Tác giả: Data Old

  • Sinh viên Đại học Thuỷ lợi: Khám phá “Rung chuông vàng”

    Sinh viên Đại học Thuỷ lợi: Khám phá “Rung chuông vàng”

    RING THE GOLDEN BELL là một gameshow rất ăn khách của hãng truyền hình Hàn Quốc KBS TV1, đã vượt lên 240 chương trình giải trí của các đài truyền hình thuộc 60 quốc gia để giành giải thưởng Jeunesse International do UNESCO bảo trợ. VTV3 đã “Việt hóa” nội dung và thể thức của “RING THE GOLDEN BELL” để phù hợp hơn với sinh viên Việt Nam có tên gọi là “Rung chuông vàng”.


     Luật chơi rất đơn giản, sẽ có 100 sinh viên của 1 trường đại học sẽ đồng loạt trả lời các câu hỏi từ 1 đến 30 bằng cách viết đáp án của mình lên tấm bảng. Sau mỗi câu hỏi, ai trả lời sai sẽ phải rời khỏi vị trí của mình và bị loại khỏi cuộc chơi. Những người có đáp án đúng sẽ được tiếp tục trả lời câu hỏi tiếp theo.. Người chơi có thể sử dụng sự trợ giúp từ phía các thày cô giáo của mình. Ngoài ra, hai người có số câu trả lời đúng nhiều nhất tại mỗi cuộc chơi sẽ được tham dự “Vòng thi đặc biệt” – cuộc thi đấu giữa các trường đại học trong cả nước.


    Thử sức tại một sân chơi trí tuệ lớn do VTV3, Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức, tại Nhà thi đấu Hai Bà Trưng, Hà Nội, vừa qua Đội tuyển Trường Đại học Thuỷ lợi đã dự thi “Rung chuông vàng”. Trước đó, để chọn ra 100 bạn xuất sắc tham dự chương trình tại trường quay, Trường cũng đã tổ chức cuộc thi sơ tuyển từ hơn 300 bạn sinh viên đăng ký dự thi ở các lớp trong trường.











    100 thí sinh trường Đại học Thuỷ lợi trong cuộc thi Rung chuông vàng, tại Nhà thi đấu Hai Bà Trưng


    Ngoài việc trả lời những câu hỏi trong phạm vi chương trình về nhiều lĩnh vực: khoa học, văn hóa xã hội, thể thao, câu hỏi tình huống…, các bạn sinh viên Thuỷ lợi còn có dịp bộc lộ tâm sự cũng như sự dí dỏm hài hước và chất sinh viên qua những cuộc phỏng vấn, trao đổi ngắn với người dẫn chương trình. Sau câu hỏi thứ 4, khi chỉ còn 5 thí sinh trên sàn đấu, các thầy cô trong đội cứu trợ vào cuộc và 75 thí sinh được trở lại với cuộc thi.


    Cuộc chơi tiếp diễn đầy bất ngờ và hấp dẫn với những phần chơi quen thuộc của Rung chuông vàng. Câu hỏi Tủ sách của bạn có sự xuất hiện của vị khách mời được khán giả yêu mến từ Sao mai Điểm Hẹn 2004 – ca sĩ Tùng Dương . Ngoài bài hát tham dự Bài hát Việt 2006 “Sáng nay” gửi đến khán giả, Tùng Dương còn mang đến chương trình một câu hỏi khá hóc búa về tác phẩm “Con hủi” của nữ văn sĩ Ba Lan Helena Mniszek làm cho nhiều thí sinh Thuỷ lợi phải đau đầu.  Ông Khalid Muhmood, Tổng giám đốc tổ chức Giáo dục và Đào tạo Apollo góp mặt với câu hỏi tiếng Anh dựa trên một vở kịch ngắn do hai MC của chương trình: Hải Đăng và Diệp Chi thể hiện.


    Bạn Phạm Minh Hải, sinh viên lớp 47C1 là thí sinh bám trụ cuối cùng trên sàn đấu đến câu hỏi số 18(Chương trình chi tiết mời thầy cô và các bạn đón xem trong chương trình Rung chuông vàng phát vào lúc 21h ngày 9/4/2007) và giành được giải thưởng 5 triệu đồng cho người chơi xuất sắc nhất trong đêm dự thi Rung chuông vàng của Trường Đại học Thuỷ lợi.










    GS. TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng uỷ, Phó Hiệu trưởng Nhà trường chúc mừng thí sinh xuất sắc nhất



    Sau SV 96, 2000, “Rung chuông vàng” thật sự là sân chơi lý tưởng để sinh viên, giảng viên các trường đại học thể hiện tài năng, trí tuệ và hơn thế, là cơ hội để các trường đại học quảng bá hình ảnh, thương hiệu của mình.

    Linh Ngọc


    (Ảnh HMT)

  • Sử dụng nguồn vốn của ADB để thực hiện Chiến lược phát triển Trường ĐH Thủy Lợi

    Sử dụng nguồn vốn của ADB để thực hiện Chiến lược phát triển Trường ĐH Thủy Lợi

     


     Chiều hôm qua, ngày 13/02/2007 tại P223, trường Đại học Thuỷ Lợi, GS. TS Đào Xuân Học – Hiệu trưởng Nhà Trường đã có buổi làm việc với đại diện Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), ông Omkar Shrestha, Phó Giám đốc Quốc gia; Trưởng ban, Kinh tế và Chương trình về việc sử dụng vốn của ADB thực hiện Chiến lược phát triển Nhà trường. Tham dự buổi làm việc còn có bà Nguyễn Thị Tuyết Hoà  Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế – Bộ Nông Nghiệp & PTNT.









     


    Sau khi nghe GS. TS Đào Xuân Học báo cáo về quan điểm và cách thức đổi mới của Trường Đại học Thuỷ Lợi; những yêu cầu trước mắt và lâu dài thực hiện Chiến lược phát triển của Trường giai đoạn 2006- 2020, ông Omkar Shrestha đã đánh giá cao bản Chiến lược, qua đó thấy được sự quyết tâm rất lớn và liên tục đổi mới của Trường đối với sự nghiệp phát triển giáo dục.


     


    Quyết tâm và cách thức tiến hành đổi mới là điều rất quan trọng nhưng chưa đủ, hơn lúc nào hết, nhu cầu về vốn đầu tư đang đặt ra cho Trường Đại học Thủy Lợi một sự quan tâm đặc biệt – GS. TS Đào Xuân Học nói. GS bày tỏ mong muốn ADB sẽ quan tâm giành tài trợ giúp Trường Đại học Thủy Lợi phát huy có hiệu quả năng lực và trí tuệ của mình cho đào tạo và phát triển Thủy Lợi, góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững kinh tế – xã hội của Việt Nam.


     


    ADB đang mở rộng các hoạt động hợp tác các vấn đề về nước với các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương thông qua khoản viện trợ trị giá 3,2 triệu USD. Các dự án về nước tại khu vực này sẽ được ADB đầu tư thông qua Chương trình Cấp vốn cho các dự án nước giai đoạn 2006-2010. Đây quả thực là tín hiệu đáng mừng cho Trường Đại học Thủy Lợi trong giai đoạn phát triển đầy thách thức và khó khăn này. Ông Omkar Shrestha nhấn mạnh, ADB chỉ hoạt động có thời hạn ở Việt Nam, việc đóng góp vào Trường Đại học Thủy Lợi – một trường đại học đầu ngành đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển ngành Nước, sẽ tồn tại một cách lâu dài và có ý nghĩa quan trọng trong các chính sách về nước của ADB (“Nước cho tất cả”). Ông còn khẳng định Đoàn công tác của ADB sẽ đến Trường Đại học Thủy Lợi vào tháng 3 năm 2007 để làm việc trực tiếp với các Phòng, Khoa trong Nhà trường, xác định cụ thể các hạng mục đầu tư nhằm giúp Trường Đại học Thuỷ Lợi tiếp tục phát triển một cách vững chắc trong thời gian tới.


     


    LW


    (Ảnh HMT)


     






    Ngân hàng phát triển ADB


    Với tôn chỉ hoạt động là giúp các nước đang phát triển giảm đói nghèo và tăng cường hợp tác trong khu vực, ADB (Asian Development Bank) chính thức đi vào hoạt động từ 19/12/1966, với trụ sở chính đặt tại Manila, Philipin. Ban đầu ADB chỉ có 31 quốc gia hội viên, đa dạng về tầm cỡ, đặc điểm, nhu cầu và tiềm năng, trong đó có 19 nước trong khu vực (châu Á – Thái Bình Dương)  và 12 nước ngoài khu vực. Cho đến nay, sau 38 năm hình thành và phát triển, ADB đã trở thành một tổ chức gồm 63 nước hội viên bao gồm 45 nước trong khu vực và 18 nước ngoài khu vực châu Á – Thái Bình Dương.


    Nước cho tất cả


    Nước cho mọi sự sống, cho thu hoạch cao, sức khoẻ, triển vọng và sinh thái trù phú chỉ khi nước được quản lý tốt và lâu bền.  Nhưng nếu không sử dụng tốt nước sẽ là nhân tố làm nghèo đói, bệnh tật, suy thoái môi trường và nẩy sinh mâu thuẫn con người.


    Khu vưc Châu á-Thái Bình Dương là ngôi nhà chung của 900 triệu người nghèo nhất trên thế giới-vì nguồn nước sạch cấp cho họ là thấp nhất thế giới. Người nghèo rất khó khăn trong việc nắm bắt những vấn đề liên quan tới nước đe doạ tới sự sống còn của họ.  Ngày nay 1/3 người dân Châu á phải đi xa nhà không dưới 200 mét để lấy nước sạch, trong khi 1/2 người dân Châu á không có đu nước sạch và vệ sinh môi trường.  ADB có trách nhiệm tới vấn đề này và coi nước như là một thách thức chính trong hoạt động của mình trong khu vưc.


     


    Nước cho tất cả: Chính sách về nước của ADB


    Tổng quan và mục tiêu


    Với khu vưc Châu á-Thái Bình Dương cần xây dựng và thực hiện một chính sách tổng hợp, tiếp cận đa ngành để quản lý nước và phát triển.  Nói chung chính sách cần đạt tới:


    – Coi nước là hàng hoá kinh tế sống còn, nước cần phải được quản lý để phát triển kinh tế và giảm nghèo công bằng và bền vững


    – Phương pháp tiếp cận mọi người cùng tham gia sẽ giup giải quyết những thách thức về bảo vệ nguồn nước trong khu vưc


    Điểm mới trong chính sách này:


    Chính sách về nước đáp ứng yêu cầu cấp bách của khu vưc Châu á-Thái Bình Dương, tiếp cận quản lý và phát triển nguồn nước tổng hợp, liên ngành.  Đặc biệt ADB chủ chương coi:


    – Nước là hàng hoá sống còn của xã hội


    – Nước cần được quản lý thận trọng để phát triển kinh tế và giảm nghèo công bằng và bền vững


    – Phương pháp tiếp cận mọi người cùng tham gia sẽ giup giải quyết những thách thức về bảo vệ nguồn nước trong khu vưc


    Tổng Hợp


     

























     


     






















































  • Kế hoạch đánh giá điểm rèn luyện của sinh viên toàn trường học kỳ 1 năm học 2006 -2007

    Kế hoạch đánh giá điểm rèn luyện của sinh viên toàn trường học kỳ 1 năm học 2006 -2007










    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    —————-


           Số: 98 KH/ĐHTL- TCT&QLSV


    (V/v: Kế hoạch đánh giá điểm rèn luyện của sinh viên toàn trường học kỳ 1 năm học
    2006 -2007)


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    ———- & ­­———–
    Hà Nội ngày 25 tháng 1 năm 2007



     


     




    Kính gửi:  – Các Khoa, Cơ sở II


         – Các lớp trong toàn trường


    Căn cứ vào kế hoạch đào tạo, xét tình hình và điều kiện thực tế, Nhà trường  hướng dẫn triển khai đánh giá kết quả rèn luyện của sinh viên các Khoá trong toàn trường học kỳ I năm học 2006 – 2007 như sau:
    – Cá nhân từng sinh viên tự đánh giá từ ngày 29/01 ¸28/02/2007.

    – Ban cán sự lớp, BCH chi đoàn, Giáo viên chủ nhiệm họp xét từ 01 ¸02/03/2007.


    – Ban chủ nhiệm Khoa họp xét từ 05 ¸ 07/03/2007.


    – Ban chủ nhiệm các Khoa tổng hợp gửi về phòng Công tác chính trị & QLSV  trước ngày 09/03/2007.


    Để có kết quả điểm rèn luyện của sinh viên phục vụ cho việc xét học bổng học kỳ 1(06-07) cho sinh viên, Nhà trường đề nghị sinh viên, các lớp, các Khoa, Cơ sở II thực hiện đúng kế hoạch đã đưa ra..





    Ghi chú: Để thống nhất trong toàn trường, đề nghị:


    – Các khoa, Cơ sở 2 nhận mẫu đánh giá điểm rèn luyện (bằng File và bằng văn bản) tại Phòng Công tác chính trị & QLSV hoặc qua hộp thư điện tử, trên trang Web của trường.


    – Các khoa và cơ sở 2 nhập dữ liệu vào máy tính bằng Font chữ Times New Roman, Size: 13.


    –  Các khoa và cơ sở 2 chuyển bản tổng hợp kết quả điểm rèn luyện về phòng Công tác chính trị & QLSV (bằng công văn & bằng File theo địa chỉ Email: [email protected])










    -Nơi nhận


     ĐU, BGH (để b/c).


    – Như kính gửi


    – Trang Web trường.


    – Lưu P7, VT.


    TL. HIỆU TRƯỞNG


    TRƯỞNG PHÒNG CTCT & QLSV


    (Đã ký)


     


     


     


       ThS. Dương Văn Bá



         
     Mẫu đánh giá điểm rèn luyện: Chi tiết        

    Download file 

  • Thông báo v/v bố trí phòng học luyện thi Olimpic Thủy lực






    TRƯỜNG ĐH THUỶ LỢI


    PHÒNG ĐÀO TẠO ĐH&SĐH


     


    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


     


    Hà Nội, ngày 25  tháng 12  năm 2006


     


    THÔNG BÁO


    (V/v bố trí phòng học luyện thi Olimpic Thủy lực )


       Phòng Đào tạo ĐH&SĐH xin thông báo kế hoạch tổ chức phòng học luyện thi Olimpic Thủy lực như sau:


    Thời gian học: từ 28/12/2006 – 10/05/2007


    Phòng học: A4-326





















    Ngày học


    Buổi học


    Thời gian


    Thứ Ba


    Tối


    19h00


    Thứ Năm


    Tối


    19h00


    Thứ Bảy


    Sáng


    08h00


     


    Buổi học đầu tiên vào tối thứ năm ngày 28/12/2006.


     


    Riêng trong tháng 3 có một số buổi thay đổi lịch học, phòng học như sau:


     






























    Ngày học


    Buổi học


    Thời gian


    Phòng học


    08/03/2007


    Tối


    19h00


    A2-327


    13/03/2007


    Tối


    19h00


    A2-327


    17/03/2007


    Chiều


    14h00


    A4-326


    20/03/2007


    Tối


    19h00


    A2-327


     


                     







    Nơi nhận:


    – BM Thủy lực


    – P1


    – Thanh tra giáo dục


    – Lưu P3.


    TRƯỞNG PHÒNG


     


    (đã ký)


     


    PGS.TS. PHẠM HÙNG



  • Phương pháp Giảng dạy lấy người học làm trung tâm (LCTM)
và phát triển chương trình đào tạo có sự tham gia (PCD)

    Phương pháp Giảng dạy lấy người học làm trung tâm (LCTM) và phát triển chương trình đào tạo có sự tham gia (PCD)








    Hội thảo “Phương pháp phát triển chương trình có sự tham gia (PCD) và giảng dạy lấy người học làm trung tâm (LCTM)”


        Đổi mới phương pháp dạy và học là một nhiệm vụ to lớn của bất cứ một nền giáo dục nào, nhất là khi những phương pháp dạy học truyền thống ảnh hưởng khá nặng của chủ nghĩa kinh nghiệm, không còn đủ sức chuyển tải khối lượng kiến thức lớn và càng phức tạp của nhân loại.


    Để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong thời gian qua đã giới thiệu đến cán bộ, giáo viên, lãnh đạo các trường thuộc Bộ về những nội dung chính của “Phương pháp Giảng dậy lấy người học làm trung tâm (LCTM) và Phát triển chương trình có sự tham gia (PCD)”.


    Được sự giúp đỡ của dự án “Hỗ trợ phổ cập và đào tạo phục vụ lâm nghiệp và nông nghiệp  vùng cao” (ETSP), trong từ năm 2003 đến năm 2005, Bộ đã tổ chức các khóa tập huấn về LCTM và PCD cho lãnh đạo và giáo viên nòng cốt các trường thuộc Bộ, trong đó có Trường Đại học Thủy Lợi.


    Để có cách nhìn chung nhất về Phương pháp LCTM và PCD, kính mời qúy Thầy, Cô  tải tài liệu theo liên kết sau:

    PCD booklet VN final
    LCTM Handbook VN


  • Quyết định Ban hành Quy chế kết hợp giữa các Trường ĐH và Viện nghiên cứu thuộc Bộ NN và PTNT trong đào tạo và NCKH

          Ngày 30/10/2006, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát đã ký quyết định số 98/2006/QĐ-BNN về việc Ban hành Quy chế kết hợp giữa các Trường đại học và Viện nghiên cứu thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong đào tạo và nghiên cứu khoa học.


    Quy chế quy định nội dung, hình thức kết hợp; trách nhiệm và quyền lợi của các tổ chức, cá nhân khi thực hiện kết hợp. Chi tiết quyết định xem tại liên kết sau:


     


     Quyết định số 98/2006/QĐ-BNN

  • Hội thảo khoa học chào mừng kỷ niệm 30 năm thành lập các Đoàn ĐH (1976-2006)

    Hội thảo khoa học chào mừng kỷ niệm 30 năm thành lập các Đoàn ĐH (1976-2006)

    Nhân kỷ niệm 30 năm thành lập các Đoàn ĐH, hôm nay (15 tháng 10 năm 2006) Trường Đại học Thủy lợi – Cơ sở 2 tổ chức buổi “Hội thảo khoa học chào mừng kỷ niệm 30 năm thành lập các Đoàn ĐH (1976-2006)” tại phòng hội thảo Cơ sở 2 Đại học Thủy lợi – Số 2 Trường sa, Phường 17, Quận Bình Thạnh, Tp. HCM.


    Trong ngày Hội thảo này, Cơ sở 2 – Đại học Thủy lợi vinh dự được đón tiếp các vị khách quý nguyên là những Lãnh đạo Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn như: GS.TSKH Phạm Hồng Giang – nguyên Thứ Trưởng, GS.TS Vũ Trọng Hồng – Nguyên Thứ Trưởng. Cũng trong buổi Hội thảo, Cơ sở 2 cũng vinh hạnh được các nhà khoa học đầu ngành như GS.TSKH Nguyễn Ân Niên – nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam, GS.TS. Lê Sâm – Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Miền nam, GS. Nguyễn Sinh Huy – nguyên Giám đốc trung tâm ĐH1, TS. Tô Văn Trường – Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền nam, TS. Trịnh Công Vấn – Giám đốc Công ty Cổ phần TVXD Thủy lợi 2… và nhiều nhà khoa học đầu ngành khác đóng góp các báo cáo khoa học và ý kiến thảo luận.


    Về phía đoàn Lãnh đạo trường ĐH Thủy lợi từ Hà Nội vào có GS.TS. Đào Xuân Học –  Hiệu trưởng, PGS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy trường – Phó Hiệu trưởng, PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng dẫn đầu đoàn gồm: 6 trưởng, phó phòng; 4 trưởng khoa và nhiều thầy cô là lãnh đạo khác. Ngoài ra Hội thảo còn được đóng góp báo cáo và ý kiến thảo luận của các chuyên gia nước ngoài: Dr. Gerrit Jan Schiereck – Tư vấn thường trú của Dự án Hà Lan, Dr. Roger Chenevey – Tư vấn thường trú Dự án Đan Mạch, PGS Tan Soon Keat – Giám đốc trung tân Nghiên cứu biển – ĐH Kỹ thuật nannyang – Singapore…








    PGS.TS. Nguyễn Quang Kim – Phó Hiệu trưởng – Giám đốc Cơ sở 2 khai mạc Hội thảo

    Trong buổi sáng hôm nay Hội thảo đã được nghe trình bày và thảo luận 11 báo cáo khoa học về Quản lý và quy hoạch phát triển tài nguyên nước của các nhà khoa học và các Giảng viên của trường. Chiều nay Hội thảo sẽ tiếp tục với 10 Báo cáo về nghiên cứu tính toán thiết kế và xây dựng công trình khai thác tài nguyên nước.


    Trong ngày này, số đặc biệt của Tạp chí khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường của Trường Đại học Thủy lợi cũng được ra mắt với 33 bài viết có chất lượng cao về nhiều vấn đề trong ngành thủy lợi môi trường, khai thác tài nguyên nước.


    Sau đây là một số hình ảnh khác của buổi Hội thảo






    Từ Trái sang: TS. Dương Văn Viện – Bí thư Đảng Ủy Cơ sở 2; PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng; GS.TS. Đào Xuân Học –  Hiệu trưởng







    Các Nhà Khoa học đầu ngành về dự Hội Thảo







    PGS Tan Soon Keat – Giám đốc trung tân Nghiên cứu biển – ĐH Kỹ thuật nannyang – Singapore và Dr. Gerrit Jan Schiereck – Tư vấn thường trú của Dự án Hà Lan

    Xuân Thành

  • Thông tư liên tịch Hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước












    LIÊN TỊCH


    BỘ TÀI CHÍNH-BỘ KHCN





    ——————


    Số: 93 /2006/TTLT/BTC-BKHCN


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    **************


    Hà Nội, ngày 04 tháng 10  năm 2006








     


    THÔNG TƯ LIÊN TỊCH


    Hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án


    khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước



        Căn cứ Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước”;


    Căn cứ Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ “Quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập”;


     Căn cứ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 272/2003/QĐ-TTg ngày 31/12/2003 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010 và Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28/9/2004 về việc phê duyệt Đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ;


    Liên tịch Bộ Tài chính – Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước như sau:



    I . NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG


    1. Đối tượng áp dụng: Các tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền giao trách nhiệm: chủ trì (đối với tổ chức), chủ nhiệm (đối với cá nhân) thực hiện đề tài, dự án khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước (sau đây gọi tắt là đề tài, dự án) thông qua phương thức tuyển chọn hoặc xét chọn để giao trực tiếp.


    2. Phạm vi áp dụng: Các đề tài, dự án sử dụng ngân sách nhà nước thuộc các lĩnh vực khoa học công nghệ, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn (bao gồm đề tài, dự án cấp nhà nước; đề tài, dự án cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tổng công ty 91, các Ban của Đảng, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, cơ quan trung ương các Hội đoàn thể; đề tài, dự án cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương – gọi chung là đề tài, dự án cấp bộ, tỉnh, thành phố) đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt mục tiêu, nội dung, yêu cầu về sản phẩm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và dự toán kinh phí.


    3. Khoán kinh phí thực hiện đề tài, dự án là giao quyền tự chủ cho tổ chức chủ trì và chủ nhiệm trong việc sử dụng dự toán kinh phí của đề tài, dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, gắn với trách nhiệm về các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án, nhằm đạt được mục tiêu, kết quả cao nhất.


    4. Quy trình lập, phân bổ và giao dự toán chi ngân sách nhà nước cho các tổ chức chủ trì đề tài, dự án được thực hiện theo quy định hiện hành của Luật Ngân sách nhà nước.


    5. Việc quyết toán kinh phí của đề tài, dự án được thực hiện theo quy định hiện hành; đối với các đề tài, dự án thực hiện trong nhiều năm, thì tổ chức chủ trì và chủ nhiệm đề tài, dự án quyết toán hàng năm theo niên độ ngân sách đối với số kinh phí thực nhận và thực chi. Khi kết thúc đề tài, dự án thì tổng hợp lũy kế quyết toán từ năm đầu thực hiện đến năm báo cáo.


    6. Giải thích từ ngữ


    a. Kinh phí tiết kiệm được quy định tại Thông tư này là kinh phí chênh lệch giữa tổng dự toán kinh phí của đề tài, dự án được duyệt so với tổng quyết toán kinh phí chi tiêu thực tế của đề tài, dự án sau khi đề tài, dự án đã hoàn thành khối lượng công việc được giao, được đánh giá nghiệm thu ở cấp quản lý đề tài, dự án từ mức “Đạt” trở lên.


    b. Đề tài, dự án không hoàn thành là đề tài, dự án thuộc một trong các loại sau đây:


    – Bị đình chỉ trong quá trình thực hiện theo quyết định của cơ quan quản lý có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án do sai phạm hoặc không có khả năng hoàn thành nhiệm vụ;


    – Có kết quả được đánh giá nghiệm thu ở mức “Không đạt” tại Hội đồng nghiệm thu ở cấp quản lý đề tài, dự án và không được cơ quan quản lý có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án cho phép gia hạn thời gian thực hiện để hoàn chỉnh kết quả.


    c. Việc xác định kết quả đánh giá, nghiệm thu đề tài, dự án đạt mức A, B, C và không đạt được căn cứ và vận dụng theo Quyết định số 13/QĐ-BKHCN ngày 25/5/2004 của Bộ trưởng Bộ KH&CN về việc ban hành “Quy chế đánh giá nghiệm thu đề tài KH&CN cấp nhà nước”.


    II. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ


    1. Các nội dung chi giao khoán cho tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài, dự án, bao gồm:


    a. Chi tiền công, thù lao cho cán bộ khoa học, cán bộ kỹ thuật thực hiện các nội dung nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; chi thù lao chuyên gia nhận xét, phản biện, đánh giá (trong và ngoài nước); chi tiền công lao động khác tham gia trực tiếp thực hiện đề tài, dự án; về mức chi thực hiện theo quy định tại Tiết a Khoản 4 Mục này.


    b. Chi về vật t­ư, hóa chất nguyên, nhiên, vật liệu cần thiết (đã có định mức kinh tế – kỹ thuật do các Bộ, ngành chức năng ban hành) cho thí nghiệm, thử nghiệm; chi mua tài liệu, tư liệu, số liệu quan trắc, số liệu điều tra, sách, tạp chí tham khảo, tài liệu kỹ thuật, bí quyết công nghệ, tài liệu chuyên môn, dụng cụ, vật rẻ tiền mau hỏng, bảo hộ lao động,… phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án;


    c. Các khoản chi: hỗ trợ đào tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển giao kết quả nghiên cứu; chi công tác phí trong n­ước; chi đoàn vào; chi hội nghị, hội thảo khoa học của đề tài, dự án; chi văn phòng phẩm, in ấn, thông tin, liên lạc; chi dịch tài liệu từ tiếng n­ước ngoài; chi biên soạn và in ấn sách chuyên khảo để phổ biến trong khuôn khổ của đề tài, dự án; phí đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (nếu có); chi hoạt động quảng cáo, tiếp thị, xúc tiến thương mại đối với sản phẩm của đề tài, dự án (đối với các đề tài, dự án có các hoạt động này và được bố trí trong dự toán do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt);  


    d. Một số khoản chi khác phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án.



    2. Các nội dung chi không giao khoán cho tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài, dự án, bao gồm:


    a. Chi về vật tư, hóa chất, nguyên nhiên vật liệu (không có định mức kinh tế – kỹ thuật do các Bộ, ngành chức năng ban hành) cho thí nghiệm, thử nghiệm phục vụ yêu cầu nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án .


    b.  Chi đoàn ra (nếu có).


    c. Chi mua sắm mới tài sản cố định thiết yếu, chi sửa chữa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án.


    d. Chi thuê, khấu hao (nếu có) máy móc, thiết bị, nhà xưởng tham gia thực hiện đề tài, dự án.


    3. Lập và phê duyệt dự toán kinh phí của đề tài, dự án:


    a. Lập dự toán :


    – Căn cứ để lập dự toán:



    + Các nội dung nghiên cứu của đề tài, dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. 


    + Các định mức kinh tế – kỹ thuật do các Bộ, ngành chức năng ban hành, chế độ chi tiêu hiện hành của Nhà nước. Trường hợp không có định mức kinh tế-kỹ thuật thì phải thuyết minh chi tiết căn cứ lập dự toán.


    – Dự toán kinh phí của đề tài, dự án phải gắn với các nội dung và sản phẩm nghiên cứu cụ thể; có thuyết minh rõ cơ sở xây dựng dự toán theo các nội dung công việc.


    – Chủ nhiệm đề tài, dự án lập dự toán chi tiết kinh phí của đề tài, dự án theo các nội dung chi quy định tại Điểm 1 và 2, Mục II nêu trên, báo cáo tổ chức chủ trì để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đối với các nội dung chi được giao khoán thì lập dự toán vào nhóm mục chi khác; đối với các nội dung chi không được giao khoán thì lập dự toán vào các nhóm mục tương ứng theo quy định của mục lục ngân sách nhà nước.


    b. Phê duyệt dự toán:


    Cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án có trách nhiệm tổ chức thẩm định và phê duyệt dự toán kinh phí của đề tài, dự án theo đúng chế độ và định mức quy định. Trường hợp các khoản chi về vật tư, hóa chất, nguyên nhiên vật liệu không có các định mức kinh tế – kỹ thuật do các Bộ, ngành chức năng ban hành thì cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án quyết định dự toán chi cho các nội dung này và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.


    4. Sử dụng kinh phí của đề tài, dự án :


    Dự toán kinh phí được phê duyệt và phân bổ cho từng đề tài, dự án là mức tối đa để thực hiện đề tài, dự án. Trong phạm vi tổng dự toán kinh phí của đề tài, dự án và căn cứ quy chế chi tiêu kinh phí của đề tài, dự án đã được thống nhất với thủ trưởng tổ chức chủ trì, chủ nhiệm đề tài, dự án được quyền tự chủ trong việc sử dụng dự toán kinh phí được duyệt để tổ chức thực hiện đề tài, dự án theo các quy định dưới đây:


    a. Đối với các nội dung chi được giao khoán:


    – Đối với các nội dung chi trả về tiền công, thù lao cho các cán bộ khoa học, cán bộ kỹ thuật thực hiện các nội dung nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; chuyên gia nhận xét, phản biện, đánh giá; lao động khác tham gia trực tiếp thực hiện đề tài, dự án; chi hội thảo khoa học: Chủ nhiệm đề tài, dự án được quyền quyết định các mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức quy định của Nhà nước, tùy theo chất lượng và hiệu quả công việc đặt hàng nghiên cứu.


    – Đối với nội dung chi công tác phí trong nước: Chủ nhiệm đề tài, dự án được quyền quyết định mức thanh toán công tác phí cao hơn hoặc thấp hơn mức quy định hiện hành của Nhà nước về chế độ công tác phí đối với cán bộ, công chức khi đi công tác phù hợp với điều kiện và những quy định cụ thể của tổ chức chủ trì đối với các nội dung chi về công tác phí.


    – Đối với nội dung chi về thông tin, liên lạc, sách báo, tư liệu, văn phòng phẩm, vật tư, hóa chất, nguyên nhiên vật liệu, đoàn vào, các khoản chi hỗ trợ (nếu có) và các khoản chi khác phục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án: Chủ nhiệm đề tài, dự án được chủ động thực hiện các khoản chi này trên cơ sở yêu cầu của đề tài, dự án theo hướng tiết kiệm, có hiệu quả và đúng với hoạt động nghiệp vụ thực tế phát sinh khi thực hiện đề tài, dự án.


    b. Đối với các nội dung chi không được giao khoán: Chủ nhiệm đề tài, dự án thực hiện quản lý và chi tiêu theo các quy định hiện hành của Nhà nước và trong phạm vi dự toán kinh phí được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.



    c. Điều chỉnh dự toán kinh phí các nội dung chi của đề tài, dự án:


    – Đối với dự toán các nội dung chi được giao khoán: trong phạm vi tổng dự toán kinh phí được giao khoán, chủ nhiệm đề tài, dự án được quyền điều chỉnh dự toán kinh phí giữa các nội dung chi theo yêu cầu của công việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.


    – Đối với dự toán các nội dung chi không được giao khoán: Trong trường hợp cần thiết, việc điều chỉnh dự toán kinh phí giữa các nội dung chi được thực hiện sau khi xin ý kiến cơ quan trực tiếp giao đề tài, dự án. 


    d. Trường hợp thủ trưởng tổ chức chủ trì và chủ nhiệm đề tài, dự án không thống nhất về mức chi, về điều chỉnh dự toán kinh phí các nội dung chi thì thủ trưởng tổ chức chủ trì là người quyết định cuối cùng và chịu trách nhiệm về quyết định đó; chủ nhiệm đề tài, dự án có trách nhiệm thực hiện.


    5.  Thay đổi dự toán kinh phí của đề tài, dự án :


    a. Trong trường hợp phải thay đổi mục tiêu, nội dung nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chính của đề tài, dự án cho phù hợp với tình hình thực tế, hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án, từ đó làm thay đổi cơ bản dự toán kinh phí của đề tài, dự án thì chủ nhiệm đề tài, dự án và thủ trưởng tổ chức chủ trì lập dự toán kinh phí điều chỉnh của đề tài, dự án theo các mục tiêu, nội dung của đề tài, dự án cần phải thay đổi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án quyết định.


    b. Việc lập dự toán và phê duyệt dự toán kinh phí điều chỉnh của đề tài, dự án được thực hiện theo quy định tại Điểm 1, 2, 3 Mục II nêu trên.


    c. Sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, việc sử dụng kinh phí theo dự toán điều chỉnh của đề tài, dự án được thực hiện theo chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án quy định tại Thông tư này.


    6. Quyết toán kinh phí đề tài, dự án:


    a. Nguyên tắc quyết toán:


    – Kinh phí của đề tài, dự án được phân bổ và giao thực hiện của năm nào phải được quyết toán theo niên độ ngân sách năm đó theo đúng quy định hiện hành. Đối với các đề tài, dự án thực trong nhiều năm, thì tổ chức chủ trì và chủ nhiệm đề tài, dự án quyết toán hàng năm theo niên độ ngân sách đối với số kinh phí thực nhận và thực chi. Khi kết thúc đề tài, dự án thì tổng hợp lũy kế quyết toán từ năm  đầu thực hiện đến năm báo cáo.


    – Kinh phí thực hiện đề tài, dự án (bao gồm kinh phí được giao khoán và không được giao khoán) chi thực tế cho nội dung nào thì hạch toán vào mục chi tương ứng của mục lục ngân sách nhà nước theo quy định hiện hành.


    – Quyết toán kinh phí của đề tài, dự án phải căn cứ kết quả của từng nội dung nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đã được chủ nhiệm đề tài, dự án và thủ trưởng tổ chức chủ trì công nhận bằng văn bản đạt yêu cầu trở lên.


    – Đối với các đề tài, dự án thực hiện trong nhiều năm, kinh phí quyết toán hàng năm phải phù hợp với khối lượng công việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đã thực hiện.


    – Chủ nhiệm đề tài, dự án có trách nhiệm báo cáo quyết toán năm và tổng hợp lũy kế quyết toán của đề tài, dự án khi kết thúc với tổ chức chủ trì.


    – Tổ chức chủ trì có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và xét duyệt  quyết toán của chủ nhiệm đề tài, dự án để tổng hợp vào báo cáo quyết toán của đơn vị gửi cơ quan chủ quản theo quy định hiện hành hoặc Văn phòng các Chương trình (nếu có).


    b. Chứng từ thanh, quyết toán kinh phí thực hiện đề tài, dự án:


    – Hồ sơ thanh, quyết toán đối với các khoản chi trả tiền công, thù lao về chi hội thảo khoa học là bảng kê danh sách, số tiền chi cho từng người, có chữ ký của người nhận tiền, được chủ nhiệm đề tài, dự án ký xác nhận.


    – Hồ sơ thanh, quyết toán đối với các khoản chi trả tiền công, thù lao về chi phản biện, nhận xét, đánh giá của chuyên gia là văn bản ý kiến phản biện, nhận xét, đánh giá và giấy biên nhận nhận tiền có chữ ký của người nhận, được chủ nhiệm đề tài, dự án ký xác nhận.


    – Hồ sơ thanh, quyết toán đối với các hợp đồng đặt hàng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ:


    + Đối với cá nhân thì chứng từ thanh, quyết toán bao gồm: hợp đồng, thanh lý hợp đồng, các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được chủ nhiệm đề tài, dự án ký xác nhận đạt yêu cầu nghiệm thu, thanh toán; phiếu chi tiền.


    + Đối với tổ chức (pháp nhân) thì chứng từ thanh, quyết toán bao gồm: hợp đồng, thanh lý hợp đồng, các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức chủ trì, chủ nhiệm đề tài, dự án ký xác nhận đạt yêu cầu nghiệm thu, thanh toán; phiếu chi tiền hoặc chuyển khoản, phiếu thu tiền của bên nhận hợp đồng.


    – Đối với các khoản chi mua sắm tài sản cố định, vật tư, nguyên nhiên vật liệu, công tác phí trong và ngoài nước và các khoản chi khác thì chứng từ quyết toán được thực hiện theo quy định hiện hành.


    – Đối với kinh phí tiết kiệm: Chứng từ quyết toán là bản báo cáo chênh lệch (nếu có) giữa tổng dự toán kinh phí của đề tài, dự án được duyệt so với tổng kinh phí thực tế chi tiêu của đề tài, dự án.


    c. Số dư (dự toán, tạm ứng) của các đề tài, dự án đang trong thời gian thực hiện theo kế hoạch đã được duyệt, được chuyển sang năm sau thực hiện tiếp.


    Đối với các đề tài, dự án đã kết thúc và được nghiệm thu trong năm (đến hết ngày 31/12) thì chủ nhiệm đề tài, dự án có trách nhiệm báo cáo chi tiết các khoản kinh phí đã tạm ứng cho những công việc của đề tài, dự án đến hết ngày 31/12 để tổ chức chủ trì quyết toán (trong thời gian chỉnh lý quyết toán) vào niên độ ngân sách năm đó theo quy định hiện hành của Luật ngân sách nhà nước.


    7. Sử dụng kinh phí tiết kiệm của đề tài, dự án:


    Tổ chức chủ trì đề tài, dự án được sử dụng kinh phí tiết kiệm của đề tài, dự án theo nguyên tắc sau:



    a. Đối với kinh phí tiết kiệm từ những nội dung chi được giao khoán của đề tài, dự án :


    – Khen thưởng tập thể, cá nhân tham gia thực hiện đề tài, dự án có nhiều thành tích đóng góp cho thành công của đề tài, dự án và tổng mức tiền thưởng không vượt quá 100 triệu đồng, cụ thể như sau:


    + 70% số kinh phí tiết kiệm được nếu đề tài, dự án được đánh giá nghiệm thu ở cấp quản lý đạt “mức A”;


    + 60% số kinh phí tiết kiệm được nếu đề tài, dự án được đánh giá nghiệm thu ở cấp quản lý đạt “mức B”;


    + 40% số kinh phí tiết kiệm được nếu đề tài, dự án được đánh giá nghiệm thu ở cấp quản lý đạt “mức C”;


     Mức thưởng cụ thể cho cá nhân tham gia thực hiện đề tài, dự án do chủ nhiệm đề tài, dự án quyết định sau khi thống nhất với thủ trưởng tổ chức chủ trì.


    – Phần kinh phí tiết kiệm còn lại được trích vào các Quỹ của tổ chức chủ trì theo quy định hiện hành áp dụng cho tổ chức chủ trì.


    b. Đối với kinh phí tiết kiệm từ những nội dung chi không được giao khoán của đề tài, dự án: tổ chức chủ trì được trích vào Quỹ phát triển sự nghiệp. Trường hợp tổ chức chủ trì không có Quỹ phát triển sự nghiệp thì nộp ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách hiện hành.


    8. Sử dụng các sản phẩm của đề tài, dự án :


    a. Sản phẩm của đề tài, dự án là tài sản trí tuệ: việc sử dụng sản phẩm được thực hiện theo quy định của pháp luật về Sở hữu trí tuệ, pháp luật về chuyển giao công nghệ và các quy định pháp luật khác có liên quan.


    b. Sản phẩm của đề tài, dự án là sản phẩm vật chất sử dụng kinh phí của ngân sách nhà nước, khi các sản phẩm này được tiêu thụ trên thị trường thì nguồn thu sau khi trừ các khoản chi phí cần thiết, hợp lệ, được phân phối như sau:


    – 40% nộp ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách hiện hành.


    – 30% trích lập Quỹ phát triển sự nghiệp của tổ chức chủ trì. Trường hợp tổ chức chủ trì không có Quỹ phát triển sự nghiệp thì nộp ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách hiện hành.


    – 30% dùng để khen thưởng cho tập thể, cá nhân trực tiếp thực hiện đề tài, dự án và tổng mức tiền thưởng không vượt quá 100 triệu đồng đối với 01 đề tài, dự án. Phần tiền thưởng vượt quá mức 100 triệu đồng được trích vào Quỹ khen thưởng và phúc lợi của tổ chức chủ trì.


    c. Trường hợp hợp đồng nghiên cứu sản phẩm đề tài, dự án quy định phần kinh phí của Nhà nước hỗ trợ thì sản phẩm của đề tài, dự án thuộc sở hữu của tổ chức chủ trì; tổ chức chủ trì phải tổ chức theo dõi hạch toán, quản lý sản phẩm đề tài, dự án theo quy định của Nhà nước hiện hành.


    9. Xử lý tài sản được mua sắm bằng nguồn kinh phí của ngân sách nhà nước của đề tài, dự án:


    a. Đối với đề tài, dự án sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thì tài sản được mua sắm là tài sản Nhà nước. Sau khi đề tài, dự án hoàn thành, nghiệm thu và quyết toán kinh phí, tài sản này được xử lý theo các quy định hiện hành về quản lý tài sản của Nhà nước, cụ thể như sau:


    –  Trường hợp chủ trì đề tài, dự án là tổ chức KH&CN công lập và có nhu cầu sử dụng thì cơ quan chủ quản của đề tài, dự án xem xét quyết định ghi tăng tài sản cho tổ chức chủ trì.


    – Điều chuyển cho các cơ quan, đơn vị của Nhà nước còn thiếu tài sản có nhu cầu sử dụng hoặc còn thiếu so với tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản do Nhà nước quy định.


    – Tổ chức bán đấu giá để thu tiền nộp ngân sách nhà nước đối với các tài sản vẫn còn sử dụng được. Trường hợp tổ chức chủ trì đề tài, dự án không phải là cơ quan, đơn vị, tổ chức của Nhà nước, nếu có nhu cầu thì được ưu tiên mua theo giá thị trường của tài sản tại thời điểm bán.


    – Thanh lý tài sản đối với các tài sản  không còn sử dụng được.


    Việc tổ chức bán đấu giá, thanh lý tài sản được thực hiện theo quy định hiện hành của Nhà nước.


    b. Trường hợp kinh phí của Nhà nước có tính chất hỗ trợ hoặc tổ chức chủ trì đề tài, dự án đã nộp ngân sách nhà nước kinh phí thu hồi từ các dự án sản xuất thử nghiệm, chuyển giao công nghệ theo quy định, thì tài sản được hình thành từ nguồn kinh phí hỗ trợ của ngân sách nhà nước thuộc quyền quản lý của đơn tổ chức chủ trì. Việc quản lý và sử dụng  tài sản được thực hiện theo các quy định hiện hành.


    10. Quy định về công khai thực hiện đề tài, dự án:


    Các tổ chức chủ trì đề tài, dự án có trách nhiệm thực hiện việc công khai tài chính theo quy định hiện hành; đồng thời thực hiện việc công khai nội dung đề tài, dự án (trừ các đề tài, dự án có nội dung cần bảo mật, do cơ quan có thẩm quyền quy định), cụ thể như sau:


    a. Công khai tại tổ chức chủ trì:


    – Nội dung công khai:


    + Tên đề tài, dự án được giao.


    + Tên chủ nhiệm đề tài, dự án và các thành viên chính tham gia thực hiện đề tài, dự án.


    + Mục tiêu của đề tài, dự án.


    + Các nội dung nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chính phải thực hiện.


    + Thời gian thực hiện đề tài, dự án.


    + Các kết quả chính phải đạt được sau khi đề tài, dự án kết thúc.


    + Tổng số kinh phí thực hiện đề tài, dự án, trong đó tổng kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước và có ghi chi tiết theo các nội dung chi chủ yếu được cấp có thẩm quyền phê duyệt.


    + Các kết quả thực hiện đề tài, dự án đã được cấp có thẩm quyền nghiệm thu, đánh giá và công nhận.


    + Quyết toán kinh phí đã chi để thực hiện đề tài, dự án và chi tiết theo các nội dung chi chủ yếu.


    + Tổng kinh phí tiết kiệm của đề tài, dự án.


    – Phương thức công khai :


    + Niêm yết tại nơi dễ nhận biết.


    + Công khai tại các cuộc họp thường niên của tổ chức chủ trì.


    – Thời gian công khai: chậm nhất là 30 ngày sau khi đề tài, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt và việc công khai phải được duy trì trong suốt thời gian thực hiện. Riêng về quyết toán kinh phí sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, các kết quả thực hiện đề tài, dự án đã được cấp có thẩm quyền đánh giá, nghiệm thu và công nhận phải thực hiện công khai ngay sau khi được phê duyệt và được duy trì trong  thời hạn 90 ngày.


    b. Công khai ngoài phạm vi tổ chức chủ trì:


    – Nội dung công khai:


    + Tên đề tài, dự án được giao.


    + Tên chủ nhiệm đề tài, dự án.


    + Mục tiêu của đề tài, dự án.


    + Các nội dung nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chính phải thực hiện.


    + Thời gian thực hiện đề tài, dự án.


    + Các kết quả chính phải đạt được sau khi đề tài, dự án kết thúc.


    + Tổng số kinh phí thực hiện đề tài, dự án, trong đó tổng kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền phê duyệt.


    + Các kết quả thực hiện đề tài, dự án đã được cấp có thẩm quyền nghiệm thu, đánh giá và công nhận.


    – Phương thức công khai:


    + Trên trang Web của tổ chức chủ trì (nếu có).


    + Đăng trên các Tạp chí và Báo chuyên ngành trong 03 số liên tiếp.


    – Thời gian công khai: chậm nhất là 30 ngày sau khi đề tài, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt và ngay sau khi đề tài, dự án được cấp có thẩm quyền nghiệm thu, đánh giá và công nhận.


     Trường hợp tổ chức, cá nhân ngoài phạm vi tổ chức chủ trì muốn tìm hiểu chi tiết hơn thì tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài, dự án có trách nhiệm cung cấp những nội dung của đề tài, dự án đã được công khai tại tổ chức chủ trì cho tổ chức, cá nhân đó.


    11. Chế tài xử lý đối với các đề tài, dự án không hoàn thành:


    a. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xác định đề tài không hoàn thành của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền, chủ nhiệm đề tài, dự án, tổ chức chủ trì lập báo cáo chi tiết toàn bộ quá trình thực hiện (nội dung hoạt động và sử dụng kinh phí) của đề tài, dự án; xác định rõ các nguyên nhân (chủ quan, khách quan) gửi cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án.


    Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của tổ chức chủ trì và chủ nhiệm đề tài, dự án, cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án chịu trách nhiệm kiểm tra, xác định nguyên nhân dẫn đến việc đề tài không hoàn thành.


    b. Cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền tùy theo nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan dẫn đến việc các đề tài, dự án không hoàn thành để ra quyết định xử lý cụ thể như sau:


    – Nộp hoàn trả ngân sách nhà nước toàn bộ kinh phí của đề tài, dự án đã được cấp nhưng chưa sử dụng.


    – Đối với phần kinh phí của ngân sách nhà nước đã sử dụng, được xử lý như sau:


    + Trường hợp do nguyên nhân chủ quan, phải quy rõ trách nhiệm của từng cá nhân để thu hồi tối đa kinh phí cho ngân sách nhà nước. Tổng mức thu hồi tối thiểu không thấp hơn 30% kinh phí ngân sách nhà nước cấp đã sử dụng cho đề tài, dự án.


    + Trường hợp do nguyên nhân khách quan: Tổng mức thu hồi tối đa không quá 10% kinh phí ngân sách nhà nước cấp đã sử dụng cho đề tài, dự án.


    + Mức thu hồi cụ thể do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án xem xét quyết định. Nguồn kinh phí nộp trả ngân sách nhà nước: 50% do Chủ nhiệm đề tài, dự án chịu trách nhiệm nộp trả; 50% từ các Quỹ và các nguồn kinh phí tự có khác của tổ chức chủ trì.


    – Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án có quyết định về việc nộp hoàn trả kinh phí cho ngân sách nhà nước, tổ chức chủ trì và chủ nhiệm đề tài, dự án có trách nhiệm nộp hoàn trả kinh phí cho ngân sách nhà nước theo phân cấp quản lý ngân sách hiện hành.


    – Trong trường hợp nguồn các Quỹ và các nguồn tự có khác hiện có của tổ chức chủ trì không đủ nộp hoàn trả ngân sách, thì được chuyển phần còn thiếu sang năm sau để tiếp tục hoàn trả ngân sách nhà nước.


     – Các tổ chức chủ trì đề tài, dự án tổng hợp tình hình thực hiện việc thu hồi kinh phí hoàn trả ngân sách nhà nước vào báo cáo quyết toán hàng năm của đơn vị mình gửi cơ quan chủ quản cấp trên để tổng hợp gửi cơ quan tài chính cùng cấp theo quy định.


    Các hình thức xử lý khác đối với các tổ chức chủ trì và chủ nhiệm đề tài, dự án không hoàn thành được Bộ KH&CN quy định tại các văn bản khác.


    12. Trách nhiệm của tổ chức chủ trì và chủ nhiệm đề tài, dự án, các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền:


    a. Đối với tổ chức chủ trì, chủ nhiệm đề tài, dự án:


    – Tổ chức chủ trì, chủ nhiệm đề tài, dự án phải lập dự toán kinh phí của đề tài, dự án trên cơ sở các định mức kinh tế – kỹ thuật do Bộ, ngành chức năng ban hành, chế độ chi tiêu hiện hành của Nhà nước, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.


    – Chủ nhiệm đề tài, dự án chịu trách nhiệm về các nội dung và kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án; chịu trách nhiệm báo cáo và thuyết minh rõ số liệu chi tiết quyết toán kinh phí thực hiện đề tài, dự án với tổ chức chủ trì.


    – Tổ chức chủ trì đề tài, dự án có trách nhiệm quản lý, theo dõi và thường xuyên kiểm tra tình hình thực hiện đề tài, dự án; chịu trách nhiệm về số liệu quyết toán của đề tài, dự án. Có trách nhiệm đôn đốc và có các giải pháp cần thiết để việc nộp hoàn trả ngân sách nhà nước của Chủ nhiệm đề tài, dự án thực hiện theo đúng quy định tại Điểm 11.b nêu trên.


    b. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền:


    – Cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền chịu trách nhiệm phê duyệt nội dung, dự toán kinh phí của đề tài, dự án trên cơ sở thẩm định chi tiết mục tiêu, nội dung, sản phẩm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (đối với các đề tài nghiên cứu ứng dụng, dự án chuyển giao thì sản phẩm cuối cùng phải đạt mục tiêu ứng dụng được vào thực tế) và dự toán kinh phí; kiểm tra, xét duyệt quyết toán kinh phí thực hiện đề tài, dự án theo quy định.


    – Cơ quan tài chính cùng cấp phối hợp với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án kiểm tra tài chính, thẩm định quyết toán của đề tài, dự án, thực hiện quản lý tài chính theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các quy định cụ thể tại Thông tư này.


    – Kho bạc nhà nước thực hiện cấp phát, thanh toán, kiểm soát chi kinh phí thực hiện đề tài, dự án theo các quy định hiện hành và các quy định cụ thể tại Thông tư này.


    III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN


    Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Đối với các đề tài, dự án đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và đang thực hiện trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, thì tiếp tục thực hiện theo các quy định tại thời điểm phê duyệt đề tài, dự án.


    Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các tổ chức, cá nhân, các Bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương phản ánh về Bộ Tài chính,  Bộ Khoa học và Công nghệ để phối hợp xử lý ./.







    KT. BỘ TRƯỞNG


    BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ


    THỨ TRƯỞNG



    (Đã ký)


    Trần Quốc Thắng


           KT. BỘ TRƯỞNG


             BỘ TÀI CHÍNH


             THỨ TRƯỞNG


     


                  (Đã ký)


    Đỗ Hoàng Anh Tuấn




    Nơi nhận:


    – Văn phòng TW và các Ban của Đảng;


    – Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc


       hội, Văn phòng Chủ tịch nước;


    – Viện kiểm sát ND tối cao; Tòa án ND tối cao;


    – Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;


    – UBND, Sở Tài chính, Sở KH&CN, Kho bạc NN các


       tỉnh, thành phố trực thuộc TW;


    – Cơ quan trung ương của các đoàn thể;


    – Cục kiểm tra văn bản – Bộ Tư pháp;


    – Công báo;


    – Website Chính phủ.


    – Các đơn vị thuộc hai Bộ;


    – Lưu: Bộ TC (VT, Vụ HCSN),


       Bộ KH&CN (VT, Vụ KH-TC).


     


     

  • Thư của Hiệu trưởng và Chủ tịch Hội cựu sinh viên Trường Đại học Thuỷ Lợi

    Hà Nội, ngày 12 tháng 1 năm 2007

     
    Các anh, chị Cựu sinh viên thân mến!
    Trường Đại học Thủy lợi liên tục phát triển và trưởng thành trong gần nửa thế kỉ qua, xứng đáng là niềm tự hào cho tất cả những ai đã từng học tập, nghiên cứu và công tác tại Trường. Nhiều năm qua, cựu sinh viên đã có những đóng góp rất thiết thực trong việc xây dựng và phát triển Trường. Ngày 18 tháng 11 Năm 2006, Nhà trường đã long trọng tổ chức Hội nghị Đại biểu Cựu sinh viên để lắng nghe những đóng góp quý báu của các đại biểu đại diện cho 20.000 cựu sinh viên về Chiến lược phát triển trường Đại học Thủy lợi giai đoạn 2006 – 2020. Các đại biểu dự Hội nghị đã phấn khởi, đồng tình và ủng hộ Chiến lược phát triển của Trường, đồng thời bày tỏ nguyện vọng mong muốn được tham gia đóng góp vào sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của Nhà trường.
    Thưa các anh, chị!  
    Hiện nay, Nhà trường đang triển khai việc mua sách giáo trình và tài liệu tham khảo phục vụ công tác biên soạn bài giảng của 18 chương trình đào tạo nâng cấp và đổi mới ở bậc đại học và sau đại học. Theo số liệu thống kê của Văn phòng Ban chiến lược và Thư viện Trường, tổng số sách và tài liệu tham khảo cần mua là 1235 cuốn. Nhà trường và Hội Cựu sinh viên kêu gọi các anh, chị Cựu sinh viên ủng hộ sách và tài liệu chuyên ngành, đây là  hoạt động mang ý nghĩa giáo dục truyền thống cho các thế hệ sinh viên của Trường và cũng là một tiêu chí quan trọng trong kiểm định và đánh giá xếp hạng Trường.
    Nhà trường và Hội cựu sinh viên mong các anh, chị cùng tham gia sự nghiệp đào tạo của Trường  bằng việc mua sách giáo trình và tài liệu chuyên ngành dưới hình thức:  
    1.       Ủng hộ tiền để mua sách tặng Trường dưới danh nghĩa cá nhân, tập thể (theo danh sách nhập khẩu sách của Công ty: XUNHASABA)
    2.       Giới thiệu và tạo điều kiện để Nhà trường tiếp xúc làm việc với các đơn vị, cá nhân trong và ngoài nước giúp ủng hộ sách.
     Mọi trao đổi chi tiết xin liên hệ đến địa chỉ :
    – Văn phòng Ban chiến lược ( Điện thoại : 084.04. 8521437; Email:  [email protected])
    – Trung tâm Thư viện ĐHTL (Điện thoại : 084.04. 5640068; Email:  [email protected])
     
    Văn phòng Ban chiến lược và Trung tâm Thư viện là đơn vị được Nhà trường giao nhiệm vụ:
    1. Ghi danh, in mầu và đính vào trang đầu của mỗi cuốn sách hay tài liệu chuyên ngành tên đơn vị hoặc cá nhân ủng hộ, đồng thời lập sổ vàng để lưu giữ ở phòng Truyền thống.
    2. Cung cấp danh mục sách giáo trình và tài liệu tham khảo của 18 ngành đào tạo trong Trường, danh sách nhập khẩu sách của Công ty XUNHASABA đến các đơn vị, cá nhân và tiếp nhận các hình thức ủng hộ Trường.
     
    Cán bộ, giảng viên và sinh viên sẽ luôn coi những cuốn sách ủng hộ này là hình ảnh đẹp trong truyền thống của Nhà trường, của Hội. Hơn thế nữa, trong giai đoạn này những cuốn sách ủng hộ sẽ hỗ trợ Trường thực hiện thành công Chiến lược đổi mới đào tạo.
         
    Xin chân thành cảm ơn và gửi lời chào trân trọng.

    Vũ Mão
    Chủ tịch Hội cựu sinh viên

     

     
    GS.TS  Đào Xuân Học
    Hiệu trưởng Trường 
    Đại học Thủy lợi