Tác giả: Data Old

  • Quyết định xử lý học vụ kỳ 2 năm học 2009-2010 cho sinh viên K51 hệ Đại học chính quy.







    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

      
       
    Số: 1474/QĐ-ĐHTL

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


     

                    Hà nội, ngày 01 tháng 11 năm 2010


    QUYẾT ĐỊNH
    Về việc xử lý học vụ kỳ II năm học 2009-2010
    cho sinh viên K51 hệ Đại học chính quy.

    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI


               
    Căn cứ Quyết định số 43/2007/QĐ – BGDĐT ngày 15/08/2007 về việc ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;

                Căn cứ Quyết định số 997/ QĐ – ĐHTL  ngày 16/08/2010 về việc ban hành hướng dẫn thực hiện Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo tín chỉ của Hiệu trưởng trường  Đại học Thuỷ lợi;


                Xét đề nghị của Trưởng phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên, Trưởng các khoa,


    QUYẾT ĐỊNH:


                Điều 1. 1/ Cảnh báo học tập mức 1 đối với các sinh viên K51 hệ đại học chính quy có kết quả học tập yếu trong học kỳ II năm học 2009 – 2010 (Danh sách 1 kèm theo).


                            2/ Cảnh báo học tập mức 2 đối với các sinh viên K51 hệ đại học chính quy có kết quả học tập yếu trong 2 học kỳ liên tiếp (học kỳ I, II năm học 2009 – 2010) (Danh sách 2 kèm theo).


                            3/ Buộc thôi học từ đầu học kỳ I năm học 2010 – 2011 đối với các sinh viên K51 hệ đại học chính quy do có kết quả học tập kém hoặc không đăng ký học ở học kỳ II năm học 2009 -2010 (Danh sách 3 kèm theo).


                Điều 2. 1/ Những sinh viên bị cảnh báo học tập mức 1, 2 (danh sách 1, 2) nếu cải thiện được kết quả học tập sẽ được hạ mức cảnh báo  học tập ở kỳ I năm học 2010 -2011; nếu không sẽ bị tăng mức cảnh báo học tập ở học kỳ I năm học 2010 – 2011.


                              2/ Những sinh viên hệ đại học chính quy bị buộc thôi học (danh sách 3), nếu có nguyện vọng xuống học hệ cao đẳng phải có đơn để Nhà trường xem xét.


                              3/ Những sinh viên hệ đại học chính quy bị buộc thôi học (danh sách 3) nhưng không có nguyện vọng xuống học cao đẳng, phải thanh toán các khoản nợ với Nhà trường (nếu có) đến hết học kỳ II năm học 2009-2010.


                Điều 3. Các ông (bà) Trưởng phòng Công tác chính trị & Quản lý sinh viên, Trưởng phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học, trưởng các khoa, các đơn vị có liên quan và sinh viên có tên trong danh sách trên chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.







    Nơi nhận:


                 – Bộ NN&PTNT (để b/c);


                 – Bộ GD&ĐT (để b/c);


                 – Như điều 3;


                 – Lưu: VT, CTCT&QLSV.


    KT. HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)


     


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG

             PGS.TS. Trịnh Minh Thụ

  • Quyết định về việc chuyển điểm cho sinh viên






    BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


     

            Số: 1406/QĐ-ĐHTL

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


                                             


     


        Hà Nội, ngày 27  tháng 10  năm 2010



    QUYẾT ĐỊNH


    Về việc chuyển đổi điểm cho sinh viên


     



    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI


     


    Căn cứ Quy chế học sinh, sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, trung cấp chuyên nghệp hệ chính quy ban hành Quyết định số 42 /2007/QĐ-BGDĐT ngày 13/8/2007;


    Căn cứ Quyết định số 25 /2006/QĐ-BGDĐT ngày 26/06/2006 Ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo;


    Căn cứ Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT  ngày  15/08/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế đào tạo Đại học & Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ;


    Căn cứ Hướng dẫn số 1000/QĐ/ĐHTL về việc ban hành thực hiện Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của trường Đại học Thuỷ lợi;


    Căn cứ vào Quyết định điều chỉnh số 1290/QĐ-ĐHTL ngày 20/12/2008 về việc điều chỉnh, bổ sung một số điểm trong “Hướng dẫn thực hiện quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”;


    Căn cứ vào Thông báo số 1274/TB-ĐHTL ngày 31/12/2008 về việc công nhận môn học tương đương từ niên chế chuyển sang tín chỉ;


    Căn cứ vào Thông báo số 324/TB-ĐHTL ngày 13/4/2009 về việc điều chỉnh công nhận tương đương các môn học thuộc khoa Lý luận chính trị;


    Căn cứ vào đề nghị của giáo viên phụ trách môn học và trưởng bộ môn;


    Xét đề nghị của Trưởng phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên,


     


    QUYẾT ĐỊNH:


     


    Điều 1. Nay chuyển đổi bổ sung điểm các học phần môn học đã đạt cho sinh viên từ học chế niên chế sang học chế tín chỉ (Danh sách kèm theo).

                  Điều 2. Các ông, bà Trưởng phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên, Trưởng các khoa, Cơ sở 2, các đơn vị liên quan và sinh viên có tên trên chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.







    Nơi nhận:


    – Như điều 2;


             – Lưu: VT, CTCT&QLSV.


     KT. HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)


     


     


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG


    PGS.TS. Trịnh Minh Thụ


    Danh sách chuyển đổi điểm.

  • Đào tạo chương trình tiên tiến sau 4 năm triển khai thực hiện

    Đào tạo chương trình tiên tiến sau 4 năm triển khai thực hiện

    Nằm trong chương trình hoạt động của Hội thảo sơ kết triển khai đào tạo chương trình tiên tiến tại Hà Nội, ngày 18/10 vừa qua, đại diện Vụ Giáo dục Đại học – Bộ GD – ĐT và 6 các trường Đại học gồm: ĐH Nông nghiệp Hà Nội, ĐH Nông Lâm TP HCM, ĐH Lâm nghiệp, ĐH Kiến trúc Hà Nội, ĐH Kiến trúc Tp HCM, ĐH Cần Thơ đã tới tham quan Trường Đại học Thuỷ lợi.









    Dự giờ giảng môn tiếng Anh cho lớp 52NK – thầy Mark Joseph Feeney








     














    Các trường bạn tham quan phòng Lab, phòng đọc mở và kho giáo trình của sinh viên chương trình tiên tiến


    Các trường Đại học đã có buổi giao lưu trao đổi cởi mở xung quanh đào tạo chương trình tiên tiến, đặt ra các câu hỏi để tìm hiểu thuận lợi và khó khăn đối với các trường, sinh viên và giảng viên chương trình tiên tiến.









    Buổi giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm giữa các trường Đại học








    Trao đổi với các sinh viên chương trình tiên tiến

    Sau 4 năm triển khai đề án đào tạo chương trình tiên tiến, đến nay, đã có 23 Trường tại Việt Nam liên kết với 22 Trường Đại học trên thế giới để triển khai thực hiện 35 chương trình tiên tiến. Trường Đại học Thuỷ lợi đã triển khai bắt đầu từ Khoá 50 – Ngành Kỹ thuật tài nguyên nước và đây là năm thứ 3 Nhà truờng tuyển sinh chương trình tiên tiến.


    Theo học chương trình tiên tiến, sinh viên được Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi học tập và kết quả đạt được cũng khá tốt , sinh viên cũng thể hiện đc những ưu thế vượt trội với những sinh viên bình thường ở trình độ tiếng Anh, các kỹ năng thuyết trình, làm việc theo nhóm, khả năng tiếp cận thực tiễn… 


    Tuy nhiên, việc mời và kinh phí trả cho các giáo sư nước ngoài , trình độ giảng viên trong nước; thu hút sinh viên vào các lớp chương trình tiên tiến là những “bài toán khó” có thể thấy được tại hầu hết các trường.


    Nhiều kinh nghiệm đã được đưa ra từ các trường Đại học.Trong thời điểm này, có trường áp dụng giải pháp sử dụng giảng viên trong nước tham gia trợ giảng, huy động các chuyên gia của các trường đối tác quốc tế khác đang hoạt động tại trường và có chuyên môn tương ứng cùng tham gia giảng dạy.


    Hôm qua, ngày 19/10, tại Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã chủ trì Hội thảo sơ kết triển khai đào tạo chương trình tiên tiến trong 23 trường đại học trên cả nước.Trước những khó khăn mà các trường phải đối mặt, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho rằng vấn đề rất quan trọng của chương trình tiên tiến là tạo được sự đồng hướng lợi ích (người học, người dạy, nhà trường và các đối tác nước ngoài đều thấy lợi ích của mình khi tham gia), tạo nên động lực tổng hợp để thúc đẩy giáo dục đại học phát triển.








    Phó Thủ tướng cũng khẳng định việc triển khai đào tạo theo chương trình tiên tiến là một giải pháp mang tính đặc thù nhằm tạo bước đột phá trong việc nâng cao chất lượng giáo dục bậc đại học…


    Linh Ngọc


     


     


     

  • Khai giảng chương trình tiên tiến năm học 2010 – 2011

    Khai giảng chương trình tiên tiến năm học 2010 – 2011

    Hòa vào không khí, phong trào học tập đang diễn ra rất sôi nổi trên mọi miền đất nước và đặc biệt hướng tới ngày kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long, sáng ngày 8/10/2010 buổi lễ khai giảng chương trình tiên tiến năm học 2010 – 2011 đã diễn ra tại hội trường T35, ĐH Thủy Lợi cùng với sự tham dự của các thầy cô, ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể các bạn sinh viên khoa Kỹ thuật tài nguyên nước cũng như các bạn tân sinh viên K52. Đặc biệt buổi khai giảng hôm nay có sự góp mặt của GS.TS Nguyễn Quang Kim – hiệu trưởng nhà trường, PGS.TS Trịnh Minh Thụ, PGS.TS Lê Đình Thành – Phó hiệu trưởng nhà trường và ông Mark Joseph Feeney – Quản lí và là giáo viên bản ngữ Trung tâm đào tạo ESL người sẽ giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên chương trình tiên tiến K52.


    Buổi lễ diễn ra nhằm tổng kết, đánh giá những thành tích đạt được trong năm học vừa qua và cũng như đặt ra những vấn đề đang còn bất cập và đặc biệt là sự kiện tuyển sinh lớp Kĩ thuật công trình hợp tác quốc tế. Nằm trong chiến lược đổi mới và phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo của trường ĐH Thủy Lợi, một trong những yếu tố và là vấn đề đang rất được quan tâm chính là chương trình đào tạo tiên tiến đào tạo, hợp tác quốc tế. Chương trình đã được nhà trường bắt đầu triển khai từ năm học 2008 – 2009 và cho đến năm học 2010 – 2011 đã có tới 3 lớp được triển khai gồm 2 lớp Kỹ thuật tài nguyên nước và 1 lớp Kỹ thuật công trình.


    Mở đầu buổi khai giảng là các tiết mục văn nghệ đặc sắc do các bạn sinh viên chương trình tiên tiến trình bày, các màn biểu diễn phong phú về nội dung cũng như thể loại bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt đem đến cho buổi lễ 1 không khí vui tươi rộn ràng.


    Ts Nguyễn Trung Việt – Trưởng phòng Đào tạo ĐH & SĐH, Trưởng phòng VP CTTT đọc quyết định của Bộ giáo dục và đào tạo về việc giao nhiệm vụ Đào tạo CTTT trình độ ĐH ngành Kỹ thuật xây dựng cho trường Đh Thủy Lợi. Đây được đánh giá là 1 trong những nhiệm vụ trọng điểm nằm trong chiến lược phát triển của Nhà trường và đã được Bộ GD-ĐT phê duyệt chính thức.


    Tiếp theo, Ts Nguyễn Thu Hiền – phó trưởng khoa KTTNN, điều phối viên CTTT giới thiệu vài nét về hoạt động và học tập của 2 khóa đầu tiên ( 50NK và 51NK ) và tình hình tuyển sinh khóa 3 Kỹ thuật tài nguyên nước ( 52NKN ) và khóa đầu tiên ngành Kỹ thuật xây dựng ( 52CNK ). Cô cho rằng trong 2 năm học vừa qua, cả 2 lớp 50NK và 51NK đã có những thành công, thành tích khá tốt trong học tập cũng các hoạt động Đoàn, văn nghệ, thể thao. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại 1 số bất cập cần được giải quyết. Hầu hết các giáo trình, phương pháp giảng dạy đều là ngồn nhập khẩu từ nền Giáo dục Mỹ do đó còn hạn chế với 1 số lượng sinh viên khả năng tiếng Anh chưa tốt và cách tiếp cận với phương pháp học mới còn khá xa lạ, dẫn tới thành tích học tập vẫn chưa thực sự như mong muốn. Cô mong muốn trong năm học mới này, bên cạnh học chuyên môn, sinh viên chương trình tiên tiến chú trọng thêm tiếng Anh để đáp ứng và tiếp nhận tốt.


    Quả thực, những khó khăn đó không phải là điều khó hiểu khi áp dụng phương pháp giảng dạy đào tào hoàn toàn mới từ 1 nên giáo dục hang đầu như Hoa Kỳ vào chương trình tiên tiến của trường. Theo Ths Đặng Hương Giang – Trưởng phòng CTCT và QLSV, đa phần sinh viên Việt còn khá thụ động trong việc học và coi đó như là nghĩa vụ trong khi ở Hoa Kỳ họ xem đó là lợi ích của mình. Sinh viên Việt Nam được đánh giá rất cao trên trường quốc tế không thua kém bạn bè năm châu, nhưng quả thực hệ thống giáo dục trong nước đang cần cải thiện rất nhiều vấn đề cả về chất lượng lẫn chuyên môn.


    Mặc dù vậy, những thành tích mà sinh viên khoa KTTNN đạt được rất đáng được ghi nhận. Một số gương mặt tiêu biểu có thể kể đến Nguyễn Minh Anh – sinh viên xuất sắc nhất của khóa 2, Vũ Ngọc Quỳnh – sinh viên xuất sắc nhất khóa 1 Chương trình tiên tiến KTTNN.


    “Năm học đầu, chúng em đã khá lo lắng về trình độ tiếng Anh hiện tại để đáp ứng nhu cầu học tập. Nhưng thật may thay, chúng em đã có những thầy cô chuyên môn, những người luôn quan tâm, dìu dắt chúng tôi tứng bước, họ là những con người thật tuyệt vời…Tiếng Anh  không thể chỉ học trong 1 hoặc 2 ngày mà đó là cả một quá trình bạn tích lũy, luyện tập…” Chia sẻ cảm xúc bằng 1 bài diễn thuyết tiếng Anh của bạn Nguyễn Minh Anh – 51NK về năm học vừa qua và cùng với những kinh nghiệm quý báu trong việc học tiếng Anh.


    Khương Thế Đô, một trong những sinh viên đạt điểm xuất sắc trong kì thi tuyển tiếng Anh đầu vào Chương trình tiên tiến 2010 bày tỏ niềm vinh dự và tự hào khi trúng tuyển vào chương trình này và thay mặt cho tất cả các bạn tân sinh viên K52 sẽ học tập thật tốt cả về chuyên môn cũng như ngoại ngữ.


    GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng nhà trường trao đổi 1 số vấn đề với sinh viên Chương trình tiên tiến. Thầy nhấn mạnh sự đổi mới trong hệ thống đào tạo của trường trong giai đoạn mới nằm trong chiến lược phát triển của nhà trường, trong đó, việc triển khai các lớp học chất lượng cao hợp tác quốc tế là 1 mốc quan trọng. Thầy nhắc nhở ân cần các bạn tân sinh viên khóa mới cũng như cần thiết 1 sự đổi mới, linh hoạt hơn nữa của sinh viên khóa trên trong học tập, nghiên cứu, đón nhận tri thức mới. Thành công của các bạn chính là rạng danh cho bản thân, gia đình và nhà trường.


    Các thầy cô, ban giám hiệu nhà trường đã trao học bổng và khen thưởng cho những sinh viên có thành tích xuất sắc của chương trình tiên tiến.


    Năm thứ 3, kể từ khóa học 2008 – 2009 nằm trong khuôn khổ kế hoạch đổi mới cơ bản về nội dung và phương pháp giảng dạy, Chương trình tiên tiến đã được triển khai cùng với 3 lớp chất lượng cao hợp tác quốc tế. Từ những kinh nghiệm của những năm trước, chắc chắn năm học mới này, khoa KTTNN nói riêng và ĐH Thủy Lợi nói chung sẽ gặt hái được những thành công rực rỡ để xứng đáng là một trong những trường ĐH hàng đầu Việt Nam và khu vực.







    Sự tham dự của lãnh đạo Nhà trường, các thầy cô giáo và đông đảo các bạn sinh viên chương trình tiên tiến












    TS Nguyễn Thu Hiền tổng kết đánh giá kết quả đào tạo năm học 09- 10








     GS.TS Nguyễn Quang Kim chia sẻ cùng sinh viên








     Nhà trường trao học bổng và khen thưởng sinh viên xuất sắc


    Nguyễn Nhật Đức

  • Thư ngỏ Tài trợ cuộc thi Nữ sinh thanh lịch Đại học Thủy Lợi 2010.

    Thư ngỏ Tài trợ cuộc thi Nữ sinh thanh lịch Đại học Thủy Lợi 2010.

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI


    WATER RESOURCES UNIVERSITY


     


    THƯ NGỎ


     


    Kính gửi: Các Phòng, Khoa, Ban, Trung tâm, Công ty, các đơn vị, cá nhân trong và ngoài trường


     


                Hướng tới các ngày lễ kỷ niệm Ngày phụ nữ Việt Nam 20/10, ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, hòa trong không khí tưng bừng của Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội; được sự đồng ý của Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường, Phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên; BCH Đoàn Thanh niên; Ban Nữ công và Ban Nữ sinh trường Đại học Thủy Lợi tổ chức cuộc thi “Nữ sinh thanh lịch Đại học Thủy Lợi 2010”. Cuộc thi bắt đầu từ ngày 08/10 qua các vòng sơ tuyển và cuộc thi chung kết sẽ diễn ra vào lúc 19h ngày 20/10/2010.


                Đây là lần thứ 3 Trường Đại học Thủy Lợi tổ chức cuộc thi “Nữ sinh thanh lịch Đại học Thủy Lợi”. Qua 2 lần tổ chức, cuộc thi đã đạt được những thành công rực rỡ và để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng khán giả. Cuộc thi “Nữ sinh thanh lịch Đại học Thủy Lợi” lần thứ 3 sẽ thành công hơn, có ý nghĩa lớn lao hơn, hiệu quả thiết thực hơn, để lại ấn tượng sâu lắng hơn cho mỗi khán giả nếu có sự ủng hộ, quan tâm bằng cả về tinh thần và vật chất của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường, những người yêu mến và luôn ủng hộ cho các hoạt động của Trường Đại học Thủy Lợi. Nhà trường luôn trân trọng và ghi nhận mỗi đóng góp của các quý vị.


                Về mặt tinh thần là những kỷ vật, những tặng phẩm, những cuốn sách, tạp chí có ý nghĩa giáo dục sẽ được làm quà tặng trao cho các thí sinh tham gia cuộc thi. Về mặt vật chất- sẽ đóng góp vào kinh phí tổ chức cuộc thi và các giải thưởng của cuộc thi.


                Xin trân trọng cảm ơn mọi sự ủng hộ, quan tâm, giúp đỡ của các quý vị.


                Trân trọng!


                                                                           


    T.M BAN TỔ CHỨC


    P.Bí thư Đoàn trường


    Lê Thị Ngọc Quyên


     


    Mọi sự đóng góp của quý vị xin được gửi về:


    Văn phòng Đoàn Thanh niên – Phòng 304 – Nhà A1 – Trường Đại học Thủy Lợi – 175 Tây Sơn – Đống Đa – Hà Nội.


    ĐT: 04 38532745 – DD: 0978080073 (gặp anh Viễn – Chuyên trách văn phòng)


    Email: [email protected]

     


    DANH SÁCH CÁC CÁ NHÂN, ĐƠN VỊ ỦNG HỘ


    CUỘC THI NỮ SINH THANH LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI 2010














































    STT


    Tên đơn vị, cá nhân


    Số tiền


    1


    GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng Ủy – Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Thủy Lợi


    2.000.000 vnđ


    2


    Phòng Đào tạo ĐH & SĐH Trường ĐH Thủy Lợi


    500.000 vnđ


    3


    Phòng CTCT & QLSV Trường ĐH Thủy Lợi


    500.000 vnđ


    4


    Cô Trần Thị Chì – Trưởng Phòng Hành chính – Tổng hợp Trường ĐH Thủy Lợi


    500.000 vnđ


    5


    Thầy Nguyễn Thanh Tùng – GĐ Trung tâm Tin học ĐH Thủy Lợi


    500.000 vnđ


    6


    Phòng Quản trị Trường ĐH Thủy Lợi


    200.000 vnđ


    7


    Trung tâm Tin học Trường ĐH Thủy Lợi


    500.000 vnđ


    8


    Khoa Tại chức Trường ĐH Thủy Lợi


    500.000 vnđ


     


    …………………………


     


    (Chi tiết
    tại đây)

  • Danh sách thi ngày 15-9-2010

    P.Công tác chính trị và Quản lý sinh viên gửi Danh sách thi vét cho sinh viên K48. Bấm vào liên kết sau để xem:

     Danh sách sinh viên thi ngày 15-9-2010

  • Thăng Long – Hà Nội những chặng đường lịch sử

    Kỳ 1: THĂNG LONG – HÀ NỘI, NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ


    1.       Thời kỳ tiền Thăng Long


    Thời Hùng Vương, kinh đô đặt ở Văn Lang, vùng đất Thăng Long – Hà Nội lúc đó là một làng quê. Khoảng thế kỷ III trước Công nguyên, Thục Phán (An Dương Vương) thay thế vua Hùng dựng nước Âu Lạc, dời đô xuống miền Cổ Loa. Kinh đô Cổ Loa đi vào lịch sử với tư cách là kinh thành, thị thành, quân thành, trung tâm đầu não chính trị, kinh tế của nước Âu Lạc. Năm 179 trước Công nguyên, nước Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính. Kể từ đó, Âu lạc rơi vào ách thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc kéo dài ngàn năm, vùng đất Thăng Long – Hà Nội trở thành đại bản doanh của chính quyền đô hộ. Nửa sau thế kỷ VIII, Kinh lược sứ nhà Đường là Trương Bá Nghi tổ chức đắp La Thành. Năm 865 – 866, Tiết độ sứ Cao Biền cho đắp đê thành Đại La. Đặc trưng thành Đại La thời Bắc thuộc là quan, quân, dân chúng ở trong một vòng đê ngoài, mang tính chất quân sự, thiếu quy mô sinh hoạt kinh tế, văn hoá của các tầng lớp nhân dân.


    Trong hơn mười thế kỷ Bắc thuộc, nhân dân Thăng Long – Hà Nội luôn bất khuất, quật cường khởi nghĩa chống quân xâm lược. Năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở Hát Môn đập tan ách đô hộ của nhà Hán, xây dựng kinh đô ở Mê Linh, khôi phục nhà nước độc lập. Năm 542 – 544, Lý Bí hào trưởng Thái Bình (vùng Sơn Tây cũ), dấy binh đánh đuổi giặc Lương, lên ngôi hoàng đế hiệu Lý Nam Đế, chọn đất dựng chùa “Khai Quốc”, đóng đô ở vùng đất thuộc Thăng Long – Hà Nội (ngày nay), đặt quốc hiệu của nước là Vạn Xuân. Khoảng năm 766 – 779, Phùng Hưng thủ lĩnh vùng Đường Lâm khởi binh kéo đại quân từ vùng núi Ba Vì về bao vây thành Đại La, lật đổ ách đô hộ nhà Đường, xây dựng chính quyền độc lập tới năm 791. Năm 905, Khúc Thừa Dụ, hào trưởng đất Hồng Châu nổi dậy chiếm giữ phủ thành Đại La, tự lập làm Tiết độ sứ, xoá bỏ chính quyền đô hộ. Năm 931, hào trưởng Dương Đình Nghệ tiến quân từ Ái Châu (Thanh Hoá) ra Bắc, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi thành Đại La, khôi phục nền tự chủ từ năm 931 đến năm 937 – cũng thời gian này Ngô Quyền xưng vương đóng đô ở Cổ Loa. Năm 938, vua Nam Hán sai con là Hoằng Thao sang xâm lược nước ta, dưới sự chỉ huy đầy mưu lược với trận địa ở cửa sông Bạch Đằng đã đánh tan quân Nam Hán xâm lược chấm dứt ách đô hộ của phong kiến phương Bắc xây dựng nền độc lập tự chủ cho đất nước.


    Thời tiền Thăng Long các bậc đế vương của nước ta, như: An Dương Vương, Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Ngô Quyền đã chọn đất thuộc vùng Thăng Long – Hà Nội để đóng đô, xây dựng nền độc lập.


    2. Thăng Long thời Lý (1010 – 1225)


    Năm 1010, ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, đổi tên thành Đại La là thành Thăng Long. Chọn Thăng Long làm kinh đô, Lý Công Uẩn đã đứng trên “chủ thuyết phát triển” và cái nhìn toàn cục của quốc gia để chọn lấy một dải đất đắc địa bậc nhất của nước Đại Cồ Việt xây dựng trung tâm đầu não về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thể hiện cao độ ý chí độc lập, tự cường dân tộc.


    Thời Lý kinh đô Thăng Long được xây dựng theo kiến trúc “Tam trùng thành quách” 3 vòng thành lồng nhau. Vòng thành ngoài gọi là thành Đại La. Vòng thành giữa gọi là Hoàng Thành, nơi có các cung điện hoàng gia và nơi thiết triều của vua. Kinh thành được bao bọc bởi một toà thành bằng đất phát triển từ đê của 3 con sông: sông Hồng ở phía Đông, sông Tô ở phía Bắc và phía Tây, sông Kim Ngưu ở phía Nam. Nét nổi bật của kinh thành Thăng Long thời Lý là tận dụng tối đa những điều kiện tự nhiên và tạo ra sự hài hoà với kiến trúc nhân tạo. Dấu ấn Thăng Long thời kỳ này còn được lưu lại ở nhiều công trình kiến trúc đặc sắc, như: đền Đồng Cổ xây dựng năm 1028, chùa Diên Hựu (chùa Một Cột -1049), tháp Báo Thiên (1057). Trong công trình “Thăng Long tứ trấn”, nhà lý xây dựng hoàn chỉnh ba trấn là: quán Trấn Vũ, đền Bạch Mã, đền Voi Phục…. Năm 1070, nhà Lý lập Văn Miếu; năm 1075, mở khoa thi Nho học đầu tiên; năm 1076, tuyển những văn quan có học vào tu nghiệp ở Quốc Tử Giám. Trong công cuộc phục hưng nền độc lập nhà Lý đã đặt viên gạch đầu tiên để xây dựng nền tảng sự nghiệp văn hoá, giáo dục, đặt nền tảng cho nền giáo dục đại học và nhiều ngành khoa học của nước nhà, mở ra kỷ nguyên văn minh Đại Việt. Vào giai đoạn thịnh đạt của nhà Lý, kinh đô Thăng Long đã thực sự trở thành một trung tâm chính trị – kinh tế, văn hoá lớn nhất và tiêu biểu cho cả nước.


    3. Thăng Long thời Trần (1226 – 1400)


    Sau 215 năm cầm quyền, triều Lý lâm vào tình trạng suy yếu, không giữ được binh quyền. Năm 1226, nhà Trần thay thế nhà Lý chấm dứt tình trạng loạn ly, thiết lập lại trật tự chính trị – xã hội. Nhà Trần có nhiều chính sách thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tăng cường sức mạnh quốc phòng. Nhìn tổng thể kiến trúc cung đình Thăng Long thời Trần không bề thế như thời Lý. Quy mô kinh thành Thăng Long cơ bản vẫn giữ ranh giới cũ. Năm 1230, nhà Trần sửa chữa thành Đại La và các cung thất, hoạch định lại các đơn vị hành chính; năm 1243 đắp lại Cấm thành. Năm 1253 tu sửa lại Quốc Tử Giám, lập Viện Quốc học, Viện Quốc sử, Giảng Võ đường đào tạo nhiều văn quan, võ tướng tài năng. Nho học được coi trọng và phát triển, chế độ khoa cử được tổ chức chặt chẽ. Từ năm 1247, nhà Trần đặt thêm học vị Trạng nguyên, Thám hoa, Bảng nhãn (Tam khôi). Thăng Long thời Trần thu hút nhiều nhân tài từ các nơi về học tập. Khoa học quân sự thời Trần là yếu tố cấu thành văn hóa Đại Việt, tạo nên hào khí Đông A.


    Kinh đô Thăng Long được quy hoạch lại thành 61 phường với số dân đông đúc hơn, tập trung trong khu vực dân sự, Thăng Long ngày càng rõ nét một thành thị với sự phát triển nhanh của phố, chợ, làng nghề thủ công. Nhà Trần có chính sách ngoại giao thông thoáng nhiều khách buôn nước ngoài đã đến đây làm ăn, sinh sống hoặc cư trú chính trị, như: người Hoa, người Hồi Hột, người Java… Kinh đô Thăng Long thời Trần là thành phố mở, hội tụ tinh hoa văn hoá của nhiều nước trên thế giới. Thời Lý và thời Trần nước Đại Việt nổi tiếng với 4 công trình nghệ thuật “An Nam tứ đại khí” làm bằng đồng: chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh, tượng Quỳnh Lâm và đỉnh tháp Báo Thiên. Trong vòng 30 năm (1258 – 1288), đế chế Mông Cổ ba lần đem quân đánh chiếm Thăng Long. Quân dân ta đều chủ động, khôn khéo rút lui chiến lược khỏi kinh thành để bảo toàn lực lượng, sau đó bao vây, phản công quét sạch quân xâm lược. Thăng Long góp phần cùng nhân dân cả nước lập nên chiến công vĩ đại, ba lần đại thắng quân Nguyên – Mông. Nền văn minh Đại Việt, hào khí Thăng Long, hào khí Đông A tỏa sáng, Thăng Long xứng đáng là kinh đô anh hùng của đất nước anh hùng.


    4. Thăng Long thời Lê, thời Mạc, Lê Trung hưng (1428 – 1788)


    Nhà Trần trị vì được 175 năm thì lâm vào suy thoái. Hồ Quý Ly đại thần nhà Trần thâu tóm quyền lực. Năm 1397, Hồ Quý Ly cho xây dựng Tây Đô ở Thanh Hóa, đổi tên Thăng Long thành Đông Đô, buộc vua Trần dời triều đình vào Tây Đô. Trong 10 năm cuối triều Trần nước ta có hai Đô là Tây Đô và Đông Đô. Tây Đô có triều đình, có vị thế về chính trị nhưng Đông Đô (Thăng Long) vẫn là trung tâm kinh tế lớn nhất của đất nước. Năm 1400, Hồ Quý Ly truất ngôi Trần Thiếu Đế, lên làm vua. Nhà Hồ ở ngôi 7 năm thì phong kiến nhà Minh sang xâm lược, cha con Hồ Quý Ly bị giặc bắt đưa về Trung Quốc. Sau gần 500 năm giành độc lập, đến nhà Hồ, nước ta lại bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Năm 1418, Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa. Sau chín năm kháng chiến, nghĩa quân Lam Sơn đã giải phóng được các vùng từ Nam đến Bắc. Năm 1426, ba đạo quân Lam Sơn tiến ra bao vây thành Đông Quan, chủ động “vừa đánh vừa đàm”,“vây thành diệt viện”, dập tắt mọi hy vọng của giặc Minh trong thành Đông Quan, buộc Vương Thông phải lên đàn thề từ bỏ dã tâm xâm lược và xin rút quân về nước. Ngày 29/4/1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, khôi phục quốc hiệu Đại Việt, định đô ở Đông Đô. Năm 1430, đổi tên là Đông Kinh. Thời Hậu Lê, kinh thành Thăng Long được quy hoạch và xây dựng theo quy cách đế đô của quốc gia quân chủ tập quyền. Kinh thành được mở rộng sang phía Đông. Trong Cấm thành, một toà thành hình chữ nhật xây gạch với cửa chính là Đoan Môn, nhà Lê xây dựng và bố trí lại nhiều cung điện, lầu gác, thâm nghiêm nhất là điện Kính Thiên xây dựng trên đỉnh núi Nùng. Ngoài Hoàng thành, nhiều kiến trúc mới cũng xuất hiện. Kiến trúc kinh thành thời Lê đạt đến trình độ mực thước, hài hoà. Khu dân sự tiếp tục phát triển và được quy hoạch lại gồm hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương, mỗi huyện có 18 phường. Đông Kinh lúc này đã có những phố chợ buôn bán tấp nập, nhiều phường thủ công nổi tiếng, như: Nghi Tàm, Thụy Chương dệt vải; Yên Thái làm giấy; Hàng Đào nhuộm điều; tranh Hàng Trống…


    Năm 1428, Lê Lợi cho lập nhà Quốc Tử Giám. Năm 1442, mở khoa thi Hội đầu tiên, long trọng tổ chức lễ xướng danh, treo bảng vàng, ban mũ áo cho người trúng tuyển, khuyến khích học hành. Nước Đại Việt dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) đã đạt tới đỉnh cao của một quốc gia phong kiến độc lập. Tuy nhiên, những mâu thuẫn trong nội bộ triều Lê Sơ, từ đầu thế kỷ XVI, đã dẫn tới sự phế truất vua Lê của tập đoàn phong kiến Mạc Đăng Dung (1572). Năm 1588, nhà Mạc huy động dân đắp 3 lần luỹ đất để tăng cường hệ thống phòng thủ kinh thành. Nhưng chỉ 4 năm sau, dưới danh nghĩa phù Lê, họ Trịnh chiếm được kinh thành. Kinh đô chính thức trở lại tên gọi Thăng Long. Triều đình của vua Lê đóng trong Hoàng thành cũ. Phủ Chúa Trịnh được xây bên ngoài, gồm nhiều cung điện nguy nga, chạy dài theo bờ tây Hồ Gươm. Tuy có những biến động về chính trị, nhưng thời Lê, Mạc, Lê Trung hưng, Thăng Long vẫn là một thành thị – thương cảng sầm uất nhất cả nước và vào loại lớn ở Châu Á. Bên cạnh các thương điếm của người Hoa, còn có cả những thương điếm của người Anh, Hà Lan, Đức. Khu vực dân cư trong kinh thành Thăng Long đông đúc hơn trước và có cả nhà hai tầng. Nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật, đặc biệt là về tôn giáo đã được xây dựng thêm.


    5. Thăng Long- Hà Nội thời Tây Sơn (1788 – 1802)


    Cuối năm 1788, Kinh đô và đất nước Đại Việt lại phải đương đầu với cuộc xâm lược của đế chế Mãn Thanh. Từ Phú Xuân (Huế), vua Quang Trung thống lĩnh đại quân Tây Sơn tiến ra Bắc, giải phóng Thăng Long. Giặc tan, vua Quang Trung về đóng đô ở Huế. Thăng Long là thủ phủ của Bắc Thành. Hoàng thành Thăng Long vẫn được nhà Tây Sơn cho tu sửa, đắp lại những đoạn bị sụt đổ. Chùa Kim Liên (Nghi Tàm), chùa Tây Phương (Thạch Thất), tượng Tuyết Sơn và 18 vị La Hán được tu bổ, tôn tạo; nhiều chuông to, đẹp được đúc. Sau chiến thắng vua Quang Trung ra lệnh cho quân sĩ và nhân dân thu gom xác giặc, chôn cất và sai lập đàn chẩn tế, tu sửa chùa Bộc làm nơi quy y cho quân sĩ nhà Thanh; ban Chiếu khuyến nông, khuyến khích nhân dân trở về quê cũ khai khẩn ruộng bỏ hoang, phục hồi sản xuất; ban Chiếu lập học khuyến khích các địa phương mở trường học. Lập Viện Sùng Chính để dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm, đưa chữ Nôm lên địa vị chính thức của quốc gia. Lịch sử triều đại Tây Sơn tuy ngắn ngủi, nhưng đã để lại những dấu ấn đậm nét trong trang sử Thăng Long – Hà Nội văn hiến, anh hùng.


    6. Thăng Long – Hà Nội thời Nguyễn và Pháp thuộc (1802 – 1945)


    Lợi dụng cơ hội vua Quang Trung qua đời (1792), tập đoàn phong kiến Nguyễn Ánh từ miền Nam đánh chiếm Phú Xuân (1801), thăng Long (1802). Kinh đô nhà Nguyễn vẫn đặt ở Phú Xuân, Thăng Long được gọi là Bắc Thành. Hoàng Thành bị phá bỏ, thay vào đó là một toà thành mới hình vuông, xây theo kiểu thành Vô – băng của Pháp. Năm 1831, Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội với tỉnh lỵ là phủ Hoài Đức (thành Thăng Long cũ), Thăng Long được gọi là Hà Nội. Quốc Tử Giám, cơ quan giáo dục cao nhất của đất nước bị dời vào Huế. Tuy không còn là trung tâm chính trị, nhưng Hà Nội lúc đó vẫn là trung tâm kinh tế -văn hoá lớn nhất của cả nước


    Cuối thế kỷ XIX, trước những hành động xâm lược của thực dân Pháp, cùng với nhân dân cả nước, Hà Nội đã đứng lên kháng chiến. Dưới sự lãnh đạo của Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương và người kế nhiệm là Tổng đốc Hoàng Diệu, nhân dân Hà Nội đã anh dũng chống trả các cuộc tấn công của quân Pháp. Nhưng triều đình nhà Nguyễn nhu nhược đã ký “Hiệp ước hoà bình” (1883), công nhận quyền thống trị của Pháp trên cả nước. Hà Nội trở thành đất “bảo hộ” thuộc Bắc kỳ, đặt dưới quyền cai trị của một viên Thống sứ người Pháp. Tháng 7/1888, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh lập thành phố Hà Nội, gồm đất đai tỉnh lỵ Hà Nội, đứng đầu là một viên Đốc ký.


    Chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn của thực dân Pháp làm diện mạo của Hà Nội từ đầu thế kỷ XX có nhiều thay đổi. Các cơ sở hạ tầng được hoàn thành, trước hết là mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, cầu cống, trong đó có cầu Doumer qua sông Hồng. Thành cổ Hà Nội lại bị phá để xây các “khu nhà binh”, công sở. Điện Kính Thiên cũng bị phá huỷ, thay vào đó là nhà con Rồng hai tầng dùng làm sở chỉ huy pháo binh (1886). Đi đôi với việc hình thành các “khu phố Tây” (nằm trên các đường Đinh Tiên Hoàng, Ngô Quyền, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt…ngày nay), một số công trình khác mang phong cách Châu Âu được xây dựng, như: Phủ Toàn quyền, Phủ Thống sứ, Ngân hàng Quốc gia, Nhà hát lớn, Nhà thờ lớn, nhà Bưu điện, trường Viễn Đông Bác Cổ, ga Hà Nội…


    Mặc dù thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp, khủng bố tàn bạo, phong trào đấu tranh của nhân dân Hà Nội thời Pháp thuộc, đặc biệt là sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (02/1930), lúc âm ỉ, lúc rầm rộ, không bao giờ tắt…Ngày 19/8/1945, thực hiện lệnh khởi nghĩa của Uỷ ban Quân sự Cách mạng Hà Nội, hàng vạn nhân dân nội, ngoại thành đã nhất tề xuống đường đấu tranh giành chính quyền.


    7. Hà Nội trong thời đại Hồ Chí Minh


    Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, công bố trước toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1946, tại kỳ họp Quốc hội lần thứ nhất Hà Nội được vinh dự chọn làm Thủ đô của cả nước trong kỷ nguyên mới.


    Bước vào xây dựng cuộc sống tự do, dân chủ chỉ hơn một năm, nhân dân Thủ đô lại phải đương đầu với một cuộc xâm lược mới của thực dân Pháp. Đêm 19/12/1946, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Hà Nội đã nổ súng mở đầu cuộc toàn quốc kháng chiến. Sau tám năm trường kỳ chiến đấu, ngày 10/10/1954, Hà Nội rực rỡ cờ hoa đón chào đoàn quân chiến thắng trở về giải phóng Thủ đô.


    Hoà bình lập lại, Hà Nội khẩn trương bước vào công cuộc khôi phục và xây dựng kinh tế. Đảng bộ và nhân dân Hà Nội đã hoàn thành thắng lợi việc tiếp quản, nhanh chóng ổn định tình hình, khẩn trương bắt tay vào khôi phục, cải tạo và xây dựng thành phố. Chỉ hơn một tháng sau giải phóng, thành phố đã thông qua kế hoạch phục hồi công thương nghiệp. Không khí hòa bình xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố diễn ra sôi động. Một năm sau giải phóng, Hà Nội đã hoàn thành cải cách ruộng đất. Từ năm 1958 đến năm 1960 tiến hành xong cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và hợp tác hoá nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Bộ mặt thành phố đổi mới từng ngày Sau kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960 – 1965), Thủ đô đã trở thành trung tâm chính trị, văn hoá và kinh tế quan trọng trong cả nước.


    Giữa năm 1966, giặc Mỹ leo thang chiến tranh ra miền Bắc, đánh phá Thủ đô. Tháng 3/1968, đế quốc Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Ngày 2/9/1969, Bác Hồ từ trần. Nhân dân Thủ đô Hà Nội tỏ rõ niềm tiếc thương vô hạn với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, ngày 9/9/1969, hơn 10 vạn cán bộ và nhân dân Thủ đô tới Quảng trường Ba Đình cùng nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế dự Lễ truy điệu vĩnh biệt Người với lòng thành kính và biết ơn vô hạn. Tháng 4/1972, Hà Nội trở thành mục tiêu đánh phá lần thứ hai của Mỹ. Cuối năm đó, chỉ trong vòng 12 ngày đêm (18 – 29/12/1972), Mỹ đã trút hàng vạn tấn bom đạn xuống địa bàn Hà Nội. Thể hiện bản lĩnh là “Thủ đô của phẩm giá con người”, quân dân Hà Nội đã lập nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đánh sập “uy thế không lực Hoa Kỳ”. Trong hai cuộc chống chiến tranh phá hoại bằng đường không của đế quốc Mỹ trên miền Bắc, 358 máy bay các loại của Mỹ trong đó có 23 chiếc pháo đài bay B52, 2 chiếc F111 bị tan xác trên bầu trời Hà Nội; 83 máy bay trong đó có 1 máy bay B52 và 2 máy bay F.111 bị tan xác trên bầu trời Hà Tây. Quân và dân Thủ đô Hà Nội đã góp phần quyết định buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris (01/1973), rút hết quân Mỹ và chư hầu về nước. Đúng một năm chín tháng sau, ngày 30/9/1974, tại Tổng hành dinh đóng trong Thành cổ Hà Nội, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương duyệt kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Với sự chi viện hết lòng và toàn diện của quân dân Hà Nội và miền Bắc, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30/4/1975) đã toàn thắng. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc – Nam thống nhất.


    Tháng 4/1976, Hà Nội được Quốc hội chung của cả nước quyết định là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện Di chúc của Bác Hồ, Đảng bộ và nhân dân Hà Nội quyết tâm xây dựng Thủ đô “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Hà Nội dấy lên nhiều phong trào thi đua yêu nước tiêu biểu như: phong trào bốn đổi mới trong công nghiệp, áp dụng khoán trong nông nghiệp, xử lý giá, lương, tiền trong lưu thông phân phối; tập trung quy hoạch phát triển đô thị – giao thông nội đô thống nhất; cải tạo lại mạng lưới điện hạ thế và cấp nước sạch; cải thiện nhà ở, giao thông và chiếu sáng đô thị.


    Các công trình lớn như sân bay Nội Bài, cầu Thăng Long, cầu Đuống, cầu Chương Dương, đường 6 (đoạn Hà Nội – Hà Đông) và nhiều khu nhà cao tầng ở khu Bắc Thanh Xuân, Kim Giang, Đại học Bách Khoa, tập thể Quỳnh Lôi được xây dựng và đưa vào sử dụng. Một số ngành công nghiệp điện tử, công nghiệp chế biến thực phẩm, cơ khí nông nghiệp, hóa chất, chế tạo máy đã được hình thành. Ngành nông nghiệp Thủ đô áp dụng tốt các kỹ thuật thâm canh, tăng vụ, hình thành nhiều vùng chuyên canh rau ở các huyện Từ Liêm, Đông Anh, Thanh Trì. Kinh tế đối ngoại bắt đầu hình thành.


    Với những bước đi quan trọng đó, lần đầu tiên trong kế hoạch 5 năm (1991 – 1995), nhiều mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Hà Nội đã đạt và vượt toàn diện, nhiều mục tiêu đạt và hoàn thành trước thời hạn. Kinh tế Thủ đô liên tục tăng trưởng ở mức cao, điều đáng kể là bước đầu kinh tế Thủ đô đã có tích lũy. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hình thành cơ cấu kinh tế mới theo hướng công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp.


    Giai đoạn 1996 – 2000, thành phố đã tập trung nguồn lực phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất, thương mại, dịch vụ then chốt. Những chủ trương và giải pháp quan trọng đó đã tạo sự phát triển kinh tế – xã hội toàn diện của Hà Nội, góp phần đáng kể cho việc động viên nguồn thu ngân sách Nhà nước. So với cả nước: năm 1990 thu ngân sách địa bàn Hà Nội đạt 9,2%, năm 2000 đạt 16,3%. Năm 2000, Hà Nội chiếm 3,6% về dân số và 2,8% diện tích lãnh thổ quốc gia nhưng đã đóng góp với cả nước 7,8% GDP. Đời sống nhân dân có nhiều cải thiện. Bộ mặt của Thủ đô có nhiều thay đổi, vị thế của Thủ đô được nâng lên. Một vinh dự lớn đối với Thủ đô Hà Nội, năm 1999 được tổ chức UNESCO của Liên Hợp quốc trao tặng danh hiệu vẻ vang “Thành phố vì hòa bình” và lấy làm nơi phát động “Năm quốc tế hòa bình – 2000”. Năm 2000, Hà Nội được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Thủ đô Anh hùng.


    Thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (2000 – 2010), về kinh tế, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Hà Nội tập trung trí tuệ đẩy nhanh tiến độ sắp xếp cổ phần hóa vững chắc doanh nghiệp Nhà nước; đổi mới công nghệ, thiết bị và mô hình quản lý; tích cực thu hút vốn đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cấp hạ tầng đô thị. Những năm đầu của thế kỷ XXI, bộ mặt Thủ đô đổi thay nhanh chóng, Hà Nội đã mở ra 4 hướng với những khu công nghiệp hiện đại như: Sài Đồng A, Sài Đồng B, Bắc Thăng Long, Chèm, Mễ Trì, Thượng Đình, Thanh Trì, Cầu Bươu, Cầu Diễn, Nghĩa Đô, Đông Anh, Sóc Sơn…phát triển công nghiệp Hà Nội gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu và công nghiệp của tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh thực hiện thành công bước đi ban đầu chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hà Nội trở thành trung tâm du lịch của cả nước, chất lượng dịch vụ du lịch từng bước được nâng cao. Thủ đô Hà Nội tích cực đi đầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng văn hóa sinh thái. Cùng với phát triển kinh tế, Hà Nội tiếp tục đạt nhiều thành tựu nổi bật trong sự nghiệp phát triển văn hóa – xã hội và con người, tạo nên sức mạnh và độ bền vững của quá trình phát triển kinh tế – xã hội Thủ đô.


    Những năm đầu thế kỷ XXI, Hà Nội đổi thay từng ngày. Không gian Hà Nội được phân thành các vùng rõ nét. Khu vực trung tâm được bao quanh bằng các đường La Thành – đường Láng – Trường Chinh – Đại La – Minh Khai và dọc hữu ngạn sông Hồng. Khu phát triển mở rộng, được quy hoạch theo hữu ngạn và tả ngạn sông Hồng. Trong đó hữu ngạn gồm khu vực phía Nam cầu Thăng Long, dọc quốc lộ 32. Ở đây, có khu công nghiệp Cầu Diễn, khu công nghệ cao Nam Thăng Long, khu đô thị Ciputra, các khu dân cư tập trung Mai Dịch, Nghĩa Đô, Cầu Diễn, Tây sông Nhuệ, khu dân cư theo quốc lộ 6 và vành đai 3. Các khu công nghiệp Thượng Đình, công viên mới Mễ Trì, khu trung tâm Thể thao quốc gia, khu đô thị mới Trung Yên, Yên Hòa, Thanh Xuân. Khu công nghiệp Xuân Mai, Định Công, Linh Đàm, Cầu Bươu, Mai Động. Khu Bắc cầu Thăng Long; khu thị trấn Gia Lâm – Sài Đồng – Đức Giang – Yên Viên; khu dọc đường quốc lộ 3.


    Việc cải tạo, xây dựng Thủ đô thành một đô thị văn minh, hiện đại, xứng đáng với tầm vóc của một Quốc gia khoảng trên một trăm triệu dân, trong thế kỷ XXI là một yêu cầu cần thiết. Quốc hội đã có Nghị quyết số 15-2008/QH12 về mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội. Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 260/CT-TTg, ngày 4 tháng 3 năm 2008 về việc tổ chức thực hiện chủ trương mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội. Theo đó, Hà Nội mở rộng bao gồm toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Sau khi hợp nhất, mở rộng Hà Nội có diện tích 3.340 km2 với gần 6,5 triệu dân, 29 đơn vị huyện, quận; 577 xã, phường, thị trấn; 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao sinh sống.


    Đảng bộ và nhân dân Hà Nội đặt mục tiêu sau năm 2010 xây dựng Thủ đô Hà Nội hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc tương xứng với truyền thống ngàn năm văn hiến. Hướng phát triển của thành phố Hà Nội về phía Tây, hình thành chuỗi đô thị Miếu Môn – Xuân Mai – Hòa Lạc – Sơn Tây; phía Bắc là cụm đô thị Sóc Sơn – Xuân Hòa – Đại Lải – Phúc Yên (tỉnh Vĩnh Phúc) và các đô thị khác. Điều chỉnh xây dựng thêm các khu công nghiệp tập trung mới như Bắc Thăng Long, Sóc Sơn, Thăng Long, Đông Anh, mở rộng khu công nghiệp Đức Giang, Cầu Diễn, Cầu Bươu. Các hệ thống công viên, khu cây xanh, vui chơi, giải trí, khu du lịch các công trình công cộng… được rà soát, quy hoạch, đảm bảo môi trường sống ngày càng văn minh, hiện đại.


    Trải qua bao biến thiên của lịch sử, Thăng Long – Hà Nội luôn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước, là nơi kết tinh tinh hoa của dân tộc, hội tụ nhân tài của đất nước. Đảng bộ và nhân dân Hà Nội coi trọng việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể, kết hợp hài hoà trong quy hoạch và xây dựng đô thị, phát huy cao độ truyền thống Thăng Long – Hà Nội nghìn năm văn hiến, đoàn kết xây dựng Hà Nội là “Thủ đô xanh, văn hiến – văn minh và hiện đại”, phát huy tốt vai trò là trung tâm lớn về văn hóa, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, kinh tế và giao dịch quốc tế.
    Ban Tuyên giáo Trung ương.

  • Báo cáo tham luận của Hội nghị điển hình tiên tiến.

    Hội nghị tổng kết thi đua giai đoạn 2005-2010 đã kết thúc thành công tốt đẹp với những ấn tượng mạnh mẽ trong bước chuyển mình quan trọng của Nhà trường. BBT Website xin trích dẫn lần lượt những báo cáo tham luận tiêu biểu được trình bày trong Hội nghị. Đầu tiên là báo cáo tham luận của Cơ sở 2 trường Đại học Thủy Lợi, với nội dung:


     Cơ sở 2- trường Đại học Thủy Lợi quyết tâm giữ vững và không ngừng phát triển thương hiệu Đại học Thủy Lợi.
    Kính thưa các quý vị đại biểu !


    Hôm nay Trường đại học Thủy lợi tổ chức Hội nghị tổng kết phong trào thi đua nhằm tôn vinh những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2005-2010 . Lời đầu tiên cho phép Tôi gửi lời chào trân trọng đến các quý vị đại biểu, chúc hội nghị thành công tốt đẹp.


    Kính thưa các quý vị đại biểu


    Trong những năm qua dưới  sự chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám hiệu tập thể CBCNV cơ sở 2 đã đoàn kết, nhất trí để hoàn thành nhiệm vụ được giao.Động lực mạnh mẽ giúp cho mọi người phấn khởi,hăng hái làm việc chính là những phong trào thi đua yêu nước được Nhà trường phát động.


    Cơ sở 2 đã tuyên truyền trong toàn thể CBCNV-GV về chỉ thị 39CT/TW ngày 21/05/2004 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiên tiến. Luật thi đua, khen thưởng. phổ biến đến toàn thể CBCNV tiêu chuẩn cũng như các danh hiệu thi đua


    Trong năm năm qua cơ sở đã xây dựng nhiều phong trào thi đua như: thi đua theo năm học, thi đua nhân dịp các ngày lễ lớn, thi đua nhân dịp ngày thành lập trường. thi đua thực hiện các chương trình hành động chung như Tháng an toàn giao thông, đội mũ bảo hiểm, phòng chống ma túy và các tệ nạn xã hội, thực hành tiết kiệm, không hút thuốc lá nơi công cộng…


    Tuyên truyền, vận động CBCNV-GV thực hiện các cuộc vận động của Bộ giáo dục đào tạo “ Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, “ Mỗi thầy giáo,  cô giáo là một  tấm gương đạo đức, tự học và  sáng tạo” và “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”


    Ngoài ra các tổ chức công đoàn thanh niên cũng có nhiều phong trào thi đua như giỏi việc trường đảm việc nhà,thi đua dạy tốt, học tốt, phục vụ tốt. Vì ngày mai lập nghiệp. Người tốt quanh ta…


    Qua 5 năm thực hiện phong trào thi đua yêu nước cơ sở 2 đã đúc rút được những bài học kinh nghiệm sau:


    * Bài học kinh nghiệm


    – Tổ chức tốt phong trào thi đua là động lực to lớn góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao


    – Sự phối hợp giữa các tổ chức đoàn thể trong cơ sở tạo được sự đồng thuận cao, nâng cao hiệu quả của phong trào.


    – Hình thức  đa dạng, nội dung phong phú, khen thưởng kịp thời


    –  Công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá đúng tiêu chuẩn, đúng quy trình, công khai.


    Kính thưa hội nghị


    Việc duy trì và tổ chức tốt phong trào thi đua đã giúp cơ sở 2 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao


     – Liên tục từ năm học 2004-2005 đến năm học 2008-2009 đạt danh hiệu tập thể lao động xuất


    – 100% cán bộ công nhân viên hoàn thành nhiệm vụ


                -Trên 80% CBCNV đạt lao động tiên tiến


               – Trong 5 năm có 28 lượt người đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi, chiến sĩ thi đua cấp cơ sở


               – 24 lượt đơn vị đạt tập thể lao động xuất sắc


              –  15 CBCNV được nhận kỷ niệm chương vì sự nghiệp Giáo dục và vì sự nghiệp NN và PTNT


             – Bảo đảm chỉ tiêu tuyển sinh các năm học.


                – Kết quả học tập của sinh viên đạt 90%, trong đó tỷ lệ khá,giỏi đạt 25 %.


                – Sinh viên chính quy làm đồ án tốt nghiệp đạt  99 %  trong đó khá, giỏi đạt 82%


                – Sinh viên tại chức làm đồ án tốt nghiệp đạt 98 %  trong đó khá, giỏi đạt 60%


                – Thực hiện 4 đề tài cấp Nhà nước, 7 đề tài cấp Bộ, hàng chục đề tài cấp cơ sở


     


    Tập thể CBCNV cơ sở 2 cũng được nhận nhiều phần thưởng như:


    -Cờ thưởng của Bộ NN & PTNT “Đơn vị Hoàn thành tốt nhiệm vụ Đào tạo – NCKH – PVSX năm 2001-2006”


    -Bằng khen của Bộ NN và PTNT: QĐ số 2849/QĐ-BNN-VP ngày 19/10/2005


    -Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2009


    -Bằng khen Thủ Tướng chính phủ tặng Tập thể ban GVCBCS năm 2009


    Nhiều Bằng khen của Ủy ban Nhân dân các tỉnh về thành tích NCKH – Phục vụ sản xuất cho các địa phương.


    Đảng bộ cơ sở 2 đạt danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh trong nhiều năm liền


    Công đoàn đạt danh hiệu công đoàn bộ phận vững mạnh


    Đoàn thanh niên CSHCM Cơ sở 2 nhận được nhiều giấy khen khi tham gia hoạt động “Thanh niên tình nguyện Mùa hè xanh. ”,” Tiếp sức mùa thi”, “ Hiến máu nhân đạo”,” Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Năm 2007-2008 được Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh tặng giấy khen cho 4 tập thể chi đoàn và 6 cá nhân tiêu biểu.


     Kính thưa các quý vị đại biểu


    Trong thời gian tới cơ sở 2 tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, tuyền truyền vận động mọi người tích cực tham gia các phong trào thi đua do Trường phát động, các cuộc vận động lớn của nhà nước.


    Nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên trong phong trào thi đua yêu nước.


    Tự hào với các thành tích đã đạt được, toàn thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên và sinh viên cơ sở 2 quyết tâm đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng các điển hình tiên tiến nhằm mục đích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị Đào tạo, NCKH và PVSX, nâng cao vị thế của Trường Đại học Thủy lợi trong nước, trong khu vực và trên thế giới.


    Cuối cùng Tôi xin kính chúc các đại biểu sức khỏe, thành công .


    Xin trân trọng cảm ơn!


             Cơ sở 2 Đại học Thủy Lợi


  • Lịch thi lại học kỳ I năm học 2009 – 2010 cho K48 trở về trước hệ cao đẳng, đại học chính quy và K49 trở về trước hệ liên thông – chi tiết và Lịch thi lại học kỳ II năm học 2009 – 2010 trở về trước hệ

    Phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học kính gửi đến các Thầy/Cô giáo và các bạn sinh viên “Lịch thi lại học kỳ I năm học 2009 – 2010 cho K48 trở về trước hệ cao đẳng, đại học chính quy & K49 trở về trước hệ liên thông – chi tiết” và “Lịch thi lại học kỳ II năm học 2009 – 2010 trở về trước hệ Vừa làm vừa học tại Hà Nội – chi tiết“. Kính mời Thầy/Cô và các bạn xem chi tiết:

    LỊCH THI LẠI

    Download files: Lịch thi lại;

  • Danh sách phòng thi môn Chính trị cuối khóa.

    Các bạn sinh viên thân mến, mời các bạn vào đây để xem lịch thi, danh sách phòng thi môn chính trị cuối khóa dành cho sinh viên khóa 49, khóa 50 và khóa 51. Chúc các bạn đạt nhiều kết quả cao trong kỳ thi này.
    Chi tiết xem tại đây.