Tác giả: Data Old

  • Nghị quyết hướng dẫn một số điểm về tổ chức cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII, và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016





    Ủy ban thường vụ Quốc hội

    Nghị quyết số: 1020/2011/UBTVQH12                                     


    NGHỊ QUYẾT


    HƯỚNG DẪN MỘT SỐ ĐIỂM VỀ VIỆC TỔ CHỨC CUỘC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XIII
    VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2011 – 2016


    ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
                                 NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    – Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 31/2001/QH10;


    – Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11;


    – Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12,


    NGHỊ QUYẾT

    Điều 1. Cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử


    Cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử, ứng cử theo quy định tại Điều 2 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và năm 2010 (sau đây gọi chung là Luật bầu cử đại biểu Quốc hội) và Điều 2 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (sau đây gọi chung là Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) được thực hiện như sau:


    1. Tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân được tính từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong Giấy khai sinh đến ngày bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (sau đây gọi là ngày bầu cử) đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định (ngày 22/5/2011). Trường hợp không có Giấy khai sinh thì căn cứ vào Sổ hộ khẩu hoặc Giấy chứng minh nhân dân để tính tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.


    Mỗi tuổi tròn được tính từ ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm trước đến ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm sau.


    2. Trường hợp không xác định được ngày sinh thì lấy ngày 01 của tháng sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Trường hợp không xác định được ngày và tháng sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.


    Điều 2. Lập danh sách cử tri và niêm yết danh sách cử tri


    Việc lập danh sách cử tri, niêm yết danh sách cử tri theo quy định tại các điều 22, 24 và 27 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, các điều 23, 24 và 28 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:


    1. Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, đủ mười tám tuổi trở lên và không thuộc các trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri quy định tại khoản 8 của điều này thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký thường trú và thực hiện quyền bầu cử tại nơi đó;


    2. Trong thời gian lập danh sách cử tri, những người có giấy chứng nhận chuyển đi của cơ quan có thẩm quyền ở nơi cư trú cũ thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi cư trú mới để tham gia bầu cử, cụ thể như sau: thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú đến đơn vị hành chính cấp tỉnh khác thì được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội.


    3. Sinh viên, học sinh, học viên có sổ tạm trú ở các trường chuyên nghiệp, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi học tập, công tác hoặc nơi đóng quân để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.


    4. Cử tri là người lao động tại các khu công nghiệp tập trung, các doanh nghiệp có đăng ký tạm trú, lưu trú thì được ghi tên vào danh sách cử tri để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.


    5. Kể từ ngày niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bỏ phiếu, cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị vũ trang nhân dân đang đi công tác và những người di cư tự do, đi lao động, làm việc, đi thăm người thân, đi du lịch ở nơi nào thì xuất trình với Uỷ ban nhân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi mới đến Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” do Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc do chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân cấp để được ghi tên bổ sung vào danh sách cử tri, tham gia bỏ phiếu ở nơi đó và được tính vào tổng số cử tri ở nơi mới đến. Nếu họ chưa có Thẻ cử tri, Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi mới đến yêu cầu những người này liên hệ với Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc chỉ huy đơn vị nơi lập danh sách cử tri trước ngày niêm yết danh sách cử tri để nhận Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” để được bầu cử ở nơi mới đến. Nếu thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện thì được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh thì được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú đến đơn vị hành chính cấp tỉnh khác thì được bầu đại biểu Quốc hội.


    6. Công dân Việt Nam công tác, lao động, học tập, du lịch, thăm người thân hoặc định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ, thì đến Uỷ ban nhân dân cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký thường trú); được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (nếu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú).


    7. Đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh lập danh sách cử tri và cấp giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác”.


    8. Những trường hợp không được ghi tên, xóa tên hoặc bổ sung tên vào danh sách cử tri được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 25 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.


    Điều 3. Về việc ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân


    Công dân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 2, Điều 3 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Điều 2, Điều 3 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân không quá hai cấp; nếu đã ứng cử đại biểu Quốc hội thì chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp.


    Những người không được ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại Điều 29 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 31 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.


    Điều 4. Về việc kê khai tài sản, thu nhập khi ứng cử


    Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải kê khai tài sản, thu nhập theo quy định tại mục 4 chương II của Luật phòng, chống tham nhũng; Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập; Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP ngày 13 tháng 11 năm 2007 của Thanh tra Chính phủ.


    Bản kê khai tài sản, thu nhập của người ứng cử là tài liệu trong Hồ sơ ứng cử.


    Điều 5. Căn cứ tính số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân


    1. Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân của mỗi đơn vị hành chính được tính trên cơ sở dân số theo quy định tại Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Số liệu dân số do Cục Thống kê cung cấp tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2010.


    2. Đối với các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có từ ba mươi đơn vị hành chính trực thuộc trở lên được bầu trên bốn mươi đại biểu; số lượng cụ thể do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.


    Điều 6. Đơn vị bầu cử


    Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) được xác định là huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), liên huyện hoặc liên xã; đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện được xác định là xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), liên xã hoặc liên thôn; đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã được xác định là thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố, khối phố (gọi chung là thôn, tổ dân phố), hoặc liên thôn, liên tổ dân phố.


    Trường hợp thành lập hai đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở một đơn vị hành chính huyện, xã hoặc ở một thôn, tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân cấp bầu cử có trách nhiệm xác định ranh giới rõ ràng, hợp lý giữa các đơn vị bầu cử để tổ chức thực hiện bầu cử thuận lợi.


    Điều 7. Số người ứng cử ở đơn vị bầu cử


    1. Số người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử được thực hiện theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.


    Trường hợp Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội làm cho số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi thống nhất với Uỷ ban bầu cử, chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội và báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định; nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người đạt yêu cầu trên thì Uỷ ban bầu cử báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định việc chuyển người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử có số dư nhiều nhất trong cùng tỉnh, thành phố đến đơn vị bầu cử không có số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu Quốc hội được bầu. Trong trường hợp không chọn được người có tín nhiệm cao nhất trong danh sách đã Hiệp thương lần thứ ba và không thể chuyển người ứng cử từ đơn vị bầu cử khác đến thì Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.


    2. Số người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử được thực hiện theo quy định tại Điều 42 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.


    Trường hợp Uỷ ban bầu cử quyết định xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân làm cho số người trong danh sách ứng cử ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn hai người so với số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Uỷ ban bầu cử sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người đạt yêu cầu trên thì Uỷ ban nhân dân cấp bầu cử quyết định việc giảm số đại biểu được bầu ở đơn vị bầu cử khuyết người ứng cử, trình Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; đối với đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thì do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Chính phủ phê chuẩn.


    Điều 8. Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội


    Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định tại Điều 29 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội được thực hiện như sau:


    1. Người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị chết, thì Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử để xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội.


    2. Trường hợp người ứng cử đã được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, nhưng trong thời gian Hội đồng bầu cử chưa công bố danh sách này mà người đó có hành vi vi phạm pháp luật thì xử lý như sau:


    a) Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc xoá tên người ứng cử đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật đã được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu;


    b) Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi trao đổi ý kiến với Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc xoá tên người ứng cử đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật đã được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giới thiệu.


    Điều 9. Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân


    Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại Điều 31 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:


    Người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị chết, thì Uỷ ban bầu cử, sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.


    Điều 10. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Quốc hội và ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân


    1. Trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định tại Điều 49 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội được thực hiện như sau:


    a) Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử. Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo quy định của pháp luật.


    Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử thì có quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với Hội đồng bầu cử. Quyết định của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng.


    b) Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử ngưng việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử.


    Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội thì Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.


    c) Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.


    d) Hội đồng bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.


    2. Trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại Điều 43 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:


    a) Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử. Ban bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo thẩm quyền.


    Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì có quyền khiếu nại với Uỷ ban bầu cử. Quyết định của Uỷ ban bầu cử là quyết định cuối cùng.


    b) Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử ngưng việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử.


    Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân thì Uỷ ban bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.


    c) Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.


    d) Uỷ ban bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Thường trực Hội đồng nhân dân khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.


    Điều 11. Vận động bầu cử của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân


    Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm.


    Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương nào thì thực hiện quyền vận động bầu cử ở địa phương đó.


    Điều 12. Mục đích, yêu cầu vận động bầu cử


    1. Việc tổ chức vận động bầu cử có mục đích sau đây:


    a) Tạo điều kiện cho người ứng cử gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri để báo cáo với cử tri dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu;


    b) Tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.


    2. Việc tổ chức vận động bầu cử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:


    a) Công khai, dân chủ, bình đẳng và xây dựng trong vận động bầu cử, tạo không khí trao đổi thẳng thắn, cởi mở giữa người ứng cử và cử tri;


    b) Không được lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, uy tín và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;


    c) Không biến vận động bầu cử thành nơi để khiếu nại, tố cáo hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo;


    d) Không được lạm dụng uy tín, chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử;


    đ) Không được lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình;


    e) Không được sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân để lôi kéo, mua chuộc cử tri;


    g) Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình vận động bầu cử.


    Điều 13. Hình thức, nội dung vận động bầu cử


    1. Việc vận động bầu cử của người ứng cử được tiến hành thông qua việc gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương nơi mình ứng cử tổ chức; trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng; gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người ứng cử công tác.


    2. Nội dung vận động bầu cử của người ứng cử bao gồm:


    a) Người ứng cử trình bày dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;


    b) Người ứng cử trình bày ý kiến của mình về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;


    c) Người ứng cử và cử tri trao đổi về những vấn đề cùng quan tâm;


    d) Người ứng cử trả lời các câu hỏi của cử tri.


    Điều 14. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong vận động bầu cử


    1. Uỷ ban bầu cử chỉ đạo công tác vận động bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về vận động bầu cử ở địa phương.


    2. Các cơ quan báo chí ở trung ương có trách nhiệm đưa tin về tình hình vận động bầu cử trong phạm vi cả nước, đưa tin về hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình tổ chức bầu cử.


    3. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong việc tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.


    4. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và chính quyền địa phương các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tạo điều kiện cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình; bảo đảm cho việc tổ chức vận động bầu cử được tiến hành công khai, dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật.


    5. Các cơ quan thông tin đại chúng ở địa phương có trách nhiệm đưa tin về Hội nghị tiếp xúc cử tri, trả lời phỏng vấn của những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và tình hình vận động bầu cử ở địa phương.


    Điều 15. Tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử


    1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp giới thiệu những nội dung cơ bản về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương để người ứng cử đại biểu Quốc hội xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình.


    Người được trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương nào cần kết hợp nghiên cứu tình hình địa phương đó và tình hình chung của cả nước để xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình;


    2. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì phối hợp với Uỷ ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; thành phần gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.


    Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã phối hợp với Uỷ ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri, thành phần gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.


    Uỷ ban nhân dân nơi tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri có trách nhiệm thông báo về thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị để cử tri tham dự đông đủ.


    3. Chương trình hội nghị tiếp xúc cử tri gồm các nội dung sau đây:


    a) Tuyên bố lý do;


    b) Đại diện Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc chủ trì cuộc tiếp xúc cử tri, giới thiệu và đọc tiểu sử tóm tắt của người ứng cử;


    c) Từng người ứng cử báo cáo với cử tri về dự kiến việc thực hiện trách nhiệm của người đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;


    d) Cử tri nêu ý kiến, đề đạt nguyện vọng của mình với những người ứng cử. Người ứng cử và cử tri trao đổi dân chủ, thẳng thắn và cởi mở những vấn đề cùng quan tâm;


    đ) Người chủ trì Hội nghị phát biểu ý kiến kết thúc Hội nghị.


    4. Sau Hội nghị tiếp xúc cử tri, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương, ý kiến của cử tri về từng người ứng cử đại biểu Quốc hội gửi đến Hội đồng bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính phủ; Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương mình gửi Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp.


    Điều 16. Vận động bầu cử trên các phương tiện thông tin đại chúng


    1. Người ứng cử đại biểu Quốc hội tiếp xúc, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội của Hội đồng bầu cử để trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội.


    Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử của Uỷ ban bầu cử (nếu có) để trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân.


    Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quản lý trang thông tin điện tử thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc đăng tải nội dung vận động bầu cử;


    2. Trên cơ sở chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sở Thông tin và Truyền thông cùng cấp tổ chức việc đăng tải nội dung phỏng vấn người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương, bảo đảm bình đẳng, đúng pháp luật, công bằng giữa những người ứng cử, tuân thủ các quy định về vận động bầu cử.


    Điều 17. Kinh phí vận động bầu cử


    Kinh phí vận động bầu cử do ngân sách nhà nước cấp từ kinh phí hoạt động thường xuyên của các cơ quan, tổ chức và kinh phí phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.


    Điều 18. Thời gian tiến hành vận động bầu cử


    Việc tổ chức để những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện quyền vận động bầu cử được bắt đầu từ ngày công bố danh sách những người ứng cử và kết thúc hai mươi bốn giờ trước giờ bỏ phiếu.


    Điều 19. Thẻ cử tri


    Người đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì được phát thẻ cử tri


    Thẻ cử tri của công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú ký tên và đóng dấu; đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ký tên và đóng dấu.


    Thẻ cử tri của công dân ở đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị ký tên và đóng dấu.


    Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri.


    Điều 20. Về biểu mẫu và dấu bầu cử


    Hội đồng bầu cử quy định mẫu thẻ cử tri, mẫu phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội, mẫu phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, mẫu Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” và các biểu mẫu khác phục vụ bầu cử.


    Hội đồng bầu cử quy định mẫu dấu của các tổ chức phụ trách bầu cử và giao cho Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc khắc dấu bầu cử trong địa phương mình.


    Điều 21. Địa điểm bỏ phiếu


    Địa điểm bỏ phiếu (phòng bỏ phiếu) phải được trang trí trang nghiêm, tiết kiệm, thuận tiện cho cử tri đến bầu cử, có đầy đủ bàn, ghế, bút, mực và các vật dụng khác phục vụ cho việc bầu cử.


    Điều 22. Xác định phiếu hợp lệ và phiếu không hợp lệ


    1. Những phiếu sau đây là phiếu hợp lệ:


    a) Phiếu bầu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát, có dấu của Tổ bầu cử;


    b) Phiếu bầu đủ hoặc ít hơn số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;


    c) Phiếu bầu gạch tên ứng cử viên không được tín nhiệm bằng cách gạch chéo, gạch xiên, gạch dọc hoặc gạch ngang, nhưng phải gạch hết họ và tên.


    2. Những phiếu sau đây là phiếu không hợp lệ:


    a) Phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát;


    b) Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử;


    c) Phiếu để số người được bầu quá số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;


    d) Phiếu gạch, xoá hết họ, tên những người ứng cử;


    đ) Phiếu ghi tên người ngoài danh sách những người ứng cử; phiếu có viết thêm; phiếu gạch vào khoảng cách giữa họ và tên hai ứng cử viên; phiếu khoanh tròn họ và tên ứng cử viên.


    Điều 23. Báo cáo tình hình trong ngày bầu cử


    1. Trong ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo với Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ; Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và cấp trên trực tiếp về các nội dung sau:


    a) Các điều kiện phục vụ cho ngày bầu cử;


    b) Những thuận lợi, khó khăn về giao thông, thời tiết ảnh hưởng đến việc bầu cử;


    c) Số cử tri đi bầu và tiến độ cử tri đi bầu;


    d) Dư luận trong nhân dân về cuộc bầu cử và những người ứng cử;


    đ) Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội;


    e) Những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn.


    2. Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo trực tiếp bằng điện thoại, thư điện tử hoặc fax đến Hội đồng bầu cử theo tiến độ hai giờ một lần. Kết thúc ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo đầy đủ với Hội đồng bầu cử các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này bằng fax; ở những nơi có sự cố đột xuất xảy ra, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc bầu cử thì phải báo cáo ngay với Hội đồng bầu cử để xin ý kiến chỉ đạo.


    3. Uỷ ban bầu cử có bộ phận thường trực để tiếp nhận thông tin từ các Ban bầu cử, Tổ bầu cử gửi đến.


    Điều 24. Biên bản xác định kết quả bầu cử


    1. Sau khi kết thúc cuộc bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương theo mẫu do Hội đồng bầu cử ban hành.


    2. Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ và Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp. Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp. Ban bầu cử gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Uỷ ban bầu cử.


    3. Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử có bộ phận tiếp nhận Biên bản xác định kết quả bầu cử.


    Hội đồng bầu cử tiếp nhận Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội tại những điểm sau:


    a) Văn phòng Quốc hội, số 37 đường Hùng Vương, quận Ba Đình, Hà Nội;


    b) Vụ Công tác miền Trung và Tây nguyên, số 4 đường Trần Quý Cáp, thành phố Đà Nẵng;


    c) Nhà khách Văn phòng Quốc hội – 165 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.


    Điều 25. Công bố kết quả bầu cử


    1. Sau khi nhận và kiểm tra Biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng bầu cử lập Biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước, Uỷ ban bầu cử lập Biên bản tổng kết cuộc bầu cử ở địa phương mình.


    2. Căn cứ vào Biên bản tổng kết cuộc bầu cử, Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước, Uỷ ban bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử ở địa phương mình.


    Điều 26. Tổng kết cuộc bầu cử


    Hội đồng bầu cử có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử trong phạm vi cả nước; Uỷ ban bầu cử có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương.


    Nội dung tổng kết cuộc bầu cử bao gồm:


    1. Đánh giá quá trình chuẩn bị cuộc bầu cử:


    a) Các bước chuẩn bị bầu cử theo quy định của pháp luật, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;


    b) Việc tổ chức tiếp xúc cử tri nơi công tác, nơi cư trú, nơi bầu cử, vận động bầu cử của những người ứng cử;


    c) Việc hướng dẫn, chỉ đạo công tác bầu cử của Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử ở địa phương;


    d) Việc tổ chức các Hội nghị hiệp thương;


    đ) Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quy định của pháp luật về bầu cử và các văn bản hướng dẫn bầu cử của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;


    e) Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương trong thời gian chuẩn bị bầu cử và trong ngày bầu cử;


    g) Việc xem xét, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến cuộc bầu cử;


    h) Sự phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức phụ trách bầu cử và các cơ quan, tổ chức hữu quan;


    i) Việc sử dụng kinh phí bầu cử.


    2. Những kinh nghiệm từ việc tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016:


    a) Việc chuẩn bị các điều kiện cho cuộc bầu cử;


    b) Việc chuẩn bị nhân sự ứng cử đại biểu;


    c) Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến cuộc bầu cử;


    d) Đánh giá về công tác lãnh đạo, chỉ đạo bầu cử ở địa phương.


    3. Kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc tổ chức cuộc bầu cử.


    Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi Báo cáo tổng kết bầu cử tại địa phương đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã gửi Báo cáo tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp.


    Điều 27. Không tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường ở các địa phương đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân


    Các huyện, quận, phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân theo Điều 1 của Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì không tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016 của cấp đó, không thành lập Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.


    Điều 28. Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân


    Việc thành lập Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện theo các quy định của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.


    Danh sách Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn phải được báo cáo lên Uỷ ban nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện.


    Điều 29. Thành lập Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tại phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân


    Uỷ ban nhân dân phường sau khi thống nhất với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt người gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, tập thể cử tri ở địa phương.


    Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ bầu cử thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 1 và khoản 6 Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.


    Điều 30. Gửi biên bản Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện, quận đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân


    Sau khi kết thúc các Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn, biên bản hiệp thương phải được gửi ngay đến Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện và Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban bầu cử cùng cấp.


    Điều 31. Tổ chức hội nghị cử tri ở phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân


    Hội nghị cử tri ở phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân để lấy ý kiến nhận xét những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức theo đơn vị tổ dân phố nơi cư trú thường xuyên của người ứng cử do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc phường phối hợp với Uỷ ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì.


    Điều 32. Gửi biên bản xác định kết quả bầu cử, biên bản tổng kết và báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện, quận đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân


    Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân gửi biên bản xác định kết quả bầu cử, biên bản tổng kết và báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình đến Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, thị trấn và Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện, quận.


    Điều 33. Hiệu lực thi hành


    Các tổ chức phụ trách bầu cử và các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan có trách nhiệm thực hiện Nghị quyết này.


    Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày ký.


    Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 1078/2007/NQ/UBTVQH11 ngày 29/01/2007.


                                                            Hà Nội, ngày 14 tháng 2 năm 2011


                                                         TM. UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI


                                                                                CHỦ TỊCH



                                                                        Nguyễn Phú Trọng (đã ký)

  • Mây phóng xạ đến Việt Nam không gây nguy hiểm đến con người

    Mây phóng xạ đến Việt Nam không gây nguy hiểm đến con người

    (Dân trí)- Dự báo ngày 25/3 mây phóng xạ bao trùm lên phía nam quần đảo Phillipines và có thể lan dần đến Việt Nam với nồng độ hạt nhân phóng xạ có xu thế giảm dần. Chuyên gia khẳng định, mức độ phóng xạ rất nhỏ, không đủ để ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.

    Thông báo mới nhất từ Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết đến chiều 24/3, các trạm quan trắc tại Đông Nam Á đặt tại Malaysia và Phillipines vẫn chưa phát hiện thấy hạt nhân phóng xạ.

    Trong khi đó, theo tính toán từ hình ảnh mô phỏng đám mây phóng xạ cho vùng Đông Nam Á, đám mây này hiện đang có một hướng di chuyển xuống phía tây nam đối với vị trí của nhà máy điện Fukushima 1, đến 25/3 nó sẽ bao trùm lên phía nam quần đảo Phillipines và lan dần về phía Việt Nam. Dự đoán đến hết ngày 25/3, đám mây phóng xạ vẫn chưa đi qua lãnh thổ Việt Nam và nồng độ hạt nhân phóng xạ có xu thế giảm dần.

     

     

    Kết quả phân tích hướng phát tán chất phóng xạ của Viện Nghiên cứu khí quyển Na Uy.

     

    Còn theo dự báo của Viện nghiên cứu không khí Na Uy, khối khí từ các nhà máy điện hạt nhân ở Fukushima có khả năng về tới vùng biển phía Nam của Việt Nam vào ngày 25/3. Kết quả đo mức bức xạ môi trường tại ba trạm quan trắc phóng xạ tại Hà Nội (2 trạm), Đà Lạt và kết quả đo nồng độ các nhân phóng xạ trong bụi khí tại Đà Lạt tính đến chiều  24/3 cũng cho thấy: chưa có mức tăng phông bức xạ bất thường nào diễn ra.

     

    Trước lo ngại của một số người dân về việc có thể nhiễm phóng xạ, ônng Ngô Đặng Nhân, Cục trưởng Cục An toàn Bức xạ và Hạt nhân cho biết mức độ phóng xạ (I-131 và Cs-137) trong đám mây có khả năng tới Việt Nam rất nhỏ, hoàn toàn không ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân.

    Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương cũng thông báo, theo phân tích về hoàn lưu gió trong thời gian tới cho thấy Việt Nam không bị ảnh hưởng của tro bụi và phóng xạ từ sự cố nhà máy điện hạt nhân tại Nhật Bản.

    Lý do là Việt Nam nằm ở xa về phía tây nam của Nhật Bản và nằm ở vĩ độ rất thấp so với vị trí của nhà máy điện hạt nhân Fukushima I. Trong khi đó, những ngày cuối tháng 3/2011 là thời kỳ cuối của mùa đông ở khu vực phía bắc châu Á, do vậy hoàn lưu chủ yếu chi phối khu vực này là các hệ thống gió thổi theo hướng từ phía tây sang đông. Do đó, khó có khả năng để các khối không khí chứa các chất bụi lơ lửng (trong đó có bụi phóng xạ) có thể di chuyển ngược lại và ảnh hưởng tới Việt Nam.

    Trong tháng 4 và tháng 5/2011, hoàn lưu gió trên khu vực đông bắc châu Á vẫn tiếp tục duy trì di chuyển theo hướng chủ đạo từ tây sang đông. Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục khẳng định, các trạm quan trắc trong nước đã được thông báo sẵn sàng để có thể cảnh báo sớm mức độ phóng xạ trong các đám mây khi chúng tới Việt Nam.

    Cũng trong ngày 24/3, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân đã tiến hành đo khả năng nhiễm bẩn phóng xạ của 2 công dân Việt Nam (1 lưu học sinh ở Saitama và 1 người sang dự hội thảo tại Ibaraki).  Kết quả không phát hiện thấy bất thường liên quan đến phóng xạ trong cơ thể của những người được kiểm tra. Vài ngày trước đó, Cục đã kiểm tra khả năng nhiễm phóng xạ của 3 người từ Nhật Bản về nước.

    Tình hình tại Nhật Bản được Tổ Công tác xử lý thông tin sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima I của Bộ Khoa học và Công nghệ thông báo:  Sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima I vẫn đang trong tầm kiểm soát. Tuy nhiên diễn biến của sự cố vẫn còn phức tạp. Do đã phát hiện đã có nhiễm bẩn phóng xạ vào lương thực thực phẩm và nước máy nên Chính phủ Nhật Bản đã thông báo lệnh giới hạn vận chuyển cũng như tiêu thụ các loại thực phẩm có liên quan của 2 tỉnh Fukushima và Ibaraki, đồng thời khuyến cáo không cho trẻ em dưới 1 tuổi sử dụng nước máy ở Tokyo. Bộ Y tế Nhật Bản cũng được khuyến cáo cần kiểm tra độ phóng xạ của hải sản có xuất xứ từ những khu vực biển phát hiện thấy nhân phóng xạ I-ốt và Xê-di trong nước biển.
     P. Thanh

  • Đinh Thị Huyền 48TH: “Cứ đi là sẽ đến”

    Đinh Thị Huyền 48TH: “Cứ đi là sẽ đến”


    Ø       Giấy khen Sinh viên Giỏi của Khoa và Trường


    Ø       Chứng nhận của Trường về Sinh viên nghiên cứu Khoa học năm  2008.


    Ø       Bảo vệ Đồ án Tốt nghiệp: 10 điểm


    Ø       Tốt nghiệp loại Giỏi (Điểm TB 8,12)


    Ø       Giải thưởng “ Nữ sinh công nghệ thông tin Việt Nam tiêu biểu năm 2010” do Trung ương Đoàn TNCS HCM và Bộ Khoa học và Công nghệ trao tặng.


    Ø       Là sinh viên xuất sắc được nhận học bổng giành cho sinh viên chuyên ngành Viễn thông, Điện tử, công nghệ thông tin năm học 2009 – 2010 trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ Thông tin – Truyền thông và Tập đoàn Công nghệ Huawei (Hoa Vĩ) – Trung Quốc.


     


    Những thành tích ấn tượng đó xướng tên một nữ sinh với niềm đam mê, sáng tạo,nỗ lực không ngừng trong một ngành học đầy vất vả đòi hỏi sự kiên trì và đầu tư nghiêm túc– đó là bạn Đinh Thị Huyền 48TH– Khoa Công nghệ thông tin Trường Đại học Thủy lợi. Vượt qua nhiều khó khăn ban đầu, sinh viên đại học Thủy lợi đã không ngừng phấn đấu học tập trong lĩnh vực công nghệ thông tin để có được trình độ, bản lĩnh vững vàng nắm giữ chìa khóa thành công của tương lai, góp phần vào dự phát triển CNTT đất nước và bạn Đinh Thị Huyền là một gương mặt xuất sắc .Nhân dịp này, PV WRU đã có cuộc phòng vấn ngắn với bạn Đinh Thị Huyền. Qua những chia sẻ của bạn, hy vọng sinh viên Thủy lợi chúng ta sẽ luôn có niềm vui, động lực học tập và cố gắng đạt kết quả cao hơn nữa, các bạn  nhé!





    PV: Đầu tiên xin chúc mừng bạn với những thành tích đã đạt được: “Nữ sinh tiêu tiểu ngành CNTT” và bây giờ là học bổng giành cho sinh viên có thành tích xuất sắc chuyên ngành viễn thông của Huawei, cảm xúc của bạn thế nào?


    ĐTH: Mình cảm thấy rất vui và hạnh phúc. Giải thưởng và học bổng là vinh dự lớn, đó sẽ là động lực để mình tiếp tục cố gắng hơn.


     PV: Là đại diện của phái nữ, tại sao bạn lại chọn cho mình Ngành CNTT?


    ĐTH: Mọi người thường nghĩ ngành CNTT phù hợp hơn với nam giới. Nhưng theo mình, với sự say mê CNTT thì dù là nam hay nữ đều sẽ không cảm thấy khó khăn khi lựa chọn theo ngành nghề này. Với sự yêu thích đó thì ai cũng có thể tìm thấy niềm vui, niềm lạc quan trong công việc của mình không quan trọng là nam hay nữ.  Đó là yếu tố chính để mình lựa chọn ngành CNTT.


    PV: Để có được những kết quả học tập như ngày hôm nay, bạn có thể chia sẻ một chút về bí quyết của mình trong học tập?


    ĐTH: Chỉ cần siêng năng chịu khó học kỹ những kiến thức nền tảng tại trường, cùng một chút yêu thích tìm tòi, khám phá mình nghĩ nhiều bạn cũng có thể đạt được thành tích tốt hơn như vậy nữa.


    PV: Bên cạnh chiếc máy tính, niềm say mê khác của bạn là gì?


    ĐTH: Bên cạnh chiếc máy tính mình cũng có những sở thích khác như: đi mua sắm với bạn bè (con gái mà), xem phim, nghe nhạc và cả đi du lịch nữa. 


    PV: Chỉ còn ít ngày nữa là bạn đã trở thành kỹ sư, bạn có thể cho độc giả  WRU biết một vài dự định sắp tới?


    ĐTH: Kế hoạch sắp tới của mình là sẽ tiếp tục tự hoàn thiện bản thân mình, học tập nâng cao trình độ, kiến thức của mình. Đồng với những kiến thức tích lũy được trong thời gian học tập tại trường mình hy vọng có thể tìm được công việc phù hợp với chuyên ngành và niềm yêu thích CNTT của mình.


    PV: Một slogan của bạn?


    ĐHT: Mình có một câu yêu thích: “Cứ đi là sẽ đến”.


    PV: Cám ơn bạn và chúc bạn thành công trong cuộc sống!







    Lễ trao học bổng của Bộ Thông tin – Truyền thông và Tập đoàn Hoa Vĩ (Bạn Đinh Thị Huyền thứ 4 từ trái qua)



    Thực hiện: Hà Linh Ngọc

  • Gặp mặt chúc Tết đầu Xuân Tân Mão 2011

    Gặp mặt chúc Tết đầu Xuân Tân Mão 2011


    Năm nay, trong thời khắc giao mùa khi một năm mới vừa sang, buổi gặp mặt đầu xuân Tân Mão ấm nồng trong men rượu sóng sánh, ngập tràn những lời chúc tụng tốt đẹp và không khí rộn ràng của ngày làm việc đầu tiên làm cho niềm hân hoan trong mỗi người như nhân lên gấp bội.


    Niềm vui ngày Tết vẫn còn để lại dư vị đâu đó trên những gương mặt rạng ngời trong buổi gặp mặt thân tình và ý nghĩa tại Hội trường T45 . Mọi người vui mừng gặp lại nhau sau Tết, cùng chúc tết nhau và mong đợi lời chúc đầu năm từ lãnh đạo Nhà trường như để tiếp thêm tinh thần phấn khởi bước vào một năm mới với khí thế mới trong lao động và học tập.







    GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường gửi đến toàn trường lời chúc mừng năm mới dồi dào sức khỏe, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng.

    Hiệu trưởng Nhà trường – GS.TS Nguyễn Quang Kim đã gửi đến thông điệp đầu xuân là những lời chúc tốt đẹp nhất đến với toàn thể giáo viên, cán bộ công nhân viên trong trường, tổng kết những thành quả đã đạt được trong năm qua và đồng thời nhấn mạnh những vấn đề trọng tâm mà toàn trường cần triển khai thực hiện trong năm mới 2011.Tuy còn bộn bề nhiều nhiệm vụ nặng nề với nhiều khó khăn, nhưng sự đồng lòng nhất trí của toàn thể giảng viên, cán bộ công nhân viên Nhà trường sẽ là sức mạnh vượt qua mọi thử thách để vững bước phát triển.













    Lãnh đạo Nhà trường mừng tuổi những phong bao lì xì may mắn

    Như một niềm vui nho nhỏ đầu năm, món quà để cả năm gặp nhiều may mắn – những bao lì xì đỏ thắm từ lãnh đạo Nhà trường được trao đến tận tay từng người. Những nụ cười, những niềm vui và những lời chúc mừng năm mới hạnh phúc luôn hiện hữu trong không gian đầm ấm và đầy sắc xuân.







    Quang cảnh tiệc rượu đầu xuân








    Cùng cạn ly cho một năm mới thêm nhiều thắng lợi mới



    Một mùa xuân mới với bao ước mơ, hy vọng lại đến, một năm mới hứa hẹn nhiều thành công nữa sẽ lại đến với Đại học Thủy lợi. Chào năm mới với những thắng lợi mới!


     


    Linh Ngọc


    (Ảnh HMT)

  • Kế hoạch tốt nghiệp K48 hệ đại học chính quy, 48LTC và 50CĐ năm học 2010 – 2011











    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


     Số: 41 KH/ĐHTL


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    Hà Nội, ngày 18 tháng 01 năm 2011



    KẾ HOẠCH


    Tốt nghiệp K48 hệ đại học chính quy, 48LTC & 50CĐ năm học 2010 – 2011


     


    1. LỊCH BẢO VỀ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP





























    TT


    Khóa học


    Thời gian bảo về ĐATN


    1


    K48 hệ ĐH (Hà Nội)


    14/02/2011 – 25/02/2011


    2


    Lớp 48LTC


    28/02/2011 – 04/3/2011


    3


    K50 hệ CĐ (Hà Nội)


    21/02/2011 – 25/02/2011


    4


    K48 hệ ĐH (Cơ sở 2)


    28/02/2011 – 06/3/2011


    5


    K50 hệ CĐ (ĐH2)


    28/02/2011 – 06/3/2011


    2. KHÁM SỨC KHOẺ SINH VIÊN TỐT NGHIỆP.


                      – Địa điểm: Trạm Y tế – Trường Đại học Thuỷ lợi


                      – Thời gian khám: (Sáng: từ 8h00 đến 11h30; Chiều: Từ 13h30 đến 17h00)


       + Sáng thứ Tư (23/3/2011)   : K48 khoa C, NL, V, B, 48LTC


       + Chiều thứ Tư (23/3/2011)   : K48 khoa N, CK, CNTT, K, 50CĐ


    3. LỄ TỐT NGHIỆP VÀ TRAO BẰNG TỐT NGHIỆP.


                      – Thời gian: Từ 14h00 ngày thứ Năm (24/3/2011)


                      – Địa điểm: Hội trường T45


                      – Thành phần: Toàn thể sinh viên K48, 48LTC và 50CĐ


    * Từ 13h00 ÷ 13h30 ngày 24/3/2010, tại sảnh Hội trường T45: Sinh viên ký sổ nhận bằng tốt nghiệp (xuất trình Chứng minh thư nhân dân hoặc Thẻ SV để kiểm tra), nhận trang phục tốt nghiệp. Sinh viên có mặt sau 13h30 và không ký sổ bằng sẽ không được nhận bằng tốt nghiệp trong buổi lễ.


    3. TRẢ HỒ SƠ TỐT NGHIỆP.


                      – Địa điểm: Hội trường T45


                      – Thời gian trả: Chiều thứ Sáu (25/3/2011), cụ thể:


                      + Từ 14h00 đến 15h00: Lớp 48C1, 48C2, 48C3, 48C4, 48Đ1, 48Đ2, 48M1, 48M2, 48K


                      + Từ 15h15 đến 16h15: Lớp 48N1, 48N2, 48H, 48B, 48V, 48TH1, 48TH2, 50CĐ, 48LTC


                      + Từ 16h30 đến 17h00: Trả bằng tốt nghiệp cho sinh viên chưa nhận.


    * Tại bàn trả hồ sơ tốt nghiệp, sinh viên cần thực hiện theo yêu cầu sau:


    + Xuất trình Chứng minh thư ND hoặc Thẻ SV và “Giấy chứng nhận sức khoẻ” của Y tế trường để kiểm tra.


    + Xuất trình và nộp “Phiếu thanh toán” đã có đầy đủ chữ ký xác nhận không nợ của các đơn vị trong trường. Mẫu “Phiếu thanh toán” phát hành tại bộ phận trực tư vấn sinh viên – Phòng CTCT & Quản lý sinh viên.


    + Vào ngày 01/4/2011, tại Phòng CTCT & Quản lý sinh viên: Trả hồ sơ chỉnh sửa những trường hợp có sai sót.


     


    Ghi chú: Đối với sinh viên học tại Cơ sở 2 & ĐH2: Lịch khám sức khỏe & lễ tốt nghiệp do Cơ sở 2 & ĐH2 tự bố trí và thông báo cho sinh viên.






    Nơi nhận:


    – ĐU, BGH, ĐTN, HSV;


    – TTrGD, Các khoa, P3, P5, Y tế, KTX, Tviện;


    – Các lớp K48, 48LTC, 50CĐ;


    – Website trường;

    – Lưu VT, CTCT&QLSV

    KT. HIỆU TRƯỞNG


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG


    (Đã ký)


     


     

    PGS.TS.  TRỊNH MINH THỤ

  • Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI sẽ chính thức diễn ra từ ngày 12 đến 19/1/2011.

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI sẽ chính thức diễn ra từ ngày 12 đến 19/1/2011.

    Đây là sự kiện chính trị quan trọng nhất của đất nước trong năm 2011, thu hút sự quan tâm không chỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đồng bào Việt Nam ở nước ngoài mà còn là của cả cộng đồng quốc tế.


     








     


    Trong những ngày này, đường phố Hà Nội như bừng lên sắc hồng tươi thắm bởi những tấm băngrôn, biểu ngữ mang nội dung: Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thiết thực chào mừng Đại hội XI của Đảng.

    Trên các tuyến phố chính như Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ, Kim Mã, Nguyễn Chí Thanh, Trần Duy Hưng, khu vực công viên Thủ Lệ, khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm…, những khẩu hiệu khổ lớn được lắp đặt với tiêu đề “Chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI” đã xuất hiện bằng hoa cúc vàng trên nền xanh.


     


    Trên những vòng xuyến ở giao lộ trung tâm, các chậu hoa cảnh với sắc màu rực rỡ được xếp đặt theo hình ngôi sao vàng 5 cánh, góp phần tạo nên khí thế tưng bừng trước ngày hội lớn.

    Hà Nội sáng nay rét ngọt. Tuy nhiên, ngay từ sớm tinh mơ, lực lượng cảnh sát giao thông, cảnh sát cơ động, công an phường và đội ngũ dân phòng đã có mặt đông đủ tại những khu vực quy định để giữ gìn trật tự và bảo đảm giao thông thông suốt khi Tiểu ban tổ chức phục vụ Đại hội XI của Đảng tổ chức tổng diễn tập tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung tâm Hội nghị Quốc gia, nơi diễn ra Đại hội.

    Hà Nội thực sự xanh, sạch, đẹp và sáng

    Một điều dễ dàng nhận thấy là không khí của thủ đô đã được cải thiện rất nhiều và trong lành hơn.

    Để thực hiện điều này, Công ty Môi trường đô thị Hà Nội đã huy động tối đa nhân lực, thiết bị, xe cộ, máy móc để làm vệ sinh đường phố.

    Hàng loạt xe tưới rửa đường, tưới hoa, cây cảnh và xe hút bụi đã phải hoạt động hết công suất từ ngày hôm trước.

    Chị Bình, công nhân quét đường trên phố Trần Duy Hưng khẽ dừng tay chổi, đưa tay quệt nhẹ những giọt mồ hôi đang lăn tròn trên trán, mặc dù tiết trời buổi sáng sớm chỉ ở mức dưới 10 độ C.

    “Mặc dù công việc vất vả, thường xuyên tiếp xúc với khói bụi nhưng chỉ cần nghĩ mình đã đóng góp một phần công sức nhỏ bé làm cho đường phố thêm sạch hơn nhân Đại hội Đảng lần thứ XI, qua đó làm đẹp hơn cho thủ đô Hà Nội là tôi cảm thấy vui rồi,” chị nói.

    Các tuyến đường Hà Nội hiện giờ thông thoáng, gọn gàng hơn ngày thường. Hiện tượng lấn chiếm vỉa hè làm nơi kinh doanh được hạn chế đến mức thấp nhất. Không còn tình trạng xe cộ dừng đỗ sai quy định.

    Tất cả các biểu hiện vi phạm đều được lực lượng công an và dân phòng phối hợp với đội trật tự đô thị nhắc nhở, xử phạt nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.

    Trung tâm Hội nghị Quốc gia đã sẵn sàng

    Trước cổng chính Trung tâm Hội nghị Quốc gia, người đi đường qua đây dễ dàng nhận thấy lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc được tạo thành bởi những khóm hoa tươi thắm.

    Các tấm panô, áp phích và biển chỉ dẫn được lắp đặt ngay ngắn, thẳng hàng trên các tuyến đường trong khuôn viên Trung tâm, góp phần làm cho bối cảnh thêm phần trang trọng.

    Với phương châm “chu đáo, an toàn, trách nhiệm, phối hợp,” tập thể cán bộ, nhân viên của Trung tâm tham gia phục vụ đại hội đang hoàn tất những công việc chuẩn bị cuối cùng.

    Trong hội trường, nơi diễn ra Đại hội XI của Đảng, khu vực lễ đài đã cơ bản hoàn tất phần trang trí. Các hàng ghế được vệ sinh sạch sẽ, gọn gàng.

    Hệ thống các phòng chức năng cũng đã được quy định rõ ràng, cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho các đại biểu, khách mời trong nước và quốc tế, đội ngũ phục vụ và giới truyền thông không phải mất nhiều thời gian khi muốn tìm đến liên hệ công tác.

    Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Bưu điện Trung ương là đơn vị chịu trách nhiệm đáp ứng yêu cầu đảm bảo an toàn tuyệt đối thông tin liên lạc phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.

    Tập đoàn VNPT đã lắp đặt tổng cộng 249 máy điện thoại cố định, 42 máy fax; lắp đặt dự phòng 150 điện thoại nội bộ tại Trung tâm và huy động thêm 300 điện thoại từ VNPT Hà Nội.

    Bưu điện Trung ương cũng đã triển khai hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của các hãng thông tấn trong nước, quốc tế tham gia đưa tin, truyền số liệu về các hoạt động của đại hội.

    Hoàn thiện trung tâm báo chí phục vụ Đại hội

    Trao đổi với phóng viên, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn cho biết: Có khoảng 500 phóng viên trong nước và khoảng hơn 100 phóng viên quốc tế tham gia đưa tin về Đại hội Đảng lần thứ XI.

    Phòng tác nghiệp báo chí trong nước và phòng tác nghiệp báo chí quốc tế ở gần nhau, lắp đặt khoảng 180 máy tính có kết nối đường truyền internet tốc độ cao.

    Phòng chờ phỏng vấn được bố trí 6 bàn với ghế ngồi riêng biệt để các phóng viên có thể tiến hành công việc của mình dễ dàng, thuận tiện.

    Thông cáo báo chí sẽ được cung cấp vào cuối giờ chiều để phóng viên tổng hợp thông tin về các hoạt động của đại hội diễn ra trong ngày, qua đó phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm giúp cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và cộng đồng quốc tế nhận thức sâu sắc hơn về những quan điểm, chủ trương, định hướng lớn thể hiện quá trình đổi mới tư duy của Đảng, tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.


    Toàn thể cán bộ, nhân viên, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, những người được trực tiếp tham gia phục vụ đại hội đang hết lòng, hết sức phục vụ để Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thành công tốt đẹp.
    Theo Vietnam+


    ( BBT: Theo Thể thao- văn hóa – thông tấn xã Việt Nam)

  • Huy động sinh viên tham gia Festival sinh viên năm 2011







    HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM TP HÀ NỘI


    BCH TRƯỜNG ĐH THỦY LỢI


    —-***—-


    Số 044  /ĐHTL.HSV


    (V/v: Huy động Sinh viên tham gia Festival


    Sinh viên năm 2011)


     


     


     


    Hà Nội, ngày 27 tháng 12  năm 2010


     


                Kính gửi:          Ban Chấp hành Liên Chi đoàn các Khoa


    BCN CLB Sinh viên trực thuộc


    Chi Hội sinh viên trong toàn trường


     


    Hướng tới kỷ niệm 61 năm ngày truyền thống Học sinh – Sinh viên (09/01/1950 – 09/01/2011), được sự đồng ý của Đảng ủy – Ban Giám hiệu và các Phòng, Khoa, Ban trong trường cho phép Ban Chấp hành Hội Sinh viên tổ chức “Festival Sinh viên năm 2011”, cụ thể như sau: 


    1.Thời gian: Từ 13h00 – 22h30, thứ 7 ngày 08/01/2010


    * 13h00 – 16h30: Các trò chơi và phần thưởng dành cho Sinh viên tham gia (đây là các hoạt động sôi nổi, mang tính tập thể và sự khéo léo của cá nhân,…)


    * 19h00 – 22h30: Chương trình tuyên dương cán bộ Hội Sinh viên giỏi năm học 2009 – 2010; Chương trình ca nhạc đặc sắc của các bạn sinh viên đến từ đội văn nghệ trường, trường ĐH Ngoại thương, HV Ngân hàng,……. đặc biệt có sự góp mặt của ca sĩ Đinh Mạnh Ninh (Sao Mai – 2010)


    2. Địa điểm: Trước và trong Hội trường T45 – Trường ĐH Thủy lợi


     


    Thông qua các hoạt động của Festival; góp phần giáo dục, bồi dưỡng để hình thành lớp Học sinh – Sinh viên mới “vừa hồng, vừa chuyên”; có kiến thức vững vàng, phong phú, có khả năng tiếp cận trí tuệ của thời đại, thiết tha với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có hoài bão lớn, lối sống đẹp, có sức mạnh truyền thống và bản sắc dân tộc, có trách nhiệm cao với cộng đồng, củng cố và phát triển rộng rãi tổ chức Hội Sinh viên Việt Nam, tập hợp, đoàn kết đông đảo Sinh viên thi đua học tập, rèn luyện, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN.


    Để Chương trình được thành công tốt đẹp, Ban Thư ký Hội Sinh viên đề nghị các Liên Chi đoàn, BCN CLB Sinh viên và các Chi hội trong toàn trường tuyên truyền, quảng bá Festival tới toàn thể Hội viên sinh viên trong đơn vị mình và cử sinh viên tham gia Festival, số lượng cụ thể như sau:


    Số lượng: 20SV/Chi hội (lớp)


    (Lưu ý: Riêng đối với các CLB bắt buộc 100% thành viên đang sinh hoạt tại CLB phải tham gia)


    Ban Thư ký Hội Sinh viên đề nghị các đơn vị cử sinh viên tham dự Festival  đúng theo số lượng đã được phân bổ./.


    Xin trân trọng cảm ơn!


     








    Nơi gửi:


    -Đảng ủy – BGH (để b/c)


    -BCH Liên Chi đoàn  (phối hợp th/h)


    -BCN CLB Sinh viên (thực hiện)


    -Chi hội (thực hiện)


    -Lưu VP.HSV


    TM. BAN THƯ KÝ HỘI SINH VIÊN


    P.CHỦ TỊCH THƯỜNG TRỰC


     


    (đã ký)


     


     


    Lê Văn Nhất


     Chương trình Festival sinh viên 2011: Xem tại đây

  • Quyết định về giao đề tài thiết kế tốt nghiệp cho sinh viên lớp đại học vừa làm vừa học Sài Gòn 16.






    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI



    Số 1631/QĐ-ĐHTL


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Hà Nội, ngày 13 tháng 12 năm 2010




    QUYẾT ĐỊNH
    Về giao đề tài thiết kế tót nghiệp cho sinh viên lớp
    đại học vừa làm vừa học Sài Gòn 16

    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


     


    Căn cứ Quyết định số 351 QĐ/TL ngày 28/04/1964 của Bộ Thuỷ lợi cũ (nay là Bộ Nông nghiệp & PTNT) quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Trường đại học Thuỷ lợi.


    Căn cứ Quyết định số 36/2007/QĐ- BGD ĐT ngày 28/06/2007 về việc ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo;


    Căn cứ kế hoạch đào tạo khoá học 2006 – 2011 cho khoá đại học vừa làm vừa học Sài Gòn 16;


    Căn cứ kết quả học tập của sinh viên các lớp đại học vừa làm vừa học Sài Gòn 16;


    Xét đề nghị của Trưởng phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên, Trưởng khoa Tại chức, Trưởng khoa Công trình và Giám đốc Cơ sở 2,


    QUYẾT ĐỊNH:


                Điều 1.  1/ Giao đề tài thiết kế tốt nghiệp và giáo viên hướng dẫn cho các sinh viên lớp Sài Gòn 16 .(Danh sách 1 kèm theo)


                2/ Giao đề tài thiết kế tốt nghiệp và giáo viên hướng dẫn có điều kiện cho các sinh viên còn nợ 1 học phần môn học ( Danh sách 2 kèm theo) 


     3/ Không giao đề tài thiết kế tốt nghiệp và giáo viên hướng dẫn cho các vì còn nợ trên 1học phần môn học. (Có danh sách 3 kèm theo)


                Điều 2. 1/Thời gian làm thiết kế tốt nghiệp là 14 tuần từ 13/12/2010 ÷ 08/04/2011, trong thời gian trên sinh viên chịu sự quản lý về mọi mặt của Nhà trường và thực hiện đầy đủ các yêu cầu của giáo viên hướng dẫn.


                2/ Những sinh viên  được giao đề tài thiết kế tốt nghiệp có điều kiện phải thi trả nợ vào ngày 16/12/2010, nếu không đạt sẽ không được tiếp tục làm đồ án tốt nghiệp.


                3/ Những sinh viên không được giao đề tài thiết kế tốt nghiệp phải học và thi trả nợ các học phần còn thiếu, khi trả nợ xong phải có đơn để Nhà trường xem xét cho làm tốt nghiệp với khoá sau trong thời gian 3 năm.

                Điều 3. Các ông Trưởng phòng Công tác chính trị & Quản lý sinh viên, Trưởng khoa Tại chức, Trưởng khoa Công trình và  Giám đốc Cơ sở 2, các đơn vị có liên quan, giáo viên và sinh viên có tên trong danh sách trên chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.


    Nơi nhận:                                                                                KT. HIỆU TRƯỞNG


    – Như điều 3;                                                                               


    – Lưu: VT, CTCT&QLSV.                                                                       (đã ký)


     


     


                                                                                                  PHÓ HIỆU TRƯỞNG


                                                                                              PGS.TS. Trịnh Minh Thụ

    Danh sách sinh viên được giao đề tài thiết kế tốt nghiệp

  • Tôn vinh Nhân tài đất Việt – “Kích hoạt” trạm thủy điện tương lai

    Tôn vinh Nhân tài đất Việt – “Kích hoạt” trạm thủy điện tương lai

    Giải thưởng Nhân tài Đất việt – một sân chơi lớn luôn đồng hành với niềm đam mê của các nhà khoa học trong nước, là sự động viên khích lệ các bạn trẻ tiếp tục trên con đường nghiên cứu khoa học, sáng tạo ra những sản phẩm công nghệ thông tin, khoa học tự nhiên và y học ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống. Trong lễ trao giải 2010 vừa qua, TS Nguyễn Văn Sơn – Phó Trưởng Khoa Năng lượng trường Đại học Thủy lợi đã đạt Giải Khuyến khích trong lĩnh vực CNTT, truyền thông, nhóm sản phẩm đã ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn.


    “Phần mềm tính toán chế độ chuyển tiếp của Trạm thủy điện” của TS Nguyễn Văn Sơn  là sản phấm duy nhất của nhóm đã ứng dụng thực tiễn được lọt vào chung khảo cuộc thi khu vực miền Bắc. Phần mềm được đánh giá cao về tính đột phá trong chủ đề và lĩnh vực ứng dụng, cũng như công nghệ thông tin.









    TS Nguyễn Văn Sơn (thứ 4 từ trái qua) tại buổi lễ trao giải Nhân tài Đất Việt 2010


    Giải quyết bài toán thực tế


    TS Nguyễn Văn Sơn cho biết,  thực tế xây dựng và sản xuất điện năng là bài toán rất phức tạp. Tính toán nước va và tính toán tháp điều áp theo phương pháp giải tích mất rất nhiều thời gian công sức. Việc tính toán nói trên hiện nay ở nước ta còn một số tồn tại, hạn chế, nhiều đơn vị còn tính toán áp lực nước va và tính toán dao động mực nước của tháp điều áp theo cách riêng rẽ, không xét được ảnh hưởng qua lại giữa các hạng mục, trong tính toán lại đưa vào nhiều giả thiết làm kết quả tính toán kém chính xác; không trực quan dẫn đến dễ nhầm lẫn, sai sót mà không phát hiện ra.


    Từ đó, tác giả đã suy nghĩ nghiên cứu để tìm cách tao ra một phần mềm giải quyết việc đó một cách chính xác hơn; mô phỏng bản chất vật lý của các đối tượng sát thực tế hơn; loại bỏ tối đa các giả thiết nếu có thể loại bỏ được và làm cho sản phẩm trực quan sinh động giúp cho người sử dụng dễ dàng phát hiện ra những sai sót của mình..


    Với mong muốn xây dựng một phần mềm mô phỏng toàn bộ hệ thống công trình, thiết bị và chế độ điều khiển tự động các nhà máy thuỷ điện sẽ được xây dựng trong tương lai, TS Nguyễn Văn Sơn đã phát triển được phương pháp mô phỏng, phương pháp tính mới và cụ thể hoá thành một phần mềm giải quyết triệt để các vấn đề nêu trên. Phầm mềm mang tên: Phần mềm tính toán chế độ chuyển tiếp của Trạm Thủy điện.


    Sản phẩm phần mềm Transients có 02 phần:


    Phần 1: Giúp các kỹ sư thiết kế tính toán áp lực nước trong đường hầm dẫn nước và tính toán dao động mực nước của tháp điều áp một cách trực quan, chính xác để từ đó lựa chọn giải pháp công trình đảm bảo về kỹ thuật và hiệu quả về kinh tế.


    Phần 2: Mô phỏng chế độ điều khiển hệ thống tự động của nhà máy thuỷ điện, phần này sẽ cho chúng ta thấy mức độ ổn định, chất lượng điều khiển, và chất lượng điện năng của nhà máy thuỷ điện.


    Tiến sĩ Nguyễn Văn Sơn đã nghiên cứu các hệ phương trình toán lý mô phỏng các bản chất vật lý của hệ thống, ứng dụng phương pháp đường đặc trưng hệ phương trình truyền sóng nước va, mô hình hóa sơ đồ, phần tử hóa, loại bỏ hầu hết các giả thiết gần đúng, lập chương trình trên máy tính giải quyết đồng thời các tồn tại.


    Chương trình được lập bằng ngôn ngữ Visual basic và ngày càng được cải tiến nâng cấp với giao diện đồ họa thân thiện trực quan sinh động tính toán nhanh, giúp các nhà tư vấn tiết kiệm thời gian công sức và nâng cao độ tin cậy  . Sản phẩm đã giúp các kỹ sư thiết kế tính toán nước va và tính toán dao động mực nước của tháp điều áp một cách dễ dàng, chính xác. Từ đó các nhà tư vấn có thể đưa ra các giải pháp công trình hợp lý, giảm giá thành công trình, tiết kiệm chi phí cho nền kinh tế quốc dân, nâng cao tuổi thọ của các thiết bị, đảm bảo sự làm việc ổn định của các thiết bị, hạn chế sự cố và mang lại chất lượng điện tốt nhất.


    Thương mại hóa sản phẩm, chuyển giao và ứng dụng


    Cũng theo TS Nguyễn Văn Sơn, hiện nay ở Việt Nam chưa thấy có sản phẩm thương mại nào giải quyết vấn đề này trên thị trường. Trên thế giới cũng có một số phần mềm đơn lẻ, chưa có tính hệ thống cao, mới chỉ dừng lại ở lưu hành nội bộ, tương đối khó sử dụng. Sản phẩm có ưu điểm nổi bật hơn là rất trực quan, dễ sử dụng, từ số liệu đầu vào đến kết quả đầu ra đều được đồ thị hoá rất trực quan, nên rất dễ phát hiện ra sai sót trong quá trình thao tác. Điểm khác biệt lớn nhất trong sản phẩm là sử dụng phương pháp lặp phi tuyến có lựa chọn thông minh, nên cho kết quả chính xác trên toàn miền tính toán, mang lại hiệu quả về thời gian và kinh tế.









    Tác giả Phần mềm tính toán chế độ chuyển tiếp của Trạm Thủy điện

    Phần mềm sau khi ra đời cho đến nay đã được ứng dụng rộng rãi, được các đơn vị đưa vào sử dụng như:  Công ty tư vấn xây dưng điện 1, Công ty tư vấn xây dưng điện 2, Công ty tư vấn xây dưng điện 4, Công ty tư vấn Sông đà, Công ty cổ phần tư vấn dầu khí điện lực, Trung tâm kỹ thuật thuỷ điện và NLTT… Đã áp dụng tính toán cho rất nhiều trạm thuỷ điện như Thuỷ điện Huội Quảng, TĐ Quảng trị, TĐ A Lưới, TĐ Za Hưng, TĐ Buôn Kớp, TĐ Hủa Na, TĐ Thái an, TĐ Xêkaman 3, TĐ Núi cốc, TĐ Dam Bri…


    Tại Công ty CP Tư vấn Xây dựng Điện 1, phần mềm đã bắt đầu áp dụng từ năm 2003. Theo TS Phạm Nguyên Hùng, Trưởng đoàn thiết kế thủy điện đánh giá, phần mềm có độ chính xác tương đương với các sản phẩm nhập ngoại cùng loại và chính xác hơn so với phương pháp truyền thống. Nếu như trước kia khi chưa áp dụng phần mềm này thì một mô hình chạy thử nghiệm phải thực hiện trong nhiều tháng nhưng khi áp dụng thì chỉ cần một vài ngày là đã cho kết quả như mong đợi.


    Sự ra đời và ứng dụng phần mềm là bước đột phá trong ngành Thủy lợi  – Thủy điện tại Việt Nam với hiệu quả cao và tiết kiệm  lên tới hàng tỷ đồng cho mỗi công trình thủy điện. Hiện nay, phần mềm đang được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện và chuyển giao ứng dụng rộng rãi hơn.


    Giải  thưởng của TS Nguyễn Văn Sơn là tín hiệu vui và niềm tự hào chung cho những bước phát triển mạnh mẽ áp dụng CNTT trong lĩnh vực Thủy lợi, là sự tôn vinh và trân trọng của đất nước đối với những con người trí tuệ sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc và sự say mê, nhiệt huyết cống hiến cho cho nền khoa học nước nhà.


    Hà Linh Ngọc


     

  • Festival sáng tạo Trẻ Thủ đô lần thứ 7-2010.

    Festival Sáng tạo trẻ là hoạt động trí tuệ của tuổi trẻ thủ đô trên tất cả các lĩnh vực nhằm khuyến khích, cổ vũ đoàn viên, thanh niên phát huy sáng kiến, đề xuất các ý tưởng, các phát minh sáng chế, đề tài khoa học, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, làm chủ và ứng dụng khoa học – công nghệ hiện đại góp phần phát triển kinh tế – xã hội; đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của thủ đô và đất nước.


    Các nội dung chính diễn ra tại Festival gồm: Triển lãm Sáng tạo Trẻ với chủ đề “Sức trẻ Thăng Long”, trưng bày các sản phẩm sáng tạo của tuổi trẻ và các ý tưởng xuất sắc trong cuộc thi “Ý tưởng sáng tạo vì Thủ đô nghìn năm văn hiến và anh hùng”; tổ chức “Ngày công chức trẻ Thủ đô với cải cách hành chính”; diễn đàn “Nâng tầm thương hiệu Việt”; tổ chức lễ tuyên dương “Tài năng sáng tạo trẻ Thủ đô” và phát động Festival sáng tạo trẻ Thủ đô lần thứ VIII…


    Trường Đại học Thủy Lợi tham gia Festival lần này với nhiều hoạt động trong triển lãm “Sức trẻ Thăng Long”, nhằm thông qua đó giới thiệu hình ảnh Đại học Thủy Lợi đến gần hơn với bè bạn. Đó là triển lãm ảnh các hoạt động văn hóa, thể thao, các phong trào nghiên cứu khoa học, hoạt động chào mừng 50 năm thành lập Trường; mô hình Robocon đã dùng trong thi đấu Robocon năm 2009; các thông tin giới thiệu vể Trường; mô hình về thoát lũ ở đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt tham gia dự thi đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên Nguyễn Hoàng Anh, 49C4 – đã đạt giải Nhất cấp Trường năm 2009. Bên cạnh đó sẽ có 100 sinh viên tình nguyện Trường Đại học Thủy Lợi tham dự mít tinh vào tối ngày 28/11.


    Các chương trình sẽ được tổ chức vào ngày 27 và 28/11/2010 tại Vườn hoa Lý Thái Tổ – Đường Đinh Tiên Hoàng, rất mong sự quan tâm của các thầy cô và các bạn sinh viên.


    Anh Nguyễn.