Tác giả: Data Old

  • “Quả bom nước” nguy cơ vỡ: Chỉ có 15 ngày để cứu

    “Quả bom nước” nguy cơ vỡ: Chỉ có 15 ngày để cứu

    Các vết nứt và sạt trượt là “tai biến”

    Ngày 7/8, Đoàn Công tác của Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng chống thiên tai do Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Nguyễn Hoàng Hiệp làm trưởng đoàn, đã kiểm tra thực tế tình hình mưa lũ trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.

    Theo báo cáo của UBND tỉnh Đắk Nông, từ 28/7 đến 6/8, trên địa bàn liên tục xuất hiện mưa lớn kéo dài; tổng lượng mưa đo được là hơn 400mm, có nơi hơn 550mm…

    Hồ chứa nước Đắk N’Ting có nguy cơ bị vỡ sau khi xuất hiện các vết nứt (Ảnh: Đặng Dương).

    Mưa nhiều dẫn đến mực nước trên các sông, suối, hồ đập trong những ngày qua dâng cao, gây ngập úng cục bộ tại nhiều khu dân cư và sụt lún, sạt truợt đất tại một số khu vực.

    Đặc biệt Hồ thủy lợi Đắk N’Ting (xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong) và quốc lộ 14 đoạn qua thành phố Gia Nghĩa; khu vực bon Bu Krắc và bon Bu Prăng (xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức) xuất hiện các vết nứt và sạt trượt kéo dài.

    Kiểm tra thực tế một số khu vực nêu trên, các chuyên gia đánh giá, các vết nứt bất thường này là “tai biến” địa chất, xuất hiện sau khi có mưa to kéo dài, phá vỡ kết cấu của công trình.

    Đoàn công tác của Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng chống thiên kiểm tra hồ chứa nước Đắk N’Ting (Ảnh: Đặng Dương).

    PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi (thành viên đoàn công tác) nhận định việc xuất hiện các vết nứt và các khối dịch chuyển xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do mưa nhiều và mưa kéo dài

    “Sạt trượt trên mái dốc thì nguyên nhân chủ yếu là mưa. Số liệu thống kê cho thấy, lượng mưa lớn nhất của tháng 7 hàng năm chỉ khoảng 400mm, nhưng tháng 7 năm nay lượng mưa đã hơn 700mm. Mưa nhiều đã làm tăng mực nước ngầm và làm giảm chỉ tiêu cường độ của đất, đặc biệt là giai đoạn cuối mùa khô, đầu mùa mưa”, PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái nhận định.

    PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi  (Ảnh: Đặng Dương)

    Vị chuyên gia này kiến nghị bên cạnh việc sửa chữa trước mắt, tỉnh Đắk Nông cần khảo sát kỹ lưỡng phạm vi khối trượt để có đánh giá chính xác chiều sâu của mực nước ngầm.

    Các chuyên gia đóng góp ý kiến để tỉnh Đắk Nông có giải pháp bảo đảm an toàn hồ đập (Ảnh: Đặng Dương).

    PGS.TS Phạn Hữu Sy (thành viên đoàn công tác) cho rằng: “Hiện nay phần kết cấu bên dưới của công trình đã bị phá vỡ. Qua kiểm tra, các vết nứt vẫn đang mất ổn định và có nguy cơ sạt trượt tiếp nếu có mưa, chính vì thế Đắk Nông chưa nên tính toán đến việc sửa chữa ngay. Sau khi ổn định, tỉnh có thể dịch chuyển công trình sang vị trí khác để giảm chi phí đầu tư và bảo đảm tính bền vững”.

    Đắk Nông cần sớm công bố tình trạng khẩn cấp

    Tại buổi làm việc với UBND tỉnh Đắk Nông, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết có khoảng 1 triệu m3 đất trước nguy cơ sạt lở, trên diện tích khoảng 10ha.

    Theo đánh giá của các chuyên gia, sạt lở và các vết nứt vẫn chưa ổn định (Ảnh: Đặng Dương).

    Trước tình hình cấp bách hiện nay, Bộ NN&PTNT chỉ đạo tỉnh Đắk Nông hạ tải khu vực này; xả nhanh lượng nước hiện có trong lòng hồ… để bảm đảm an toàn cho hồ chứa và người dân sinh sống phía dưới hạ lưu.

    Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Hoàng Hiệp đề nghị tỉnh Đắk Nông sớm công bố tình huống khẩn cấp (Ảnh: Đặng Dương).

    Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp đề nghị, nhiệm vụ trước mắt của tỉnh Đắk nông là cần đảm bảo số lượng và chất lượng rừng, tôn trọng dòng chảy tự nhiên.

    Ông Hiệp cũng cho rằng, trong thời gian tới, tỉnh Đắk Nông và các Bộ, ngành liên quan cần hoàn thiện chi tiết bản đồ sạt lở trên toàn quốc, trong đó áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và máy móc hiện đại để có dự báo chính xác. Bên cạnh đó, địa phương cần đánh giá toàn diện các công trình sạt lở, sạt trượt để có những cảnh báo cho người dân.

    “Đối với các công trình xảy ra sự cố, chủ đầu tư chỉ có 15 ngày để “cứu” công trình này trước khi sẽ có thêm một đợt mưa rất to nữa vào cuối tháng 8. Tôi đề nghị tỉnh Đắk Nông cần công bố ngay tình trạng khẩn cấp về thiên tai để có các giải pháp ứng xử khẩn cấp”, Thứ trưởng Bộ NN&PTNN Nguyễn Hoàng Hiệp nói.

    Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, chủ đầu tư có 15 ngày để “cứu” công trình với nhiều vết nứt xung quanh hồ (Ảnh: Đặng Dương).

    Trước đó, hồ chứa nước Đắk N’Ting có dung tích khoảng 1,2 triệu m3 nước xuất hiện cung trượt lớn, kéo dài, gây dịch chuyển bề mặt cầu giao thông qua tràn, nứt gãy bê tông mái thượng, hạ lưu tràn.

    Để bảo đảm an toàn cho người dân, chính quyền địa phương đã di dời hơn 170 hộ dân khỏi vùng nguy hiểm.

    Hồ chứa nước Đắk N’Ting có dung tích khoảng 1,2 triệu m3 nước hiện xuất hiện cung trượt lớn, kéo dài (Ảnh: Đặng Dương).

    Trong khi đó, các vết nứt và sạt trượt tại quốc lộ 14 (đoạn qua TP Gia Nghĩa) và bon Bu Krắc và bon Bu Prăng (huyện Tuy Đức) tiếp tục mở rộng và kéo dài. 

    Theo Dân Trí

  • Quy trình tiếp học sinh, sinh viên và công dân

    Quy trình tiếp học sinh, sinh viên và công dân

    Quy trình tiếp học sinh, sinh viên và công dân

    THỜI GIAN:  – Sáng từ 8h00 -11h00 (từ thứ 2 đến thứ 6không kể ngày nghỉ và lễ Tết)

    ĐỊA ĐIỂM:       Phòng Đào tạo – P.136 nhà A4

    Xem chi tiết quy trình tại Đây

  • Hội thảo “Mathematical models in natural sciences: Existence and stability”

    Hội thảo “Mathematical models in natural sciences: Existence and stability”

    Tham dự hội thảo có TS. Lê Quang Tuấn, Đại diện phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, TS. Tạ Quang Chiểu, đại diện khoa Công nghệ thông tin, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Doanh đại diện UMMISCO, về phía khách quốc tế, có PGS. Steven Senger (Missouri State University), PGS. Tăng Quốc Bảo (University of Graz) cùng các nhà khoa học trong và ngoài trường.

    Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Tạ Quang Chiểu cảm ơn và hoan nghênh các nhà khoa hoc trong và ngoài nước đã tham gia và hợp tác tổ chức hội thảo. TS. Tạ Quang Chiểu cũng nhấn mạnh sự cần thiết tổ chức các hội thảo để tăng cường giao lưu, hợp tác khoa học giữa các cơ sở nghiên cứu, đặc biệt khi trường Đại học Thuỷ Lợi và University of Graz đều là các trường trong mạng lưới ASEA-UNINET. TS. Tạ Quang Chiểu cũng mong muốn hội thảo có thể được tổ chức hàng năm để các nhà nghiên cứu có cơ hội trình bày các kết quả và hướng nghiên cứu mới đồng thời tăng tính kết nối của các trường.

    TS. Tạ Quang Chiểu phát biểu

    Trình bày tại hội thảo có 9 báo cáo, trong đó có 2 báo cáo của các nhà khoa học ngoài nước và 6 báo cáo của các nhà khoa học trong nước, trong đó, các nhà nghiên cứu từ trường Đại học Thuỷ Lợi đóng góp 3 báo cáo. Các báo cáo tại hội thảo tập trung trình bày về các mô hình toán trong khoa học tự nhiên, có những ứng dụng trong Khoa học, kỹ thuật.

    PGS. Steven Senger báo cáo

    Kết thúc hội thảo, thay mặt ban tổ chức, PGS.TS. Đỗ Lân cảm ơn các báo cáo viên, các đại biểu dự hội thảo đã tham gia và có những đóng góp nhiệt tình, cởi mở, trao đổi thẳng thắn trên tinh thần khoa học cao giúp cho hội thảo thành công tốt đẹp. Ban tổ chức hi vọng có cơ hội hợp tác cùng các nhà khoa học trong những hội thảo tiếp theo. BTC cùng các đại biểu đã chụp một số ảnh lưu niệm tại hội thảo.

    Hội thảo chụp ảnh kỷ niệm

    Khoa CNTT

  • Các chuyên gia vào cuộc tìm nguyên nhân gây ngập cao tốc Phan Thiết – Dầu Giây

    Các chuyên gia vào cuộc tìm nguyên nhân gây ngập cao tốc Phan Thiết – Dầu Giây

    Nguy cơ ngập với cao độ mặt đường hiện hữu

    Theo nhóm nghiên cứu, có nhiều yếu tố cần được xem xét khi xây dựng đường cao tốc Dầu Giây – Phan Thiết. Cụ thể, cần có đánh giá mức độ ảnh hưởng của cường độ mưa và vận hành hồ chứa trên toàn bộ lưu vực, cao trình mặt đường, khẩu độ và cao trình cống thoát nước tại các vị trí có địa hình lòng chảo trên tuyến cao tốc như thế nào là phù hợp để tránh ngập úng.

    Chống ngập đường cao tốc Dầu Giây – Phan Thiết, phải theo quản lý tổng hợp lũ lưu vực sông  ảnh 1

    Mô phỏng đoạn đường cao tốc Phan Thiết – Dầu Giây bị ngập tại km25+419

    Dựa trên tiếp cận quản lý tổng hợp lũ lưu vực sông, trên cơ sở số liệu về địa hình, địa chất, địa chất thủy văn, lượng mưa thu thập được nhóm nghiên cứu đã mô phỏng ngập úng trên toàn bộ lưu vực trên tuyến cao tốc trong đó có các vị trí ngập úng cục bộ bằng hệ thống tính toán hiệu năng cao do Tecotec Group (Công ty cung cấp giải pháp công nghệ và thiết bị đo lường – kiểm định – hiệu chuẩn hàng đầu Việt Nam) cung cấp.

    Nhóm lấy cao độ mặt đường thiết kế hiện hữu là +44.47m, với giả thiết thời gian mưa kéo dài khoảng 4 giờ rưỡi, với lượng mưa 25/50/100mm thì kết quả ngập tại km25+419 như sau:

    Qua phân tích, với cường độ mưa 25mm, thì độ sâu ngập khoảng lớn nhất là 50-65cm, chiều dài đoạn đường bị ngập nằm trong khoảng 68-93m. Ngập úng diễn ra sau 2 giờ rưỡi, tính từ thời điểm bắt đầu mưa và kéo dài 3-4 giờ.

    Với cường độ mưa 50mm, độ sâu ngập khoảng lớn nhất là 70 – 95 cm, chiều dài đoạn đường bị ngập nằm trong khoảng từ 85 – 116m. Ngập úng diễn ra chỉ sau 1 giờ rưỡi tính từ thời điểm bắt đầu mưa và kéo dài 4-6 giờ.

    Với cường độ mưa 100mm, độ sâu ngập khoảng lớn nhất 121-186cm, chiều dài đoạn đường bị ngập nằm trong khoảng từ 165 – 252m, ngập úng diễn ra chỉ sau 45 phút tính từ thời điểm bắt đầu mưa và kéo dài 7-9 giờ.

    Như vậy, với cao độ mặt đường hiện hữu tại vị trí km25+419 là +44.47m, thì chỉ cần mưa 25mm trở lên sau 2 giờ rưỡi sẽ ngập.

    Chống ngập đường cao tốc Dầu Giây – Phan Thiết, phải theo quản lý tổng hợp lũ lưu vực sông  ảnh 2

    Theo nhóm nghiên cứu, với cao độ mặt đường hiện hữu tại vị trí km25+419 là +44.47m, thì chỉ cần mưa 25mm trở lên sau 2 giờ rưỡi sẽ ngập

    Nhóm cũng tính toán kiểm tra với giả thiết cao trình mặt đường tại vị trí này lần lượt là +45m, +46m và +47m kết quả cho thấy ở cao trình mặt đường +45m và +46m vẫn xảy ra ngập sâu. Trong khi đó từ cao trình mặt đường +47m trở lên ngập chỉ xảy ra trong thời gian ngắn với cường độ mưa lớn > 100mm liên tục trong vòng 4 giờ rưỡi.

    Ngoài ra, nhóm cũng tính toán với các trường hợp cống thoát nước với khẩu độ khác nhau nhưng với khẩu độ lớn thậm chí 20m x 2,5m vẫn xảy ra ngập trên đoạn cao tốc này.

    Giải pháp xây cầu cạn là phù hợp với quan điểm “thuận thiên”

    Theo TS Trần Đăng An, chuyên gia thủy lực – tiêu thoát nước, ngập úng xảy ra ở đoạn cao tốc này nguyên nhân chính không phải do cống nhỏ so với yêu cầu thoát lũ tự nhiên mà là do cao trình mực nước lớn nhất khi lũ đạt đỉnh cao hơn so với cao trình thoát nước của cống và mặt đường.

    Đáng nói, vị trí km25+419 nằm gần nơi hợp lưu của các nhánh sông, suối đồng thời hướng dòng chảy của của tuyến sông, suối khu vực này có sự thay đổi đột ngột và các chi lưu chảy theo hướng vuông góc với tuyến cao tốc chỉ cách điểm xảy ra ngập chỉ khoảng vài trăm mét.

    Chống ngập đường cao tốc Dầu Giây – Phan Thiết, phải theo quản lý tổng hợp lũ lưu vực sông  ảnh 3

    Sự cố ngập đoạn cao tốc Phan Thiết – Dầu Giây hôm 29-7

    Ngoài ra, tuyến đường cao tốc đóng vai trò như hành lang cản dòng chảy tự nhiên trên bề mặt lưu vực, khi nước lũ dồn về trong thời gian ngắn kết hợp với việc thoát nước không kịp qua cầu sông Phan gây ra hiện tượng dội nước (nước chảy ngược về thượng nguồn) và mực nước dâng lên tại vị trí trũng thấp đoạn đường cao tốc chạy qua gây ra hiện tượng ngập úng cục bộ dọc các điểm thấp trũng.

    Với kết quả tính toán mô phỏng, PGS-TS Triệu Ánh Ngọc cho biết, cao trình mặt đường như hiện trạng thì khả năng ngập úng xảy ra trên tuyến cao tốc, đặc biệt tại các vị trí km25+419 là điều dễ hiểu. Vì các điểm đã xảy ra ngập đều nằm trong địa hình thấp nơi hội tụ dòng chảy hợp lưu về.

    Theo PGS.TS Triệu Ánh Ngọc – Phân hiệu Trường Đại học Thủy lợi, do ảnh hưởng của mưa và dòng chảy trên các sông suối trên toàn lưu vực đổ về vị trí ngập trong thời gian ngắn kết hợp với mực nước sông tương đối lớn, gây ra hiện tượng dồn nước trên sông và đổ về km25+419, gây ngập úng cục bộ. Ngoài ra, vị trí có tuyến cao tốc đi qua rất đặc biệt dễ gây ngập úng khi có mưa từ 100mm trở lên, nếu mặt đường được thiết kế thấp hơn +47m khả năng xảy ra ngập cao. Nguyên nhân chính là đoạn đường cao tốc này đi qua vị trí khe cạn có địa hình thấp trũng nhất so với khu vực xung quanh. Vị trí này lại là điểm thoát nước ra của một lưu vực nhỏ đổ nước về phía các chi lưu của sông Phan cắt ngang đường cao tốc. Trong khi đó vị trí tiếp nhận nước của đoạn cao tốc này là khu vực hợp lưu của 2 nhánh sông chảy dọc với cao tốc theo hướng Nam – Bắc và chuyển hướng đột ngột nên khả năng thoát lũ kém.

    Trên cơ sở kết quả tính toán và mô phỏng, nhóm nghiên cứu đã đề xuất kiểm tra lại khẩu độ và cao trình cống thoát nước qua đường dựa trên kết quả tính toán dòng chảy lũ trên lưu vực để bảo đảm khả năng thoát nước triệt để. Kết hợp xác định lại cao trình vượt lũ của mặt đường phù hợp với yêu cầu thoát nước trên toàn bộ lưu vực.

    Xem xét tính toán và thiết kế tuyến đường dựa vào quan điểm thoát lũ lưu vực thì giải pháp xây dựng cầu cạn tại các vị trí ngập được ghi nhận là phù hợp với quan điểm “thuận thiên”.

    PGS.TS Triệu Ánh Ngọc cũng cho biết, để hạn chế những rủi ro liên quan đến ngập úng trên các tuyến cao tốc như các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa thì cần phải có điều tra, khảo sát, tính toán, kiểm tra lại dòng chảy lũ trên quan điểm quản lý tổng hợp lưu vực trên toàn tuyến nhằm khắc phục các điểm đã và đang xảy ra ngập.

    Cần có sự phối hợp chặt chẽ và tham vấn chuyên môn sâu (thủy văn, thủy lực và quản lý tổng hợp lũ trên lưu vực) trong quá trình quy hoạch, thiết kế và thi công quản lý vận hành các tuyến cao tốc.

    Theo Báo Sài Gòn Giải phóng

  • Thông báo kêu gọi đề xuất đề tài/dự án khoa học và công nghệ theo Nghị định thư giai đoạn 2024 – 2026 (Chương trình hợp tác khoa học và công nghệ Việt Nam – Italy)

    Thông báo kêu gọi đề xuất đề tài/dự án khoa học và công nghệ theo Nghị định thư giai đoạn 2024 – 2026 (Chương trình hợp tác khoa học và công nghệ Việt Nam – Italy)

    CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM-ITALY

    Thông báo kêu gọi đề xuất đề tài/dự án

    khoa học và công nghệ theo Nghị định thư giai đoạn 2024 – 2026

    Thời gian đóng thông báo: 17h00 ngày 11/9/2023

    GIỚI THIỆU

    Trong khuôn khổ Hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Italy, ký tại Hà Nội ngày 10.5.1992 và có hiệu lực từ 10.5.1998, Tổng Vụ Xúc tiến hợp tác (kinh tế, văn hóa và khoa học)- Phòng IX thuộc Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Italy và Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam (dưới đây được gọi là các Bên) khởi động Chương trình hợp tác khoa học và công nghệ giai đoạn 2024-2026.

    1. YÊU CẦU CHUNG

    1.1 KẾ HOẠCH TÀI TRỢ

    Trong khuôn khổ Chương trình hợp tác này, các đề tài/dự án hợp tác nghiên cứu chung sẽ được hai Bên cùng xem xét tài trợ với mục đích khuyến khích sự hợp tác song phương giữa các nhóm nghiên cứu của hai nước.

    Kinh phí được tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu như sau: Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam (MOST) sẽ cấp kinh phí cho các nhóm nghiên cứu của Việt Nam và Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Italy (MAECI) sẽ cấp kinh phí cho các nhóm nghiên cứu của Italy.

    1.2 YÊU CẦU

    Đề xuất dự án:

    – Phải có cùng thời hạn khi Chương trình đang diễn ra: 3 năm;

    – Mỗi Chủ nhiệm đề tài (PI) chỉ được gửi một đề xuất đề tài/dự án.

    Quy định phía Italy:

    – Các tổ chức nghiên cứu công lập và ngoài công lập (phi lợi nhuận);

    – Chủ nhiệm nhiệm vụ phải mang quốc tịch Italia hoặc Châu Âu, cư trú hợp pháp tại Italy và phải tham gia một tổ chức công lập và ngoài công lập (phi lợi nhuận) với vị trí cố định hoặc tạm thời phải có thời hạn hoạt động ít nhất đến khi hoàn thành năm đầu tiên của đề xuất đề tài/dự án hợp tác nghiên cứu chung (ngày kết thúc hợp đồng phải có trong CV).

    Quy định phía Việt Nam:

    – Các tổ chức khoa học và công nghệ, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ, cơ quan nhà nước và tổ chức, cá nhân có đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ được quy định bởi pháp luật Việt Nam.

    – Các đề tài/dự án phải tuân thủ các chính sách tài trợ của Việt Nam.

    1.3 CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐẠT YÊU CẦU

    – Thiếu bất kỳ yêu cầu nào được liệt kê ở trên;

    – Hồ sơ nộp không đầy đủ như yêu cầu tại Mục 3 của Thông báo này;

    – Các đề xuất đề tài/dự án hợp tác nghiên cứu chung không thuộc lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam và Italy được nêu tại Mục 2 của Thông báo này.

    2. LĨNH VỰC ƯU TIÊN

    Các đề tài/dự án hợp tác phải thuộc một trong các lĩnh vực sau:

    – Khoa học Nông nghiệp và Thực phẩm (Agriculture and Food Science); 

    Giới hạn trong: chế biến và bảo quản thực phẩm; cơ giới hóa nông nghiệp (limited to food processing and preservation; agriculture  mechanization)

    – Biến đổi khí hậu và phát triển bền vững (Climate Change and Sustainability) e.g. Energy, Mobility, Nature Based Solutions, Water management);

    Giới hạn trong: năng lượng; tính cơ động; giải pháp dựa vào thiên nhiên; quản lý môi trường. (limited to energy; mobility; nature based solutions; environmental management)

    – Xã hội thông tin (Information Society);

    Giới hạn trong: Trí tuệ nhân tạo (AI); Internet vạn vật (IoT); Công nghệ truyền thông – thông tin (ICT); Thành phố thông minh (Smart Cities); Dữ liệu lớn (Big Data)

    – Khoa học vũ trụ và quan sát trái đất (Space Science and Earth Observation);

    Giới hạn trong: viễn thám; giám sát thiên tai; công nghệ vũ trụ tiên tiến.( limited to remote sensing; monitoring of natural hazards; advanced space technologies).

    – Công nghệ Bảo tồn và phục chế các di sản văn hóa và thiên nhiên (Technologies Conservation and restoration of  Natural and Cultural Heritage);

    *  Đề tài/dự án không thuộc lĩnh vực ưu tiên nêu trên sẽ không được xem xét.

    * Một số lĩnh vực nghiên cứu được liệt kê ở trên có thể không được tài trợ, tùy thuộc vào chất lượng khoa học của các đề xuất đề tài/dự án.

    3. QUY TRÌNH NỘP ĐỀ XUẤT ĐỀ TÀI/DỰ ÁN

    Các đề xuất đề tài/dự án nghiên cứu chung phải được các Chủ nhiệm của Việt Nam và Italy nộp riêng cho các Bên tương ứng, tuân theo các thủ tục nộp hồ sơ cụ thể của quốc gia đó được liệt kê dưới đây. Các hồ sơ chỉ nộp ở một trong hai Bên sẽ không được chấp nhận và xem xét để đánh giá.

    Về phía Italy:       

    – Chủ nhiệm đề tài/dự án phía Italy cần nộp đề xuất trực tuyến bằng cách điền vào các biểu mẫu quy đinh tại liên kết sau: http://web.esteri.it/pgr/

    – Thuyết minh phải được viết bằng tiếng Anh hoặc tiếng Italy. Các ngôn ngữ khác sẽ không được chấp nhận.

    – Đối với bất kỳ câu hỏi nào liên quan đến Thông báo kêu gọi này, vui lòng liên hệ với địa chỉ email sau: [email protected].

    – Đối với các dự án liên quan đến thí nghiệm trên động vật phải được sự phê duyệt của Ủy ban đạo đức có thẩm quyền. Phải nộp các minh chứng được sự chấp thuận của OPBA (Organismo Preposto al Benessere degli Animali) cho các thử nghiệm này. Xin lưu ý rằng bắt buộc phải có sự cho phép chính thức của Bộ Y tế có thẩm quyền để bắt đầu các hoạt động (D.Lgs 26_04/03/2014 và Chỉ thị 2010/63 EU). Các dự án liên quan đến thí nghiệm với con người phải được thực hiện theo Chỉ thị 536/2014/EC. Chủ nhiệm người Italy phải tự cam kết tuân thủ các quy tắc trong phần Phương pháp trong đề xuất đề tài/dự án.

    – Hồ sơ đăng ký của các dự án nghiên cứu chung phải được kèm theo thư xác nhận có chữ ký của người đại diện hợp pháp của tổ chức đăng ký hoặc người đại diện được ủy quyền hợp lệ theo quy định. Thư xác nhận này phải được viết bằng tiếng Ý, có thể tải xuống mẫu có sẵn tại đường link kèm theo Thông báo kêu gọi này. Thư xác nhận cũng phải nêu rõ về việc đồng ý tuân thủ tất cả các điều khoản trong Thông báo kêu gọi này, bao gồm cả khoản đồng tài trợ của tổ chức cũng phải được liệt kê trong phần ngân sách tạm thời của đề xuất. Ngoài ra nếu Chủ nhiệm giữ vị trí tạm thời, thư xác nhận cũng phải nêu rõ Tổ chức chủ trì sẽ thay thế Chủ nhiệm bằng một thành viên khác của nhóm nghiên cứu nếu hợp đồng với Chủ nhiệm bị chấm dứt trước khi dự án kết thúc. Từ đó đảm bảo rằng các hoạt động nghiên cứu được được thực hiện mà không có bất kỳ sự gián đoạn nào. Thư xác nhận phải được tải lên trang web có sẵn tại liên kết: http://web.esteri.it/pgr/.

    Về phía Việt Nam:

    – Đề cương đề xuất đề tài/dự án khoa học và công nghệ theo Nghị định thư viết bằng tiếng Việt (Theo mẫu tại Thông tư số 10/2019/TT-BKHCN ngày 29/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ) có đủ chữ ký và dấu của các bên liên quan;

    – Thuyết minh bao gồm: Mô tả mục tiêu, nội dung nghiên cứu chính, kết hoạch hợp tác, dự kiến nguồn nhân lực thực hiện, phân công nhiệm vụ giữa các đối tác Italy và Việt Nam, kết quả dự kiến và dự trù kinh phí, nguyên tắc cơ bản của việc cùng thương mại hóa kết quả nghiên cứu và chia sẻ lợi ích.

    – Hồ sơ phải được nộp cùng với các văn bản hành chính khác theo quy định của Việt Nam.

    – Thông tin về việc nộp đề xuất sẽ được đăng trên trang thông tin điện tử của Bộ Khoa học và Công nghệ: www.most.gov.vn.

    – Hồ sơ đề xuất đề tài/dự án khoa học và công nghệ theo Nghị định thư hợp tác với Italy phải được nộp đồng thời trực tuyến và trực tiếp:

    * Nộp trực tuyến: Bản scan của hồ sơ được gửi đến địa chỉ: http://stm.most.gov.vn.   

    * Nộp trực tiếp: bản gốc được gửi trực tiếp hoặc thông qua đường bưu điện về Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, 113 Trần Duy Hưng, Hà Nội.

    Hồ sơ được gửi trong phòng bì dán kín, bìa ngoài có ghi:

    “Hồ sơ đăng ký thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo Nghị định thư, Chương trình hợp tác KH&CN lần thứ 8 Việt Nam-Italy”

    Đầu mối liên hệ:

    Ông Đinh Quý Cương

    Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ KH&CN

    113 Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội

    Tel: +(84-24) 39435376

    Fax: +(84-24) 39439987

    E-Mail: [email protected]

    4. ĐÁNH GIÁ VÀ LỰA CHỌN ĐỀ TÀI/DỰ ÁN Ở CẤP ĐỘ QUỐC GIA VÀ SONG PHƯƠNG

    4.1 QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ

    Sau khi kết thúc thời gian kêu gọi, tất cả các đề xuất nhận được sẽ được kiểm tra về tính hợp lệ. Quá trình đánh giá sẽ được thực hiện ở cấp quốc gia để xác định danh sách rút gọn các đề xuất xếp hạng hàng đầu. Sau đó, ở cấp độ song phương, hai Bên sẽ đạt được sự đồng thuận về danh sách cuối cùng của các dự án đủ điều kiện tài trợ trong cuộc họp của Ủy ban Hỗn hợp, như được được nêu tại Điều 4 của Hiệp định, hai Bên sẽ thống nhất danh sách các đề tài/dự án được lựa chọn để hai Bên đồng tài trợ. Danh sách này sẽ được đưa vào nội dung của Chương trình hợp tác và sẽ được hai Bên cùng cấp kinh phí từ ngân sách hàng năm của hai nước.

    Các đề xuất sẽ được đánh giá theo các tiêu chí sau:

    – Nội dung khoa học của đề tài/dự án nghiên cứu;

    – Năng lực của nhóm nghiên cứu;

    – Phương pháp luận và tư liệu tổng quan;

    – Giá trị gia tăng đối với sự phát triển kinh tế xã hội và đối với sự hợp tác song phương;                                    

    – Đáp ứng đầy đủ về tài chính.

    Về phía Việt Nam

    Quy trình đánh giá đề tài/dự án nghiên cứu chung sẽ được thực hiện theo quy định tại Thông tư 10/2019/TT-BKHCN ngày 29/10/2019 Quy định quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Nghị định thư.

    Các đề xuất dự án hợp lệ sẽ được đánh giá bởi các Hội đồng khoa học do Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập. Chủ nhiệm nhiệm vụ phải nộp đầy đủ hồ sơ chi tiết cho Bộ Khoa học và Công nghệ, bao gồm các tài liệu chính sau:

    • Thuyết minh chi tiết nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Nghị định thư;

    –   Thỏa thuận hợp tác giữa các đơn vị tham gia đề tài/dự án nghiên cứu phía Việt Nam, có đủ chữ ký của tất cả các đối tác tham gia và cơ quan chủ trì;

    –   Thỏa thuận hợp tác giữa các đối tác Italy và Việt Nam (bằng tiếng Anh kèm theo bản dịch ra tiếng Việt)

           Các yêu cầu tối thiểu cho Thỏa thuận hợp tác với các đối tác Italy như sau:

    – Tên đề tài/dự án;

    – Tên của tất cả các đối tác tham gia;

    – Mô tả mục tiêu, nội dung nghiên cứu chính, kết hoạch hợp tác, dự kiến nguồn nhân lực thực hiện, phân công nhiệm vụ giữa các đối tác Italy và Việt Nam, kết quả dự kiến và dự trù kinh phí, nguyên tắc cơ bản của việc cùng thương mại hóa kết quả nghiên cứu và chia sẻ lợi ích.

    YÊU CẦU SẢN PHẨM

    Đề tài/dự án cần đáp đầy đủ các tiêu chí của nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia theo các quy định hiện hành của Bộ Khoa học và Công nghệ, cũng như đáp ứng các điều kiện theo thông tư số 10/2019/TT-BKHCN ngày 29/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ theo quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo nghị định thư. Nhiệm vụ Nghị định thư cần có tính đột phá về công nghệ.

    Các sản phẩm của đề tài phải là sản phẩm đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và thế giới. Các sản phẩm của nhiệm vụ cần đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia với các sản phẩm dạng I, dạng II và dạng III:

                * Sản phẩm dạng I phải là những sản phẩm tiên tiến, có chỉ tiêu kỹ thuật rõ ràng.

                * Sản phẩm dạng II ưu tiên những quy trình công nghệ tiên tiến.

                * Sản phẩm dạng III gồm ít nhất 01 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục ISI/Scopus, 2 bài báo trên các tạp chí khoa học có uy tín trong nước và được tính điểm hội đồng giáo sư ngành, liên ngành do quỹ Nafosted ban hành.

                * Sản phẩm dạng IV Đào tạo được ít nhất 01 thạc sĩ hoặc góp phần đào tạo tiến sĩ (theo hướng luận văn tốt nghiệp thực hiện theo các nội dung của hợp tác nghị định thư).

    – Ngoài ra còn một số tài liệu hành chính khác được quy định tại Thông tư 10/2019/TT-BKHCN ngày 29/10/2019.

    Mọi thông tin chi tiết về hồ sơ sẽ được đăng tải trên trang web của Bộ Khoa học và Công nghệ: www.most.gov.vn.   

    4.2 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ

    Về phía Italy:

    Danh mục các đề tài/dự án được lựa chọn và quy trình cấp kinh phí sẽ được đăng tải trên trang web của Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Italy theo địa chỉ sau:

    https://www.esteri.it/it/diplomazia-culturale-e-diplomazia scientifica/cooperscientificatecnologica/programmiesecutivi/accordi_programmi_culturali_tecnologici/ . Các chủ nhiệm đề tài/dự án được lựa chọn sẽ được thông báo trực tiếp.

    Về phía Việt Nam:

    Danh mục các đề tài/dự án được lựa chọn sẽ được Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ thông báo bằng văn bản cho các tổ chức chủ trì, chủ nhiệm nhiệm vụ Nghị định thư được tuyển chọn và các nhiệm vụ không được tuyển chọn.

    5. CẤP KINH PHÍ CHO CÁC ĐỀ TÀI/DỰ ÁN ĐƯỢC LỰA CHỌN

    Về phía Italy:

    Các đề tài/dự án được lựa chọn sẽ được hai Bên cùng cấp kinh phí trong khả năng tài chính hàng năm của mình.

    Các dự án được chọn và liệt kê trong danh mục sẽ được cấp kinh phí hàng năm. Theo Luật Italy số 401/90, bắt đầu mỗi năm thông báo sẽ được đưa ra bởi Tổng cục Xúc tiến hợp tác (kinh tế, văn hóa và khoa học), Phòng IX của Bộ Ngoại giao và Hợp tác Quốc tế Italy, mời các Chủ nhiệm đề tài/dự án của Italy trong danh mục Chương trình hợp tác nộp đề xuất kinh phí hàng năm.

    Tổ chức chủ trì lập dự toán tất cả các chi phí của dự án và sẽ được hoàn trả hàng năm, sau khi nộp các chứng từ tài chính và có đánh giá tích cực về báo cáo khoa học tương ứng.

    Kinh phí hỗ trợ của Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Italy cấp cho các đề tài/dự án được chọn vào khoảng 50% tổng chi phí của mỗi đề tài/dự án. Do đó, Tổ chức chủ trì phải cam kết tài trợ khoảng một nửa tổng chi phí của đề tài/dự án. Kinh phí tài trợ có thể chi phí này có thể được dùng trả lương cho thành viên có liên quan và các chi phí liên quan khác. Bất kỳ khoản đóng góp tài chính nào khác từ các tổ chức công hoặc tư nhân của Italy hoặc Thụy Điển sẽ được đánh giá tích cực.

    Khoản tài trợ của Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Italy cho mỗi dự án là khoảng 40.000 Euro/năm, chưa tính khoản 50% đóng góp của các tổ chức chủ trì.

    Về phía Việt Nam:

    Sau khi nhận được thông báo, chủ nhiệm đề tài/dự án được lựa chọn trong Chương trình hợp tác hoàn thiện hồ sơ và gửi về Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ để thẩm định kinh phí theo quy định tại Thông tư 10/2019/TT-BKHCN ngày 29/10/2019 Quy định quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Nghị định thư.

    6. THÔNG TIN LIÊN HỆ

    Để biết thêm thông tin về cuộc gọi hiện tại, ứng viên có thể tham khảo các liên hệ sau:

    Tại Italy:

    Văn phòng IX – Tổng cục Xúc tiến và Đổi mới Văn hóa, Kinh tế

    Bộ Ngoại giao và Hợp tác Quốc tế (MAECI)

    E-mail: [email protected]

    Tại Việt Nam:

                   Vụ Hợp tác quốc tế

                   Bộ Khoa học và Công nghệ

                   113 Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội.

    Đầu mối liên hệ:

    Ông Đinh Quý Cương

    Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ

    113 Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

    Tel: +(84-24) 39435376

    Fax: +(84-24) 39439987

    E-Mail: [email protected];

    Nguồn: Thông báo kêu gọi đề xuất đề tài/dự án khoa học và công nghệ theo Nghị định thư giai đoạn 2024 – 2026 (Chương trình hợp tác khoa học và công nghệ Việt Nam – Italy) (most.gov.vn)

  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn

    Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn

    Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan phát biểu tại Hội nghị.

    Ông Lê Minh Hoan, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho biết: “Nghị quyết của Đảng đưa ra 3 đột phá, gồm đột phá về thể chế, đột phá về hạ tầng và đột phá về nhân lực. Hôm nay, chúng ta nói về nhân lực, đặc biệt nhân lực do ngành nông nghiệp để phục vụ cho chiến lực phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững”.

    Theo Bộ trưởng Lê Minh Hoan, trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0, ba công nghệ nền tảng chủ đạo: tự động hóa, internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo đã và đang tạo ra nhiều thách thức cho nguồn nhân lực, không chỉ ở Việt Nam mà cả thế giới. Điều này đòi hỏi trình độ nguồn nhân lực phải bắt kịp với xu thế phát triển của ngành công nghệ để đáp ứng sự thay đổi mạnh mẽ về phân bố nguồn lực sản xuất, cách thức sản xuất, quản lý và tiêu dùng. Thực tế, nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, phát triển nông nghiệp 4.0 đã và đang tác động toàn diện đến mọi mắt xích trong chuỗi sản xuất, cung ứng nông sản, thực phẩm nói chung. Một số tác động hiện hữu có thể kể đến: ứng dụng công nghệ tự động hóa, Big data, AI trong trồng trọt và chăn nuôi; ứng dụng AI, Blockchain trong truy xuất nguồn gốc, dự báo nhu cầu, lập kế hoạch sản xuất và phân phối.

    Tại hội nghị, GS.TS Trịnh Minh Thụ – Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi đã trình bày tham luận hợp tác với doanh nghiệp và đối tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học. Giáo sư đã giới thiệu những nét chính về Nhà trường; đồng thời khẳng định việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho nông nghiệp, nông thôn cần thiết có sự đồng hành, bắt tay gắn kết giữa cơ sở giáo dục và các doanh nghiệp.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ – Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi đã trình bày tham luận hợp tác với doanh nghiệp và đối tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học

    Trường Đại học Thủy lợi ký hợp tác đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp với các doanh nghiệp

    Nhiều ý kiến cho rằng, chất lượng lao động còn rất thấp, yếu kém, bất hợp lý về cơ cấu ngành nghề. Biểu hiện của tình trạng đó chính là một bộ phận không nhỏ sinh viên ra trường không tìm được việc làm trong khi các doanh nghiệp, các khu công nghiệp lại thiếu trầm trọng lao động đã qua đào tạo theo đúng nhu cầu, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghệ cao… Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước châu Á; chỉ số cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam đạt 3,39/10 điểm và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế xếp thứ 73/133 quốc gia được xếp hạng.

    Ông Ngô Xuân Liễu, Giám đốc Trung tâm quốc gia về dịch vụ việc làm, Cục Việc làm, Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội nhận định: “Phát triển kinh tế luôn đồng hành cùng sự phát triển thị trường lao động. Tuy vậy, những con số về thị trường lao động năm 2022 đặt ra nhiều thách thức trong kỳ vọng phát triển kinh tế xã hội năm 2023. Cụ thể, năm 2022 lượng lao động đạt 51,6 triệu người. Đáng chú ý, trong đó chỉ có 26,1% tỷ lệ lao động đã qua đào tạo, với 5% lao động có thể dùng tiếng Anh giao tiếp để làm việc. Còn lại, hơn 70% lao động không có trình độ lao động chuyên môn. Con số này cho thấy, đã đến lúc chúng ta cần phải tiến hành đánh giá toàn diện về thị trường lao động”.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội nghị

    Theo thống kê Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giai đoạn 2005 – 2020, giá trị sản xuất nông nghiệp vùng Đông Nam bộ tiếp tục phát triển tốc độ khá, tăng bình quân 4,63%/năm. Đông Nam bộ đứng đầu cả nước về sản lượng cao su, điều, lợn… tỷ lệ che phủ rừng của vùng 19,42%. Đến hết năm 2021, vùng Đông Nam bộ đã có 368/425 xã (86,59%) đạt chuẩn nông thôn mới (tăng 44,21% so với năm 2015), là vùng có tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đứng thứ 2 trong cả nước, cao hơn nhiều so với tỷ lệ chung của cả nước.

    Đối với ĐBSCL, đây là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước, hàng năm sản xuất trên 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản, 70% các loại trái cây, 95% sản lượng gạo xuất khẩu. Vùng đất này được ca ngợi là “vựa lúa”, “vựa trái cây” và “vựa tôm – cá” của Việt Nam, với đóng góp trung bình 33,54% GDP nông nghiệp cả nước và 30% GDP chung của vùng. Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP nông nghiệp ĐBSCL giai đoạn 2004 – 2020 đạt 4,6% cao hơn tốc độ tăng trưởng của cả nước (3,76%).

    Trong thời gian qua, công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong vùng đã đạt được những kết quả quan trọng. Nếu như năm 2011, vùng ĐBSCL chỉ có 13 cơ sở giáo dục đại học thì đến năm 2020 đã tăng lên 21 cơ sở giáo dục đại học, với quy mô đào tạo gần 150.000 sinh viên. Đối với vùng Đông Nam bộ, quy mô đào tạo 516.797 sinh viên, với tỷ lệ 30,2% – đứng thứ hai của cả nước.

    Trong số các trường đại học đóng trên địa bàn hai vùng, có nhiều trường đào tạo về nông, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi, bao gồm: Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Văn Hiến, Trường Đại học An Giang, Trường Đại học Kiên Giang, Trường Đại học Đồng Tháp, Phân hiệu Đại học Lâm nghiệp, Phân hiệu Đại học Thủy Lợi… với các chuyên ngành: bảo vệ thực vật, chăn nuôi, lâm học, lâm nghiệp đô thị, nông học, nuôi trồng thủy sản, công nghệ chế biến thuỷ sản, bệnh học thuỷ sản, quản lý tài nguyên rừng, công nghệ chế biến lâm sản, thú y, sư phạm kỹ thuật nông nghiệp, công nghệ sinh học nông nghiệp…

    Cùng với hệ thống các trường đại học, hiện nay cũng có nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang tham gia đào tạo nhân lực phục vụ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trong vùng, như các trường trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các trường cao đẳng, trường trung cấp, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên thuộc các tỉnh, thành phố.

    Trong giai đoạn 2016 – 2022, 4/28 trường cao đẳng thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đào tạo lao động cho các tỉnh Nam bộ với các trình độ: cao đẳng gần 15.000 người, trung cấp trên 41.000 người; sơ cấp và dạy nghề thường xuyên gần 53.000 người. Ngoài ra, thực hiện chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, các tỉnh trong vùng đã đào tạo ở các cấp với số lượng là 3.092 người trình độ cao đẳng; 11.702 người trình độ trung cấp, 138.149 người trình độ sơ cấp và 390.136 người đào tạo dưới 3 tháng. Đào tạo nghề dưới 3 tháng vùng Đông Nam bộ là 57.807 người (bằng 7,17% cả nước); vùng ĐBSCL là 332.328 người (bằng 41,23% cả nước).

    ​

    Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trao hoa chúc mừng các đơn vị ký kết hợp tác đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp tại Hội nghị. 

    Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như: tăng cường công tác truyền thông để nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân về công tác đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp; sắp xếp, kiện toàn hệ thống các trường, đổi mới nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành; triển khai thực hiện cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng và phối hợp thực hiện các chương trình dự án có liên quan của Bộ; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhà nước và xã hội phục vụ việc đào tạo nhân lực chất lượng cao và xây dựng Đề án thu hút nhân lực chất lượng cao làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhà nước và xã hội phục vụ việc đào tạo nhân lực chất lượng cao.

    Ngoài ra, Bộ cũng định hướng học nghề nông nghiệp và bổ trợ kiến thức nông nghiệp, trong đó triển khai học kỳ nông nghiệp cho các trường thuộc Bộ để trang bị kiến thức cơ bản về nông nghiệp, tình yêu đối với ngành nông nghiệp cho các ngành phục vụ nông nghiệp và các ngành phi nông nghiệp; đồng thời nghiên cứu và mở rộng mô hình thí điểm đào tạo nhân lực nông nghiệp trình độ trung cấp trong các trường cao đẳng của Bộ theo mô hình Nhật Bản dành cho học sinh hết phổ thông cơ sở, bảo đảm học sinh tốt nghiệp có kiến thức về văn hóa, kỹ năng nghề, ngoại ngữ và tác phong công nghiệp, có đủ năng lực làm việc ở các doanh nghiệp nông nghiệp trong nước, đi làm việc ở nước ngoài hoặc tiếp tục học lên bậc học cao hơn.

    Theo Báo Tin tức

  • Bằng độc quyền sáng chế số 36731 về Thiết bị tách nước hai cấp cho bùn nạo vét

    Bằng độc quyền sáng chế số 36731 về Thiết bị tách nước hai cấp cho bùn nạo vét

    ​

    Sáng chế đề cập một giải pháp kỹ thuật phục vụ công tác xử lý bùn nạo vét cho cảng nói riêng cũng như nạo vét bùn ở hồ/sông/biển nói chung.

    Thiết bị tách nước hai cấp cho bùn nạo vét

    Độ sâu luồng vào và độ sâu trước bến có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh khai thác cảng, đặc biệt là với cảng nước sâu ở Việt Nam. Hơn nữa, hàng năm ở khu vực này thường có hiện tượng bị bồi lấp với khối lượng ước tính lên tới triệu mét khối bùn. Nếu không được nạo vét kịp thời, các cảng có thể mất cơ hội đón tàu trọng tải lớn, ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế. Mặt khác, việc xử lý bùn nạo vét là vấn đề hết sức cấp thiết, hiện nay vẫn chủ yếu đề xuất nhấn chìm xuống biển nhưng sẽ gây tác động lớn đến môi trường sinh thái nếu không được nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt đối với bùn nạo vét bị ô nhiễm thì xử lý nước lẫn trong bùn càng cấp thiết hơn vì nó gây tác động trực tiếp đến môi trường sinh thái xung quanh.Việc giảm tỷ lệ nước trong hỗn hợp bùn nạo vét sẽ giúp cho việc vận chuyển hỗn hợp sau tách nước thuận tiện hơn. Bùn nạo vét sau khi tách nước có thể tái sử dụng để san lấp, có thể được xử lý để làm vật liệu tái chế. Sáng chế đề cập đến thiết bị tách nước hai cấp dùng cho bùn nạo vét bao gồm: tang tách nước sơ cấp kiểu trọng lực, sàng rung tách nước thứ cấp và khung đỡ, sàng rung tách nước nằm trong tang tách nước, cả tang tách nước và sàng rung tách nước đều được đỡ bởi khung đỡ. Thiết bị tách nước hai cấp dùng cho bùn nạo vét theo sáng chế có thể lắp đặt trên bờ hoặc đặt trên một thiết bị nạo vét bùn dạng nổi để nạo vét bùn ở hồ/sông/biển.

    Công tác nạo vét bùn cát ở các cảng biển

    Nhóm nghiên cứu

  • Nghiên cứu đánh giá rủi ro xâm nhập mặn khu vực ven biển Thái Bình – Nam Định ứng với các kịch bản mực nước triều và nước biển dâng

    Nghiên cứu đánh giá rủi ro xâm nhập mặn khu vực ven biển Thái Bình – Nam Định ứng với các kịch bản mực nước triều và nước biển dâng

    Lễ bảo vệ luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Văn Đào diễn ra tại Room 5-K1

    Xâm nhập mặn là quá trình phức tạp diễn ra ở các vùng đồng bằng và cửa sông ven biển. XNM có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và đời sống xã hội.

    Trong những năm gần đây, theo số liệu thống kê tình hình thiệt hại do XNM càng trở lên nghiêm trọng hơn. Ở Việt Nam nói chung và đồng bằng lưu vực sông Hồng – Thái Bình nói riêng, hiện nay cũng có nhiều nghiên cứu xây dựng bản đồ xác định ranh giới XNM dựa trên việc nội suy tuyến tính độ mặn dọc trên sông chính. Điều đó cho thấy những hạn chế nhất định và mang tính chủ quan khi chưa xét tới việc mặn xâm nhập vào nội đồng. Cùng với đó, các nghiên cứu thường chỉ tập trung vào việc xây dựng các kịch bản, dự báo khả năng và diễn biến XNM mà chưa phân tích đánh giá cũng như dự báo những thiệt hại tiềm tàng dựa trên cơ sở phân tích rủi ro và tính dễ bị tổn thương với các tiêu chí cụ thể. Chính vì vậy, đối với XNM các nhà quản lý cũng còn khá lúng túng khi đưa ra các giải pháp ứng phó phù hợp nhất là trong bối cảnh Biến đổi khí hậu.

    Việc nghiên cứu tiếp cận một hướng mới trong việc xây dựng bản đồ hiểm họa XNM, thể hiện sự phân bố hiểm họa do mặn gây ra theo các khu vực (nội đồng) là cần thiết qua đó có thể nhận định về ranh giới ảnh hưởng của XNM phù hợp hơn. Bên cạnh đó, để đánh giá những tác động do XNM đến các hoạt động phát triển KT-XH thì việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá TDBTT do XNM là rất cần thiết và đó là cơ sở khoa học để đánh giá rủi ro do XNM. Trên cơ sở đó làm rõ được những điểm mạnh, điểm yếu, dự báo những thiệt hại tiềm tàng mà XNM có thể gây ra nhằm hỗ trợ cho các công tác chuẩn bị ứng phó, quản lý và phục hồi được chính xác và khả quan hơn cho các vùng bị ảnh hưởng.

    Các đại biểu tham dự lễ bảo vệ Luận án tiến sĩ cấp Trường của Nghiên cứu sinh

    Luận án có nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn, cụ thể:

    Ý nghĩa khoa học: luận án đã đề xuất phương pháp xây dựng bản đồ hiểm họa XNM trên cơ sở xem xét các trường hợp rủi ro XNM; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tính dễ bị tổn thương và đánh giá rủi ro do XNM theo không gian đến cấp xã cho khu vực ven biển.

    Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị trong công tác phòng chống XNM, từ đó đề xuất và ra quyết định các giải pháp giảm thiểu tác động của XNM, đảm bảo sự phát triển ổn định cho khu vực.

    GS.TS Nguyễn Trung Việt – Phó Hiệu trưởng phát biểu

    Những đóng góp mới: 
    (1) Luận án đã góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học và thực tiễn phương pháp xây dựng bản đồ XNM đến cấp độ xã, có xét đến khả năng lấy nước của hệ thống cống tưới, tiêu kết hợp trên sông chính và phạm vi diện tích cấp nước của cống.

    (2) Luận án đã thiết lập được 1 bộ tiêu chí và các trọng số đánh giá tính dễ bị tổn thương do XNM với 26 biến, có xét tới trọng số của các biến. Từ đó đánh giá TDBTT và RR do XNM trên địa phận các xã vùng ven biển trong phạm vi tỉnh Nam Định và Thái Bình, hạ lưu lưu vực sông Hồng – Thái Bình, chỉ rõ mức độ HH và RR do XNM cho các xã. Đây là cơ sở để các bên liên quan có kế hoạch, giải pháp phù hợp để ứng phó, khắc phục giảm thiểu những tác động của XNM đối với địa phương.

    GS.TS Nguyễn Trung Việt – Phó Hiệu trưởng chúc mừng NCS bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Trường

    Đồng nghiệp chúc mừng NCS bảo vệ thành công Luận án tiến sĩ

    Thông tin luận án tiến sĩ của NCS: TẠI ĐÂY

    MT