Tác giả: Data Old

  • Kế hoạch Tổ chức lễ khai giảng năm học 2006-2007






    BỘ NN & PTNT
    Trường Đại học Thủy Lợi


    ——————

    Số  870  ĐHTL/QLSV/KH



    Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    — ***—
    Hà Nội, ngày 06 tháng 9 năm 2006



    KẾ HOẠCH


    Tổ chức lễ khai giảng năm học 2006-2007


               


    Theo kế hoạch năm học, lễ khai giảng năm học 2006-2007 tại Hà Nội sẽ được tổ chức vào ngày 18/09/2006 (Cơ sở 2 có kế hoạch riêng). Đây là công việc quan trọng khởi đầu cho năm học mới và là ngày hội của toàn thể Thầy cô giáo, cán bộ công nhân viên và sinh viên Nhà trường, Ban giám hiệu lên kế hoạch và phân công cụ thể như sau:


    1. Thời gian khai giảng:     Buổi sáng, ngày 18/9/2006 (thứ 2)


    2. Địa điểm:                         Hội trường T45



    3. Thành phần:


    – Khách mời (Phòng HC Tổng hợp trình BGH và mời)


    – Đảng ủy, Ban giám hiệu


    – Công đoàn, Đoàn TN, Hội sinh viên, TTGD


    – Các Phòng, Khoa, Ban, Trung tâm, Công ty, Văn phòng


    – Toàn thể các Thầy cô giáo, Cán bộ CNV Nhà trường


    – Bí thư, Phó bí thư các Liên chi; Lớp trưởng các lớp; Bí thư các Chi đoàn trong toàn trường.


    – Toàn thể sinh viên khóa 48 chính quy, 48 Cao đẳng, Dự bị 49 và sinh viên các lớp Tại chức khóa 41.



    4. Phân công chuẩn bị và thực hiện:


    – Phòng Hành chính Tổng hợp: Chuẩn bị thư của Chủ tịch nước; Lên kế hoạch chi tiết về khách mời trình Ban giám hiệu duyệt và tiến hành gửi giấy mời, đăng lịch; Chuẩn bị chương trình, khai mạc tuyên bố lý do giới thiệu Đại biểu, bế mạc và dẫn chương trình buổi lễ; Lập kế hoạch và kinh phí đón tiếp khách mời trình Ban giám hiệu duyệt và thực hiện; Bố trí nước phục vụ khai giảng; Theo dõi nhắc nhở các đơn vị thực hiện theo kế hoạch của Ban giám hiệu.


    – Phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên: Trang trí khánh tiết ngày khai giảng, Hội trường T45, lên sơ đồ vị trí khách mời, cán bộ giáo viên và vị trí các lớp sinh viên dự buổi lễ; Chuẩn bị diễn văn Khai giảng của Ban giám hiệu, quyết định thành lập các lớp khóa 48 Chính quy, Cao đẳng và khóa 41 Tại chức; Chuẩn bị danh sách, quyết định, giấy khen và phần thưởng cho các sinh viên khóa 48 đạt điểm cao; Chịu trách nhiệm về âm thanh, ánh sáng phục vụ buổi lễ; Phối hợp chuẩn bị chương trình văn nghệ chào mừng ngày khai giảng; Liên hệ mời và đón tiếp Đài truyền hình, báo chí về đưa tin ngày khai giảng; Chuẩn bị trống Khai giảng; Bố trí và mua hoa trang trí Hội trường, hoa tặng sinh viên được khen thưởng.


    – Phòng Đào tạo:  Chuẩn bị báo cáo kết quả tuyển sinh 2006.


    – Phòng Tài vụ: lập dự trù kinh phí trình BGH duyệt, thực hiện theo dự toán được duyệt.


    – Ban quản lý ký túc xá: tổ chức vệ sinh sạch sẽ khu Ký túc xá, đốc thúc sinh viên nội trú đi dự lễ khai giảng đầy đủ, đúng giờ và đúng thành phần.


    – Phòng Quản trị: làm vệ sinh sạch sẽ, bố trí 2 dãy bàn đầu Hội trường (lấy bàn ở SĐH), chuẩn bị đủ ghế (tổng cộng khoảng 1200 ghế) tại Hội trường T45; Vệ sinh khu vực trường, đặc biệt là khu vực sân vườn nhà hành chính và cổng chính; Làm việc với chi nhánh điện Đống đa để đảm bảo phương án cấp điện ngày khai giảng; Bố trí tổ giảng đường trực để phục vụ học bù theo lịch.


    – Trạm y tế: chuẩn bị thuốc và trực y tế ngày khai giảng tại phòng làm việc.


    – Phòng Bảo vệ: lên phương án đảm bảo trật tự an ninh trong toàn bộ khu vực trường.


    – Đoàn Thanh niên và Hội sinh viên: Lên kế hoạch, triển khai chương trình văn nghệ chào mừng khai giảng; Chỉ đạo và bố trí Thanh niên tình nguyện tham gia công tác tổ chức; Tổ chức các hoạt động văn thể chào mừng.


    – Ban văn thể: Cùng với Đoàn Thanh niên lên kế hoạch, triển khai chương trình văn nghệ chào mừng khai giảng


    5. Điều chỉnh lịch học:


    Nhà trường mời tất cả các Thầy, Cô giáo và đại diện các lớp trong toàn trường đến dự buổi khai giảng năm học mới, vì vậy các lớp học buổi sáng thứ 2 ngày 18/9/2006 sẽ nghỉ học và học bù vào sáng thứ 7 ngày 23/9/2006.


                Nhận được kế hoạch này yêu cầu các đơn vị khẩn trương xây dựng kế hoạch chi tiết, chỉ đạo và phối hợp với các đơn vị liên quan để thực hiện nghiêm túc.









    Nơi nhận:


    – ĐU, BGH



    – CĐ, ĐTN, HSV, Ban văn thể
    – Các P, K, B, TT,  TTGD


    – Lưu VT, P7


           HIỆU TRƯỞNG

     


                 (Đã ký)


     


     GS.TS Đào Xuân Học

  • LŨ LỤT Ở MIỀN TRUNG – Nỗi lo không chỉ của riêng ai

    LŨ LỤT Ở MIỀN TRUNG – Nỗi lo không chỉ của riêng ai






    Báo cáo đề tài tại Hội trường 223-ĐH Thủy Lợi

     

    Miền Trung đẹp là thế, anh hùng là thế nhưng chịu nhiều sự khắc nghiệt của thời tiết mà ảnh hưởng lớn nhất là lũ lụt, hạn hán. Nhìn chung năm nào thiên tai lũ lụt cũng xảy ra ở miền Trung, năm thì ở tỉnh này, năm thì ở tỉnh khác, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của cải của nhân dân và làm ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của cộng đồng.


    Chính phủ Việt Nam với sự giúp đỡ của các tổ chức Quốc tế đã xây dựng và soạn thảo ‘Chiến lược và chương trình hành động quốc gia giảm nhẹ thiên tai ở Việt Nam” trong đó có đề cập đến việc giảm nhẹ thiên tai lũ lụt ở khu vực miền Trung. Thêm vào đó đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học từ nguồn vốn của Chính phủ về lũ bão và giảm nhẹ thiên tai lũ lụt ở miền Trung. Tuy nhiên đây là một vấn đề lớn, phức tạp, đòi hỏi phải nghiên cứu từ nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau của vấn đề, vì vậy Bộ Nông nghiệp và PTNT đã đầu tư và lựa chọn Trường Đại học Thủy Lợi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu giải pháp thoát lũ cho một số sông lớn miền Trung nhằm bảo vệ các khu kinh tế tập trung, các khu dân cư ven sông, dọc quốc lộ”.  Đây là một đề tài nghiên cứu đặc điểm lũ lụt miền Trung tìm ra các giải pháp nhằm giảm thiểu thiên tai lũ lụt giúp phát triển kinh tế – xã hội. Đề tài đã nghiên cứu và chọn hai lưu vực sông Thạch Hãn – Quảng Trị và sông Kôn-Hà Thanh tỉnh Bình Định để nghiên cứu điển hình.


    Ban chủ nhiệm đề tài đã đưa ra những mục tiêu chính gồm: Đánh giá thực trạng thoát lũ các l­ưu vực sông vùng nghiên cứu kể cả ven sông và đ­ường quốc lộ 1A. Xác định đư­ợc nguyên nhân ngập lụt, chậm lũ khu vực nghiên cứu; Kiến nghị giải pháp thoát lũ ổn định lòng sông ; Kiến nghị mức độ chống lũ ; Kiến nghị giải pháp khắc phục, giảm nhẹ ngập lụt khu dân cư và khu kinh tế tập trung, ven sông, ven đường ­quốc lộ 1A ;  Dự báo ngập lụt, xói bồi.


    PGS.TS Lê Văn Nghinh – Trường Đại học Thủy lợi – Chủ nhiệm đề tài cùng với các đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực miền Trung; tính toán, phân tích đặc điểm mưa lũ khu vực miền Trung trong đó có nguyên nhân hình thành mưa lũ, các hình thế thời tiết gây mưa lớn sinh lũ; nghiên cứu ứng dụng các mô hình toán thủy văn thủy lực cho 2 lưu vực sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị và sông Kôn – Hà Thanh, tỉnh Bình Định để xem xét các phương án tiêu thoát lũ bằng biện pháp công trình, để xây dựng các bản đồ ngập lụt ứng với các tần suất mưa lũ khác nhau; Đồng thời tiến hành nghiên cứu các phương pháp dự báo thủy văn (cả các phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại) để đánh giá lựa chọn và xây dựng phương án và quy trình dự báo lũ thích hợp cho các sông lớn miền Trung.


    Các phương pháp nghiên cứu chung mà nhóm nghiên cứu sử dụng bao gồm : Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, thông tin; Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu, thông tin, lập ngân hàng dữ liệu ; Phương pháp mô hình hoá (nghiên cứu ứng dụng các mô hình thủy văn, thủy lực, mạng trí tuệ nhân tạo) ; Phương pháp ứng dụng kỹ thuật Viễn thám và Hệ thông tin Địa lý và Phương pháp chuyên gia đánh giá v.v….


    Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và tính toán đó, Đề tài đã tiến hành xem xét và phân tích các giải pháp phòng chống lũ lụt được đưa ra trong ‘‘Chiến lược và chương trình hành động quốc gia giảm nhẹ thiên tai ở Việt Nam’’ đối với miền Trung.


    Thế giới cũng thường xuyên phải đối diện với các thảm hoạ về lũ lụt, điển hình như Ấn Độ, Srilanca, Hoa Kỳ,…  Việc nghiên cứu các giải pháp phòng lũ lụt được đặc biệt quan tâm và hướng tiếp cận của họ cũng là sự kết hợp giữa các giải pháp công trình và phi công trình. Các giải pháp công trình thường được sử dụng như hồ chứa, đê điều, cải tạo lòng sông… được sử dụng rất nhiều, các giải pháp phi công trình như xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt, quy hoạch trồng rừng và bảo vệ rừng, xây dựng và vận hành các phương án phòng tránh lũ lụt và di dân khi cần khi có thông tin dự báo và cảnh báo chính xác được sử dụng cũng rất nhiều. Để làm cơ sở cho việc lựa chọn và kết hợp giải pháp nào trong số các giải pháp công trình và phi công trình, họ cũng thường sử dụng các phương pháp như đã nêu trên, đặc biệt là sử dụng phương pháp mô hình hoá. Phòng chống thiên tai lũ lụt đã trở thành một sự nghiệp nghiên cứu thường xuyên ở các nước này, không những thế, nó còn lôi kéo sự tham gia của nhiều quốc gia thể hiện ở việc hình thành các trung tâm nghiên cứu lớn trong khu vực và trên thế giới phòng chống thiên tai như Trung tâm Dự phòng thiên tai Châu Á (ADPC), Trung tâm Giảm nhẹ thiên tai Châu Á (ADRC)…


           Ở Việt Nam, phòng chống thiên tai nói chung và phòng chống lũ lụt nói riêng cho các tỉnh miền Trung được Chính phủ đặc biệt quan tâm và đầu tư rất nhiều kinh phí cho công tác nghiên cứu. Các nghiên cứu về vấn đề này có thể kể đến là ‘Chiến lược và chương trình hành động quốc gia giảm nhẹ thiên tai ở Việt Nam’ do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc và Bộ NN & PTNT thực hiện, ‘Nghiên cứu phát triển và quản lý tài nguyên nước quốc gia cho 14 lưu vực lớn của Việt Nam’ trong đó có quy hoạch phòng lũ cho một số tỉnh Miền Trung do Bộ NN & PTNT và JICA thực hiện, một số đề tài NCKH cấp Nhà nước, cấp bộ, cấp tỉnh (ngân sách tỉnh) liên quan đến xây dựng các phương án phòng lũ, xây dựng bản đồ ngập lụt cho các tỉnh miền Trung cũng đã được thực hiện như : Dự án ‘Định hướng Quy hoạch lũ Miền Trung’ làm từ tháng 8 năm 1996 đến tháng 12 năm 2001, Đề tài cấp nhà nước: ‘Nghiên cứu dự báo chống xói lở bờ sông miền Trung’ thực hiện từ đầu năm 2000 đến cuối 2002, Đề tài cấp bộ: ‘Nghiên cứu xác định khẩu độ thoát lũ hợp lý của các công trình giao thông thuỷ lợi thuộc lưu vực sông Thu Bồn  (Quảng Nam)’  hoàn thành năm 2001 v.v…


                Kết quả đạt được từ những đề tài trên đã có đóng góp đáng kể vào công tác phòng chống lũ lụt ở miền Trung ở những cấp độ và khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, phòng chống lụt ở nước ta vẫn cần phải tiếp tục được nghiên cứu vì sự biến đổi của khí hậu toàn cầu, các hiện tượng khí hậu cực đoan vẫn thi nhau hoành hành sinh mưa lũ lớn gây ngập lụt ở các tỉnh miền Trung hàng năm.  Những đề tài nghiên cứu như thế này vẫn sẽ rất cần thiết được đầu tư thực hiện để góp phần vào thực tiễn công tác phòng chống thiên tai của nước ta nói chung và phòng chống lũ lụt ở miền Trung nói riêng.


                Riêng với đề tài NCKH cấp Bộ “Nghiên cứu giải pháp thoát lũ cho một số sông lớn miền Trung nhằm bảo vệ các khu kinh tế tập trung, các khu dân cư ven sông, dọc quốc lộ”  được thực hiện cho hai sông Kôn – Hà Thanh – Bình Định và sông Thạch Hãn – Quảng Trị làm đại diện, sau một thời gian nghiên cứu đã rút ra những kết luận sau:


    – Thứ nhất sông suối miền trung không lớn, ngắn, sông dốc, vùng đồng bằng nhỏ hẹp. Sông không có phần trung lưu hoặc có nhưng không đáng kể, phần đồng bằng sông phân tách thành nhiều nhánh nhỏ nên khi xảy ra lũ lớn thường tràn ngập toàn bộ vùng đồng bằng.


    – Lượng mưa năm của khu vực miền trung nhìn chung là lớn, lại tập trung vào 3 tháng mùa mưa nên lũ thường xảy ra lớn. Đề tài đã xác định được những hình thế thời tiết gây mưa lớn, lũ lớn ở Bình Định nói riêng, các tỉnh ven biển Miền Trung nói chung, đó  là:


    ·         Bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) gọi chung là xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ).


    ·         Không khí lạnh (KKL) hoặc KKL hội tụ với tín phong.


    ·         Giải hội tụ nhiệt đới (HTNĐ) trong đó có nhiễu động xoáy (dưới dạng một áp thấp đóng kín) đi vào bờ biển.


    ·         Tổ hợp của XTNĐ với KKL hoặc với dải HTNĐ hoặc đồng thời với cả 2.


    ·         Tổ hợp của KKL với XTNĐ hoặc với dải HTNĐ hoặc đồng thời với cả 2.


    ·         Tổ hợp của HTNĐ với KKL hoặc với XTNĐ hoặc đồng thời với cả 2.


          – Đã xác định được lượng mưa 1 ngày, 3 ngày và 5 ngày lớn nhất ứng với tần suất thiết kế cho các điểm mưa ở hai tỉnh.


          – Dựa vào số liệu thống kê ở Quảng Trị, Bình Định và các tỉnh Miền Trung cho thấy lũ lớn ở đây thường xảy ra vào tháng IX đến tháng XI. Lũ có cường suất  lên xuống nhanh, vận tốc dòng chảy lớn gây xói lở nghiên trọng và gây nên hiện tượng sa bồi thủy phá rất nguy hại cho sản xuất và đời sống của nhân dân.


          –  Đã xác định được mức độ lũ hàng năm ở hai tỉnh trên, ví dụ như ở đồng bằng sông Kôn-Hà Thanh tiêu chuẩn phân biệt lũ có ngập hay không ngập, dựa theo mực nước tại cầu Tân An lớn hơn 780 cm, đủ làm ngập đường giao thông liên huyện, liên xã. Với tiêu chuẩn này định lượng được trong 24 năm đo đạc từ 1977 đến 2000  chỉ có 3 năm không ngập  trong mùa lũ. Nói cách khác hiện tượng lũ tràn đồng ruộng, ngập đường giao thông liên xã là phổ biến với vùng đồng bằng duyên hải tỉnh Bình Định.


           Đối với sông Thạch Hãn qua số liệu cho thấy đỉnh lũ lớn nhất năm phần lớn xuất hiện vào tháng X (khoảng từ 41.8% đến 46.2%), tháng có trận lũ lớn nhất năm nhiều thứ hai là tháng IX, bằng một nửa tháng X và tháng XI số lũ lớn nhất năm bằng 1/3 tháng X. Trong 26 năm có số liệu thì ở Thạch hãn có 14 năm lũ vượt báo động cấp III.


                – Thiệt hại do ngập lụt ở vùng đồng bằng duyên hải miền Trung chủ yếu do tốc độ nước chảy lớn, gây chết người, sập nhà, sa bồi thuỷ phá. Tác hại do thời gian ngập kéo dài, hay độ sâu ngập lớn không phải nguy cơ trực tiếp.


    –  Trong báo cáo cũng đã tính toán thủy lực đánh giá vai trò của việc mở rộng mặt cắt (hệ thống sông Kôn – Hà Thanh), việc xây dựng cống phân lũ An Tiêm. Việc các hồ chứa tham gia cắt lũ (hồ Định Bình – Bình Định, hồ Phú Thành – Quảng Trị).


                –  Đã xây dựng được các phương pháp dự báo lũ cho hệ thống sông Kôn – Hà Thanh, sông Thạch Hãn Quảng Trị với thời gian dự kiến là 6 giờ và 12 giờ.


                –  Đưa ra các giải pháp có tính liên hoàn để phòng chống lũ, giảm nhẹ thiên tai hệ thống sông Kôn – Hà Thanh.


    –  Ngoài ra để sử dụng số liệu khí tượng thủy văn được thuận tiện trong các bài toán khác nhau đề tài đã xây dựng phần mềm cơ sở dự liệu ( lấy tỉnh Quảng Trị làm ví dụ).



    PGS.TS Lê Văn Nghinh cùng đồng nghiệp đã dồn tâm huyết của mình với đề tài nhằm đóng góp một phần trong “Chiến lược và chương trình hành động quốc gia giảm nhẹ thiên tai ở Việt Nam” đặc biệt đối với miền Trung. Ông cũng như tất cả các nhà khoa học, các thầy cô giáo trong trường Đại học Thủy lợi luôn phấn đấu hết mình vì sự nghiệp Thủy lợi, vì sự lớn mạnh của đất nước, sự phấn đấu đó thể hiện trong từng công việc mà họ đã, đang và sẽ làm./.


     

    Mây sáng

  • Hội thảo MERDCVEL – 06

    1. Introduction.


    Marketing, Management, Education, Research and Development and Cultural Value for Engineers, Managers and Leaders are key words for alleviation of poverty, environmental protection, natural disaster prevention, sustainable development and international integrations – MERDCVEL-06 is excellent opportunities to exchange, discuss and present the best knowledge, expertise’s, lesson learned, case studies, ideas and innovation and answers on :


    1.1      What are the roles and new concepts of Marketing, Management, Education, Research and Development and Cultural Value in flat world?
    1.2      What is the best ways to improve knowledge’s, build up capabilities, skills, abilities of our engineers, academics, researchers, managers, leaders for sustainable development, International Integration challenges and opportunities of WTO
    1.3      What is the meaning of registration of professional engineers, code of ethics, continuity study, mutual recognition and services in order to have transparency, prevent and avoid corruption and increase value of engineering and culture. How we can build a better world and achieve the high quality and bring enjoyment to the life?  
    1.4      How we can use Vietnamese and Asian Cultural Value and Intelligent for business development. The important role of Cultural Value, brands and human recourses for future development.
    1.5      How we can build International Institutes, Universities, Center of Education, Training, Research, Research, Technology Transfer, Investment, Trade… for Sustainable Development and Cultural Values? How we can combine Western Civilization and Asian Culture to make more money, build up the intellectual market and connecting the best people over the word to help the development of Vietnam and human quality?


     


    2. Who will attend the short course and seminar on MERDCVEL – 06’.


    2.1      Engineers, Architects, Managers Researcher, Academics and Leaders from Companies, Institutes, Universities…
    2.2      Staffs of Authorities, Non-Government Organizations.
    2.3      Staffs of ministries, Government, People Committee, Department.
    2.4      Students, young engineers.
    2.5      Friends and Colleagues. Engineers, who wish to become Asean Engineers.


    3. Time and Place :


    From September 6 -8, 2006.
    Place : Hanoi (Fixed)
    And From October 6 -8, 2006 – Place Ho Chi Minh City (Tentative).


    4. Guest Speakers and Key Speakers.


    4.1 Dr., FF. of AAET  Viphandh Roengpith – President and Director of Asian University Pattaya, Thailand.
    4.2 Academician, PE, Chitr Lilavivat, Thailand – FF. of AAET, executive member Charted Engineers of England.
    4.3  Prof. Dr. Vu Gia Hien, Apollos University, USA.
    4.4 Dr. Tran Ha Anh, Engineer of Ecole Polytechnique (1959), Pre Vice Chairman of Committee of Science, Technology & Environment of the NA.
    4.5  Mr. Bui Kien Thanh, Senior Advisor.
    4.6 Mr. Nguyen Tri Dzung, President, Network of International Cooperation for Development.
    4.7 Mr. Nguyen Vi Khai, Senior Advisor, Prof. on Philosophy.
    4.8 Prof. Dr. Nguyen Truong Tien, FF of AAET.
    4.9 Prof. Dr. Nguyen Tien Chuong, Institute for Building Science and Technology.
    4.10 Dr. Trinh Minh Thu, Hanoi Water Resource University.
    4.11 Dr. Vo Hung Tuan, France.
    4.12 Dr. Le Van Cuong, Director of Research Center, France.
    4.13 Dr. Luong Bach Van, Ho Chi Minh City Committee.
    4.14 Prof. Dr. Mai Trong Nhuan.
    4.15 Prof. Dr. Tran Nghi.
    4.16 Senior Expert Le Van Thinh
    4.17 Mr. Bertil Nord.
    4.18 Dr. Phung Duc Long.
    And other colleagues and friends.



    5. Programs.


















    Day 1


    September 6, 2006


    Registration


    Opening Seminar / Short course.


    Marketing and Management – Education, Research and Development.


    Lectures and discussions.


    Day 2


    September 7, 2006


    The role of Science, Engineering, Technology.


    Investment and Commerce for Sustainable Development.


    Cultural and Engineering Value.


    Round Table of interested participants


    Lectures and discussions.


    Day 3


    September 8, 2006


    Lectures and discussion.


    Registration of Engineers, Mutual Recognition, Code of Ethics, Continuity Study Assessment and Examination of PE.


    Certification of VUSTA.


     


    6. Registration Fees.


    The MERDCVEL-06’ is non profit activity and self finance. The organizing committee will as some Organization / Corporation will be Sponsor and Co-Sponsor.
    The Speakers will make kind contribution. Minimum. Registration fee is asked as follow :
    –  Delegates over 31 years old   : 400.00 Dong VN (for 02 days seminar/short course)
    –  Delegation  to be registered as ASEAN Engineer : 500.000 Dong VN (for 03 days seminar/short course and RoundTable).
    – Young Engineers (less than 30 years old) : 300.000 Dong VN
    –  Students : 200.000 Dong VN.
    The fees is covered :
    –   Proceeding of Short course / Seminar.
    –   Coffee and tea.
    –  Lunch.
    –  Assessment and Examination for ASEAN Engineers (for interested engineers). The examination will make in English.
    The Organization Committee will responsible for Guest Speakers :
    –  Accommodation.
    – Local Transportation.
    –  Food.
    –  Visit Hanoi.


     


    7. Time Schedule


    –  Confirmation to be speakers        : August 15, 2006.
    –  Papers for Proceeding    : August 20, 2006.
    –  Registration of participant           :
           + First Announcement                : August 10, 2006.
           + Second Announcement           : August 20, 2006.
           + Invitation and Official Program: August 25, 2006.


     


    8. Contact Person.


    Prof. Dr. Nguyen Truong Tien, Deputy Director of Hancorp.
    FF of AAET.
    Vice Chairman of National Committee for Registration of Engineers.
    President of Vietnam of Society  Soil Mechanics and Geotechnical Engineering (VSSMGE).
    President of Advisory of Advance Associates Consulting Corporation.


    Address : No9 – Alley 44 – Ham Tu Quan Str., Hoan Kiem Distr., Hanoi – Vietnam.


    Tel : (84-4) 9324 959.                 Fax : (84-4) 9325 969


    Email : [email protected]


    Mobile : 090340 5769.


    You are most welcome to make any contribution, modification and suggestion. Thank you.


    Prof. Dr. FF. Nguyen Truong Tien


    Chairman of Organization Committee of MERDCVEL – 06’

  • Thông báo về việc đăng ký học lại kỳ I năm học 2006-2007

    Thông báo về việc đăng ký học lại kỳ I năm học 2006-2007






    BỘ NN & PTNT
    Trường Đại học Thủy Lợi


    ——————


    Số:542   TB/CTCT&QLSV


    Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    — ***—


    Hà Nội, ngày 22 tháng 5năm 2006



    THÔNG BÁO


    “V/v đăng ký học lại kỳ I năm học 2006-2007”


     


                Học kỳ I năm học 2006-2007 Nhà trường chủ yếu cho những sinh viên trong diện bắt buộc phải học lại (môn học có điểm 00) được đăng ký học lại với các lớp Khoá sau có cùng chương trình (nhưng không được trùng lịch với lớp chính khoá mà sinh viên đang học), những trường hợp khác sinh viên phải làm đơn để trường xem xét. Nhà trường thông báo kế hoạch cho sinh viên đăng ký học lại cụ thể như sau:


     


                – Sinh viên đến Phòng CTCT và QLSV (phòng tiếp sinh viên) làm thủ tục đăng ký, nộp học phí và nhận giấy vào lớp từ ngày 12/6/2006 đến 12/8/2006 (kể cả những học phần sẽ học vào giai đoạn 2 của kỳ I). Mang giấy vào lớp gặp Giáo viên phụ trách môn học và lớp trưởng để vào lớp học.


                – Giáo viên phụ trách môn học và lớp trưởng các lớp tạo điều kiện cho các sinh viên đã đăng ký vào học và quản lý theo quy định chung.


     


                Lưu ý: Sinh viên cần đăng ký đúng tên học phần, số đơn vị học trình mà mình phải học, nếu đăng ký sai Nhà trường không chịu trách nhiệm.







    Nơi nhận:


    – BGH (b/c)
    – Các Khoa, các Bộ môn
    – Các lớp trong trường


    – TTTH (đưa lên mạng)
    – Phòng trực sinh viên
    – Lưu VT, P7


    TL. HIỆU TRƯỞNG
    Trưởng phòng CTCT và QLSV



    (đã ký)


     


     


    ThS. Dương Văn Bá

  • Lễ kết nạp Đảng viên mới tại Chi bộ Khoa CNTT

    Sáng nay ngày 22/5/2006, Chi bộ Khoa CNTT, trường ĐH Thủy Lợi đã tổ chức Lễ kết nạp Đảng viên mới cho sinh viên Phạm Thị Thơm Lớp 43TH, đây cũng là lễ kết nạp Đảng viên mới đầu tiên của Khoa. Đến dự buổi lễ có đồng chí Nguyễn Đăng Tộ – Bí thư Chi bộ Khoa CNTT; đồng chí Nguyễn Xuân Lộc – Phó bí thư chi bộ Khoa CNTT; đồng chí Nguyễn Văn Lệ, cùng một số đồng chí cán bộ Đảng viên Khoa CNTT, đồng chí Nguyễn Thị Thanh Thúy – Thường vụ Đoàn TNCS HCM Trường ĐHTL. Trong không khí trang trọng của buổi lễ, trước Đảng kỳ, Quốc kỳ và di ảnh Bác, sinh viên Phạm Thị Thơm đã tuyên thệ trung thành với mục đích và lý tưởng của Đảng Cộng Sản Việt Nam.


               


    Đảng viên Phạm Thị Thơm sinh ngày 06/10/2006, tại Xã Minh Khai, Huyện Vũ Thư, Tỉnh Thái Bình. Trong suốt 5 năm học tại trường ĐHTL, Thơm luôn là đoàn viên và sinh viên gương mẫu của lớp 43TH, không ngừng phấn đấu trong học tập và rèn luyện phẩm chất đạo đức, tích cực tham gia các phong trào NCKH trong sinh viên, phong trào đoàn thể của khoa và trường– trích nhận xét của đồng chí Nguyễn Thị Vinh.


     


    Như vậy cho đến thời điểm này Chi bộ Khoa CNTT đã có 12 Đảng viên chính thức, 1 Đảng viên dự bị. Chi bộ Khoa trách nhiệm dìu dắt Đảng Viên Phạm Thị Thơm để đủ điều kiện sau 12 tháng nữa được vào Đảng chính thức. Chúc cho Chi bộ Khoa CNTT ngày càng lớn mạnh.


     


    Chúng tôi đã có cuộc trao đổi ngắn với tân Đảng viên:


     


    Chào Thơm, là sinh viên đầu tiên của Khoa CNTT vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng, xin bạn có biết cảm xúc lúc này?


    Được sự giúp đỡ của các thầy các cô trong khoa, và sự động viên của các bạn trong lớp, hôn nay mình đã rất vinh dự được là sinh viên đầu tiên của khoa CNTT đứng trong hàng ngũ của Đảng. Mình rất vui và hạnh hạnh phúc. Xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa công nghệ thông tin đã giúp đỡ em rất nhiều trong thời gian qua. Xin được cảm ơn các bạn 43TH đã luôn cổ vũ động viên cho mình.


     


    Và trong tương lai bạn thực hiện lời hứa dưới là cờ Đảng như nào?


                Mình nghĩ để thực hiện được lời hứa duới cờ Đảng phải có cả một quá trình phấn đấu và rèn luyện của bản thân. Nhưng dù thế nào mình cũng sẽ cố gắng hết sức để xứng đáng là một Đảng viên ĐCSVN




    Vân Khánh và Lê Sơn thực hiện

  • Vũ Thị Minh Huệ: Gương mặt 8X năng động

    Vũ Thị Minh Huệ: Gương mặt 8X năng động









    Gặp Huệ tại phòng điều khiển hồ Hoà Bình lúc đang làm đồ án


                        
                Tốt nghiệp phổ thông trung học, Huệ đăng ký dự thi ba trường: Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Cao đẳng Sư phạm và Đại học Thuỷ lợi. Sau bao tháng ngày miệt mài đèn sách, Huệ đã được đền bù xứng đáng. Bạn đỗ cả ba trường. Cô học trò nhỏ nhắn đã chọn theo học Đại học Thuỷ lợi, khoa Thuỷ văn và Môi trường. Đây là một ngành học có “truyền thống” con trai chiếm ưu thế. Nhưng Huệ không vì vậy mà nản chí, bạn đưa ra lý do đơn giản “thích được tìm hiểu, nghiên cứu về môi trường và góp phần bảo vệ môi trường trong lành xung quanh mình”.












     Huệ khi nhỏ và bây giờ




    Là con gái út trong gia đình, Huệ thiệt thòi vì thiếu vắng tình cảm của người cha. Bố Huệ mất từ khi bạn còn nhỏ, mẹ Hụê đã có gia đình riêng. Có lẽ những điều đó đã trở thành động lực thôi thúc Huệ không ngừng học tập, trở thành con ngoan trò giỏi. Kết quả học tập của bạn luôn xếp ở tốp trên trong lớp suốt bốn năm học liền khiến các bạn trong lớp nể phục. Huệ được chọn để thay mặt cho hàng ngàn sinh viên đại học Thuỷ lợi tham gia chương trình “theo dòng lịch sử” do VTV2- truyền hình Việt Nam tổ chức. Đối thủ của bạn trong kỳ thi rất đáng gờm, đến từ các trường: Đại học Dược, Đại học Luật, học sinh khối chuyên sử.  Những tưởng sinh viên khối kỹ thuật như Huệ sẽ thiệt thòi hơn các bạn khác về kiến thức xã hội nhưng Huệ đã chứng minh đó là nhận định sai lầm. Bằng sự nỗ lực của bản thân, sự động viên, quan tâm của thày cô, bạn bè, Huệ thắng thuyết phục, đứng lên bục vinh quang trong niềm tự hào, phấn khởi của thày cô, bè bạn và gia đình. Cả trường quay hôm ấy hết sức ngạc nhiên vì phần thi ứng xử ấn tượng của Huệ. Bạn mở đầu bằng lời cảm ơn đối với những người thày tận tâm, đáng kính, bằng niềm tự hào về trường đại học Thuỷ lợi thân yêu. Phần hùng biện của Huệ thông minh, khéo léo, trí tuệ, thể hiện kiến thức toàn diện của bạn. Mặt khác, đó cũng chứng tỏ năng khiếu, thế mạnh của một thủ lĩnh đoàn kỳ cựu. Trong bốn năm học qua, Huệ nhận được nhiều bằng khen của trường về thành tích học tập xuất sắc của mình.











     Kỷ niệm khó quên với tập thể 43V



    Bạn Lê Thị Hiền- nguyên phó bí thư chi đoàn 43V, phó bí thư liên chi đoàn khoa Thuỷ Văn và Môi trường nhận xét về Huệ đầy tự hào, cảm phục: “Huệ chăm chỉ học tập, nhiệt tình với bạn bè trong việc giúp đỡ các bạn học hành cùng tiến bộ hoặc các công việc khác như: làm vé xe buýt, giấy chứng nhận,… các bạn trong lớp rất quý Huệ vì bạn hoà nhã, dễ gần”. Nhắc đến Huệ, các thành viên lớp 43V không ngớt lời khen ngợi.




    Học giỏi, chăm chỉ, cần mẫn, nhưng Huệ không tự biến mình thành “mọt sách”. Bạn hăng hái tham gia phong trào Đoàn để sống cho có ích hơn. Quan điểm của Huệ là các hoạt động đoàn sẽ giúp thanh niên, sinh viên sống lành mạnh, năng động, nhạy cảm và “sinh viên” hơn. Huệ tham gia đội văn nghệ của lớp, của khoa, của trường với lòng nhiệt tâm hiếm thấy. Dưới sự lãnh đạo của Huệ, chi đoàn 43V luôn tiên phong trong phong trào của Đoàn trường, cùng đoàn trường Đại học Thủy lợi gặt hái nhiều thành công trong các cuộc thi do Trung ương Đoàn, trung ương hội sinh viên Việt Nam phát động. Nếu thời phổ thông, cô học sinh Minh Huệ nhút nhát, sống nội tâm bao nhiêu thì lên đại học, cô sinh viên ấy năng động, sôi nổi bấy nhiêu. Huệ rèn luyện để tự tin khi đứng trước đám đông, dám nói ra những suy nghĩ, trăn trở của mình. Huệ là một thành viên tham gia sáng lập Câu lạc bộ sinh viên tình nguyện của trường. Hè năm 2002, câu lạc bộ đi Bắc Kạn giúp bà con nông dân địa phương cấy gặt, dạy chữ cho trẻ em. Dù là con gái thành phố, chưa từng phải chân lấm tay bùn song Huệ không nề hà đã xuống ruộng gặt lúa cùng bà con giữa trưa nắng. Huệ cũng xuống suối “cõng nước” về sinh hoạt như người dân bản địa. Có lạ lẫm và mệt mỏi nhưng Huệ khiêm tốn  nói: “những việc đó chẳng thấm tháp vào đâu. Quan trọng là mình được sống trong tình cảm lao động giản dị, sâu sắc để mình hiểu, cảm thông và chia sẻ với họ…”.


     


    Với những cống hiến hết mình cho phong trào Đoàn, Huệ là nữ sinh viên duy nhất của đại học Thủy lợi đại diện cho trường tham gia Đại hội Hội liên hiệp thanh niên thành phố Hà Nội,  Đại hội Hội sinh viên Việt Nam, … Huệ có bề dày thành tích trong hoạt động đoàn không kém gì bảng thành tích học tập. Bạn đã vượt qua các bí thư nam để nhận giải nhất bí thư chi đoàn giỏi cấp trường. Đồng thời, bạn là nữ cán bộ đoàn duy nhất của trường “ẵm về” nhiều giấy khen nhất của đoàn trường, của thành đoàn Hà Nội, trung ương Hội sinh viên việt Nam…


     


    Bạn Nguyễn Thị  Xuyên- sinh viên lớp 43V nói: “Huệ là bạn gái thông minh, năng động.  Một nữ sinh viên biết khẳng định mình bằng năng lực và những cố gắng. Huệ luôn gần gũi chia sẻ với bạn bè, giúp bạn bè vượt qua khó khăn”.



    Ký ức tuổi thơ trong Huệ









     











     


     











     


     











     


     



    Dáng người thanh mảnh, nhỏ nhắn, phong thái điềm tĩnh, tự tin, ứng xử khéo léo, thông minh, Huệ là gương mặt tiêu biểu cho thủ lĩnh đoàn thế hệ 8X. Huệ luôn ý thức được tầm quan trọng của việc học và sống cho lành mạnh và có ý nghĩa. Hiện Huệ đang học năm cuối đại học Thuỷ lợi. Bạn đã hoàn thành đồ án tốt nghiệp với đề tài “ứng dụng mô hình Maike11 trong bài toán lũ sông Hồng”. Đây là đề tài khó, nằm trong dự án cấp nhà nước của trường và mang tính ứng dụng cao. Thời gian dành cho hoạt động Đoàn không còn nhiều song bạn không bỏ lỡ cơ hội được tham gia, góp sức mình vào phong trào.


     


    Tâm sự về bí quyết của mình, Huệ cho biết: “trước hết mình phải cố gắng học để các bạn không coi thường. Sau nữa là phải mạnh dạn khi đứng trước đám đông để nói lên những quan điểm của mình. Sinh viên chúng mình còn nhiều bạn nhút nhát. Mình nghĩ rằng các bạn nên cố gắng rèn luyện khả năng hùng biện vì sinh viên khối kỹ thuật làm ra sản phẩm thì phải biết thuyết trình, bảo vệ sản phẩm của mình…”. Suy nghĩ đó đã giúp Huệ năng động, tự tin và làm dày thêm bảng thành tích đáng tự hào của mình khi còn là sinh viên trường Đại học thuỷ lợi. Lời tâm sự của Huệ phải chăng cũng là lời nhắn gửi tâm huyết của bạn với các sinh viên thế hệ sau trước khi bạn ra trường?


     


    Xin chúc cho Huệ tiếp tục thành công trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Và hy vọng, tuổi trẻ Đại học Thuỷ lợi sẽ noi gương, tiếp bước Huệ xâydựng mái trường thân yêu của chúng ta ngày càng vững mạnh.



    Vân Khánh và Phạm Thơm thực hiện
    Mọi góp ý xin gửi về địa chỉ [email protected]

  • Ấm áp ngày ra quân

    Ấm áp ngày ra quân


    Đại học Thuỷ Lợi là ngôi trường có bề dày thành tích trong giảng dạy và học tập, trong đó phong trào thi Olympic các môn học là một ví dụ điển hình. Từ rất nhiều năm qua, phong trào thi Olympic đã được Ban Giám hiệu Nhà trường quan tâm nhằm phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, khuyến khích và thúc đẩy sinh viên vươn lên trong học tập. Tính đến năm 2005, sinh viên Đại học Thuỷ Lợi đã tham gia 17 kỳ thi Olympic Quốc gia các môn Cơ học,13 kỳ thi môn Toán học, 5 kỳ thi môn Tin học, đã đạt 465 giải cá nhân trong đó có 27 giải Nhất, 93 giải Nhì, 167 giải Ba, 181 giải khuyến khích và 47 giải đồng đội trong đó có 16 giải Nhất, 15 giải Nhì, 13 giải Ba, 4 giải khuyến khích. Đây là một kết quả đáng tự hào, để đạt được những thành tích trên phải kể đến sự đóng góp của các thầy cô giáo đã có công phát hiện và bồi dưỡng những sinh viên có khả năng tham gia thi Olympic.


    Cứ đến hẹn lại lên hàng năm Nhà trường tổ chức các đợt thi Olympic cấp trường và lựa chọn sinh viên tham dự kỳ thi Olympic cấp Quốc gia các môn học. Năm nay trường Đại học Thuỷ Lợi đã lựa chọn được hơn 100 sinh viên tiêu biểu, đại diện cho gần 10000 sinh viên trong toàn trường tham dự kỳ thi quan trọng này với các đội tuyển: Olympic các môn cơ học, Toán học, Tin học và lần đầu tiên tham gia kỳ thi khu vực các môn Khoa học Mác Lênin – TT Hồ Chí Minh.


    Nhằm động viên tinh thần trước ngày lên đường thi đấu của thầy và trò trong các đội tuyển, chiều 20/4/2006 tại Hội trường T35 đã diễn ra buổi gặp mặt thân mật và đầm ấm giữa Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường với các thầy cô giáo và sinh viên của các đội tuyển tham dự kỳ thi Olympic Quốc gia năm 2006, cùng với sự có mặt của đại diện các phòng, khoa, ban, trung tâm và các bộ môn có sinh viên dự thi. Trong buổi gặp gỡ, PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng trường Đại học Thuỷ Lợi đã biểu dương sự nhiệt tình của các thầy cô giáo và các em sinh viên tham gia phong trào thi Olympic trong nhiều năm qua, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào đội ngũ các thầy cô giáo và các sinh viên sẽ đạt kết quả cao trong kỳ thi này. PGS.TS Lê Đình Thành cũng nhắc nhở các sinh viên rút kinh nghiệm trong những lần thi trước để phát huy tinh thần và ý chí, thể hiện sự hợp tác và tinh thần dồng đội cao để đạt nhiều giải trong mùa thi này.


    Cũng trong buổi gặp này, sinh viên các đội tuyển đã được các thầy cô giáo dặn dò và chia sẻ những kinh nghiệm mà các thầy cô đúc kết trong rất nhiều lần dẫn đoàn dự thi, nhằm giúp các em tự tin bước vào những ngày thi sắp tới. Bên cạnh đó, Ban Giám hiệu Nhà trường cùng đông đảo các thầy cô và sinh viên có mặt tại đây đã được nghe lời hứa quyết tâm của sinh viên đại diện cho hơn 100 sinh viên tham dự kỳ thi Olympic Toàn quốc năm 2006.


     


    Một số hình ảnh trong buổi gặp thân mật giữa Đảng ủy, Ban Giám Hiệu cùng các thầy cô và sinh viên tham gia kỳ thi Olympic Quốc gia năm 2006. 













     PGS.TS Lê Đình Thành-Phó Hiệu trưởng nhà trường


         PGS.TS Nguyễn Hữu Bảo-Phó trưởng khoa CNTT


     










      ThS. Đặng Hương Giang-Phó Trưởng phòng CTCT&QLSV Sinh viên tham gia thi Olympic Quốc Gia











      Thầy Nguyễn Đăng Thịnh-Chủ tịch công đoàn trường


    PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh-Phó Bí thư Đảng Ủy trường (áo xanh)



    Xin kính chúc các thầy cô giáo sức khoẻ để luôn cống hiến cho sự nghiệp trồng người.


    Những ngày thi sắp đến gần, các sinh viên đang miệt mài bên trang sách, xin chúc các em có một mùa thi Olympic đạt nhiều giải thưởng góp phần tô thắm sự vẻ vang cho ngôi trường Anh hùng – nơi các em đang học tập – mỗi bước đi của các em sẽ có nhiều ánh mắt dõi theo và chờ đón các em trở về trong niềm hân hoan chiến thắng.
    Vân Anh P7

  • Nhà giáo ưu tú với tâm hồn hát

    Nhà giáo ưu tú với tâm hồn hát

    Nhà giáo Vũ Đại Nguyên với một lòng say mê cống hiến cho sự nghiệp giáo dục


        Thầy Vũ Đại Nguyên, sinh ra và lớn lên tại thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên trong gia đình tri thức nghèo . Sau khi tốt nghiệp tú tài năm 1962 thầy trở thành sinh viên trường ĐH Thể dục thể thao, tỉnh Bắc Ninh. Nhưng vì điều kiện sức khỏe không cho phép thầy đã phải dừng lại sau hai năm học. Vốn là một học sinh giỏi, hiếu học, không ngừng phấn đấu, đến năm 1964 thầy đã tiếp tục theo học trường ĐH Thủy Lợi. Thầy là sinh viên lớp 6Đ, một trong 6 lớp thuộc Khóa 6, là khóa sinh viên có nhiều thành tích của Trường (với 60 SV sau khi tốt nghiệp được giữ lại trường làm công tác giảng dạy). Năm 1969, thầy chính thức nhận công tác tại bộ môn Trạm bơm thuộc Khoa thủy nông (nay là Khoa Quy hoạch và Quản lý công trình thủy lợi). Sau khi đi công tác thực tế  một năm theo phân công công tác của nhà Trường tại Ủy Ban sông Hồng, nay là Viện Quy hoạch Thủy lợi, thầy trở lại tiếp tục làm công tác giảng dạy tại Bộ môn  Trạm bơm. Trong thời kỳ đổi mới từ năm 1983-1984, thầy được cử đi tham dự Khoá học Quốc tế về Thủy lợi tại Hà Lan (IHE). Tự học tự nghiên cứu, thầy đã là một trong những giáo viên đầu tiên trong trường tiếp cận với tin học, và đến năm 1994 thì thầy chuyển sang công tác tại Trung tâm Tin học của Trường và được nhà Trường bổ nhiệm giữ cương vị Phó Giám đốc Trung tâm cho đến đầu năm 2002, lúc thầy về hưu cũng chính là năm Khoa CNTT non trẻ của Trường được thành lập.

     

         Gặp thầy Nguyên trên căn phòng nhỏ tầng 4 phố Khương Thượng, không gian căn phòng yên tĩnh thoáng đạt, những giá sách khổng lồ nối tiếp nhau bên cạnh chiếc bàn với nhiều chồng tài liệu quý mà thầy đã dành cả đời để thu thập. Một cây đàn ghita và một tập các ca khúc mà thầy đã sáng tác về Con người và Mái trường Thủy lợi, đủ cho tôi thấy được tâm hồn mang đậm chất nghệ sĩ của thầy. Những tưởng khi về hưu là lúc người ta có thể nghỉ ngơi sau những năm tháng dài công tác vất vả, nhưng thầy Vũ Đại Nguyên vẫn miệt mài, bền bỉ với những nhận xét phản biện cho các đề tài NCKH thuộc Bộ NN & PTNT cũng như các Dự án thuộc Bộ Tài nguyên & Môi trường. Hiện thầy đang cộng tác với Văn phòng Hỗ Trợ Chương trình Ngành Nước (Water Sector Program Support) để xây dựng Chương trình đào tạo về Quản lý Tổng hợp Tài nguyên nước (Integrated Water Resources Management) – một dự án do Đan Mạch (DANIDA) tài trợ cho Bộ Tài Nguyên & Môi trường. Đây là một lĩnh vực đào tạo rất mới không chỉ ở nước ta mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới.


    Cây đàn và giá sách, những vật gắn bó cả đời cùng Thầy


         Là người gắn bó với chuyên ngành Thủy nông (Land and Water Development) từ rất lâu, đã có biết bao thế hệ sinh viên được thầy dìu dắt, có những gia đình ba thế hệ đều là sinh viên của thầy. Nhiều cuốn giáo trình về PowerPoint, Win Project mà thầy đã biên soạn hiện đang được các thế hệ sinh viên nhà trường sử dụng. Thầy đã và đang tham gia với cương vị là chủ nhiệm hoặc đồng tác giả của nhiều dự án, nhiều đề tài NCKH cấp Nhà nước và cấp Bộ. Chính thầy là người đầu tiên từ những năm 1993-1994, hoàn thành xuất sắc đề tài NCKH cấp Nhà nước về cứng hoá kênh mương trong các hệ thống công trình thủy lợi và sau đó được Bộ NN&PTNT cho phép áp dụng lần đầu tiên vào Dự án Cải tạo nâng cấp và Hiên đại hóa Hệ thống thủy nông Đan Hoài thuộc tỉnh Hà Tây với nguồn vốn vay từ ADB2, và cũng từ đó phong trào cứng hoá kênh mương đã được nhân rộng ra toàn quốc. Thầy cũng đã là chủ nhiệm nhiều phần mềm viết cho ngành Thủy lợi và Xây dựng như:

     

    • Phần mềm tính toán thủy lực công trình               EHPro 4.0
    • Phần mềm tính toán thủy nông                             IDPro 2.0
    • Phần mềm tính toán hệ thống cấp nước              WSPro 2.0

     

       Thầy đã vinh dự được nhà nước trao tặng “Huy chương vì sự nghiệp giáo dục ”, “Huy chương vì sự nghiệp Thủy lợi ” năm 1998 và danh hiệu “Nhà giáo ưu tú” năm 2000.


    Thầy nhận danh hiệu “Nhà giáo ưu tú” năm 2000


       Nhà giáo Vũ Đại Nguyên không những là người thầy với một lòng say mê cống hiến cho sự nghiệp giáo dục, cho những tiến bộ khoa học kỹ thuật, mà còn là  một người nghệ sỹ tài ba có tâm hồn trẻ mãi. Thầy say mê âm nhạc và hoạt động âm nhạc ngay từ lúc còn trẻ. Ngay từ năm 1970, thầy liên tục ở trong Ban chấp hành công đoàn trường phụ trách văn thể, thầy đã từng nhiều lần đạt giải huy chương vàng đơn ca trong Hội diễn văn nghệ các trường Đại học và Khối công đoàn các trường Đại học. Thầy bắt đầu sáng tác nhạc từ năm 1966, thế giới âm nhạc lớn dần trong con người thầy, thầy đã tầm sư học đạo, trở thành thành viên của lớp học sáng tác không chuyên đầu tiên của Hà Nội năm 1969. Đến nay số lượng ca khúc của thầy đã trên dưới 50. Phần lớn các ca khúc thầy viết là để ca ngợi con người và mái trường thủy lợi thân yêu, nơi mà thầy đã dành cả cuộc đời để cống hiến và xây dựng. Mỗi ca khúc thầy viết đều gắn với những kỷ niệm và nghĩa tình sâu sắc:

     

    “Anh thiết kế ngày đêm không mỏi,

      Đây trạm bơm kia nối kênh đào.

      Đường dọc bờ ngang quê em đổi mới,

      Thiết tha tình dòng nước uốn theo…”

     

    đó là những nốt nhạc đầu tiên mà thầy viết về tâm sự của những sinh viên Trường Đại học Thủy lợi trong quá trình thực tập quy hoạch trên những cánh đồng khô hạn của tỉnh Hà Bắc vào những năm 60.


    Người thầy giáo có tâm hồn hát


     

        Thầy Nguyên có một tâm hồn rất nhạy cảm, đôi khi chỉ qua những khát vọng của con người mà thầy có thể tạo nên những giai điệu thanh thoát, đậm chất dân gian:

     

      “Cầu trời mưa xuống, cho nước tôi uống ,

       cho ruộng tôi cày, cho lúa lên xanh, cho đời no ấm”

     

    >
    Bài hát: Nối dài những ước mơ
    Sáng tác và biểu diễn: GVC.ThS. Vũ Đại Nguyên

    những vần thơ quyện trong giai điệu đằm thắm, sâu lắng nói lên niềm khát khao của người mẹ về dòng nước mát; thầy cũng cho ra đời một ca khúc nhắc nhở những kỹ sư thủy lợi phải làm như thể nào để với những kiến thức thu được trong những năm học tập tại trường, qua nét bút của mình sẽ hướng “những dòng nước ngọc, nước vàng” tưới mát cho những cánh đồng xanh tươi bát ngát của quê hương, nối dài thêm ước mơ của bao người mẹ. Đôi khi chỉ qua lời thơ của người bạn cùng khóa, thầy Nguyên đã phổ nhạc viết tặng cho sinh viên của trường một ca khúc rất nên thơ và đậm chất  thủy lợi:

     

    “Anh hát cho em Bài ca thủy lợi, giữa núi đồi vang vọng mãi về xuôi.

     Lấy âm thanh sông suối thay lời, lấy dòng nước thay cây đàn muôn điệu.

     Em có biết những bàn tay kỳ diệu, chinh phục thiên nhiên cho lúa khoai nhiều, Từ rừng sâu mây phủ sớm chiều, chặn thác lũ cho dòng nước êm trôi…”


     Trong lời các bài hát, thầy đã cố gắng gợi cho sinh viên thủy lợi thêm nhiều kỷ niệm. Để từ đó họ thêm yêu trường, yêu ngành nghề của mình hơn.
        

    Nay tuy đã sắp sang tuổi thất thập nhưng thầy vẫn cùng cây đàn nhỏ, hát cho tôi nghe những giai điệu ngọt ngào của bài hát “Bài ca thủy lợi”. Trong ánh mắt và giọng hát của thầy vẫn toát lên sự trẻ trung sôi nổi và tình yêu thiết tha với mái trường, nơi mà thầy đã trọn một đời gắn bó. Thầy là một người giản dị, có cảm xúc hết sức phong phú, bởi nó có sự pha trộn của nhạc và thơ. Thầy Nguyên không chỉ tận tụy trong công tác, nhạy cảm với âm nhạc, thầy còn rất quan tâm đến các hoạt động của sinh viên. Sâu thẳm trong con người của thầy,  nét trẻ trung sôi nổi của sinh viên hầu như không bao giờ tắt. Thầy là một trong những người điều hành, góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của trường ĐHTL với Chương trình SV96. Thầy tâm sự với tôi rằng: “Người ta ví Đội tuyển SV Thủy lợi của chúng ta như đội tuyển bóng đá của Đức các em ạ. Tuy lối chơi bình thường nhưng hiệu quả và luôn chiến thắng”, thầy say sưa kể cho chúng tôi nghe những ngày vất vả nhưng đầy niềm vui của thầy và trò để chuẩn bị cho các trận đấu của chương trình SV96, khuôn mặt thầy vẫn ánh lên vẻ tự hào của những con người đã từng mang vinh quang về cho trường. Thầy luôn căn dặn sinh viên trong quá trình chuẩn bị phải đi đúng trọng tâm của vấn đề, nên diễn giải bằng thơ hoặc bằng lời hát ngắn gọn mà súc tích.

     

    Du canh rồi lại du cư
    Đồi núi trọc lốc như sư mẩt rồi


        Đó là hai câu thơ khi Đội tuyển SV96 của Trường thi đấu với Đội tuyển SV96 của Đại học Thái Nguyên tại Cung Thiếu nhi Hà Nội, trong mục giải đố hình ảnh.  Một lối đối đáp thật sâu sắc mà dí dỏm. Thầy đã cùng các thầy trong Ban chỉ đạo SV của trường luôn bám sát với đội tuyển, đạo diễn tất cả các “kịch bản”, từ lối diễn, lời thoại cho đến cách trang trí sân khấu. Thầy quả thực là một đạo diễn rất tài tình. Đêm 31-12 năm ấy, trường ĐH Thủy Lợi chiến thắng vẻ vang, đầy sức thuyết phục trước hai đối thủ nặng ký : trường ĐH Kiến Trúc TP Hồ Chí Minh và trường ĐH Đà Nẵng ở trận chung kết. Giáo viên và sinh viên Trường Thủy Lợi đã có một đêm không ngủ, tất cả đều dấy lên niềm vui khôn xiết, một niềm tự hào lớn lao. Các cuộc điện thoại của các thế hệ đã học và công tác tại trường Thủy Lợi liên tục được gọi đến, họ chia sẻ niềm vui chiến thắng. Họ trân trọng cảm ơn đến đội tuyển, đến ban chỉ đạo nói chung, đến người thầy đạo diễn tài ba nói riêng. “Chúng tôi rất xúc động, chiến thắng đêm nay của trường đã khơi dậy trong tim chúng tôi bốn chữ Đại học Thủy Lợi”. Một điều đặc biệt đó là, sau năm ấy lượng thí sinh đăng ký dự thi vào trường ĐH Thủy Lợi lên đến con số hàng ngàn, đông hơn rất nhiều so với các năm trước, điểm đầu vào của trường cao đột biến.

    ĐH Thủy Lợi trên bục vinh quang SV96

        Thầy đã góp sức không nhỏ trong công cuộc trồng người của trường ĐH Thủy Lợi, những cống hiến to lớn đó đã được ghi nhận : vào năm 2000 Thầy được Trung Ương Đoàn thanh niên CSHCM trao tặng  danh hiệu “Huy chương vì Thế hệ trẻ”-Huy chương cao quý của Đoàn

        Chỉ một vài giờ đồng hồ nói chuyện với thầy Nguyên, tôi đã rất mến thầy, tôi có cảm giác như mình đang đứng trước một con người tài đức vẹn toàn nhưng giản dị và gần gũi, cảm giác của một người cháu đang tâm sự với ông nội về những nốt nhạc thăng trầm của cuộc sống. Những lời thầy nói như muốn truyền lại cho tôi lòng nhiệt huyết của một thế hệ cha ông đã một thời gắn bó với mái trường, xây dựng, gìn giữ nó và nhắc nhở con cháu kế tục sự nghiệp vẻ vang sau này.

         Thưa thầy, chúng em thực sự cảm nhận tình yêu học trò sâu sắc từ những câu chuyện thầy kể, những bản nhạc thầy hát. Thầy là người chèo đò, chở thể hệ trẻ qua con sông tri thức, chưa kịp chia tay với lớp sinh viên này đã đón nhận một lớp sinh viên khác, xin thầy chia sẻ với chúng em về tình cảm thiêng liêng này.

     

        Tình cảm thầy trò luôn luôn thắm thiết. Bây giờ, đi đến đâu thầy cũng gặp học trò cũ của mình, cả sinh viên Việt Nam lẫn sinh viên nước ngoài (Lào và Căm phu chia). Thầy trò vẫn giữ mối liên lạc thường xuyên, kể chuyện học hành, công tác, thậm chí cả chuyện gia đình. Đối với người thầy thì phần thưởng cao quý nhất đó là kết quả của việc đào tạo thế hệ sau, thế hệ góp phần xây dựng xã hội mới. Hầu hết học trò của thầy đều đã trưởng thành, có địa vĩ xã hội, thực sự là thành quả to lớn trong nhiều năm công tác.

     

        Thầy đã từng là sinh viên thế hệ trước, và là người thầy đã dẫn dắt nhiều lớp sinh viên, thầy có cảm nghĩ gì về thế hệ sinh viên trước đây và bây giờ ? Thầy có lời nhắn nhủ gì với sinh viên thế hệ chúng em không ạ?

     

        Học trò trong thời kỳ càng gian khổ họ càng trưởng thành hơn và mau chóng bắt nhịp với cuộc sống. Các anh chị khoá trước đã mang về hai chữ Vinh Quang cho Thủy Lợi, các em phải có trách nhiệm gìn giữ hai chữ vẻ vang ấy .  

     

    Người đạo diễn và nhạc trưởng tài ba

     

             Nay tuy đã về hưu nhưng Thầy Nguyên vẫn rất nhiệt tình với công tác của trường, thầy vẫn tham gia trong các buổi lễ lớn, vẫn nhiệt tình viết tặng cho lớp lớp học trò và giáo viên trong trường những nốt nhạc trữ tình, thắm thiết về mái trường thân yêu. Thầy vẫn miệt mài nghiên cứu và tham gia các dự án của Bộ, vẫn hết mình cho sự nghiệp phát triển đất và nước. Chia tay với thầy mà trong lòng tôi vẫn âm vang câu hát:

     

     “Đã đến lúc xa trường,  như mối tình quê hương,

      Đời sinh viên sôi nổi, mang trăm nhớ ngàn thương,

      Ngày mai ta xa trường, tung cánh vỗ ngàn phương,

      Đây bài ca tốt nghiệp, đời đượm sắc thơm hương.

          …………   …………   …………   …………

      Đã đến lúc xa rồi, hỡi bạn trẻ ta ơi,

      Năm năm trời chung sống, bao kỷ niệm trong đời…”

     

    lời hát trong Bài ca tốt nghiệp của thầy Nguyên như đọng lại trong lòng tôi cùng các sinh viên năm cuối khác một tình yêu thiết tha với mái trường, nơi mà mình đã biết bao gắn bó trong năm năm học. Nó như nhắc nhở chúng tôi dù mai đây có đi đâu, về đâu, cũng đừng bao giờ quên mái trường Thủy Lợi, nơi đã dìu dắt chúng tôi nên người và nơi ấy có biết bao thầy cô, bè bạn thân yêu và một thời để nhớ… Và có những con người hết lòng vì sinh viên và sự nghiệp giáo dục của trường như thầy Vũ Đại Nguyên.



    Vân Khánh và Phạm Thơm thực hiện
    (Email: [email protected] )