng Ninh. Hoạt động này hướng tới việc thay thế dần vật liệu nhựa dùng một lần, khó thu gom và tái sử dụng bằng vật liệu đã tái chế, thân thiện với môi trường…

    Cán bộ Hải đội Biên phòng 2 BĐBP Quảng Ninh cùng đoàn viên thanh niên địa phương thu gom rác thải nhựa, phao xốp từ hoạt động nuôi trồng thủy sản trên biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Ảnh: Internet

    Ngoài ra, An Phát Bioplastics, doanh nghiệp số 1 Đông Nam Á trong lĩnh vực sản xuất bao bì màng mỏng đã mở rộng nghiên cứu, phát triển, sản xuất dòng sản phẩm sinh học phân hủy hoàn toàn, thân thiện với môi trường như: Túi sinh học phân hủy hoàn toàn, màng bọc thực phẩm, dao-thìa-nĩa sinh học phân hủy hoàn toàn Không chỉ vậy, sản phẩm màng nông nghiệp, lưới đánh cá từ nguyên liệu phân hủy sinh học AnBio cũng được nghiên cứu, sản xuất thành công đem lại giải pháp xanh cho ngành nông – ngư nghiệp.

    ​

    Túi lưới giữ rác thải nhựa trên tàu cá (Ảnh: Internet)

     Để thực hiện thành công kế hoạch quốc gia về giảm thiểu chất thải nhựa trong ngành nông nghiệp, bà Ramla Khalidi – Trưởng Đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam khuyến nghị Việt Nam cần đẩy nhanh các giải pháp hiệu quả hướng tới kế hoạch quốc gia.

    Việt Nam cần xây dựng dữ liệu cơ sở về ô nhiễm nhựa và chất thải nhựa, cũng như hệ thống giám sát khả thi từ cấp quốc gia đến cấp tỉnh để đánh giá quá trình giảm thiểu chất thải nhựa trong lĩnh vực nông nghiệp. Đồng thời, thúc đẩy những mô hình thu gom và tái chế hiệu quả, sử dụng vật liệu đóng gói thay thế cho nhựa dùng một lần trên đồng ruộng; tập huấn người dân và các bên liên quan trong nông nghiệp về tác động đến môi trường của nhựa cũng như sự sẵn có của các giải pháp thay thế.

    Nguyễn Thị Phương Lan