Chương trình Học bổng Nghiên cứu sinh Fulbright là chương trình không cấp bằng do Quốc hội Hoa Kỳ tài trợ, hỗ trợ tối đa 5 suất học bổng toàn phần mỗi năm cho các nghiên cứu sinh đang theo học chương trình tiến sĩ ngành Khoa học và Công nghệ tại một trường đại học ở Việt Nam. Chương trình cho phép nghiên cứu sinh sang Hoa Kỳ nghiên cứu từ 6 đến 10 tháng tại một trường đại học trong năm học 2026-2027.
Buổi lễ thu hút sự tham gia của hơn 400 đoàn viên, sinh viên từ các Liên Chi đoàn và CLB trong trường. Đại diện Thành đoàn Hà Nội đ/c Vũ Thị Minh Hằng– UV. BCH, Trưởng ban Thanh niên Trường học Thành đoàn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Sinh viên Việt Nam TP. Hà Nội, cùng GS.TS Nguyễn Trung Việt, Phó Hiệu trưởng Nhà trường cũng có mặt để động viên và phát động chương trình.
Phát biểu tại buổi lễ, GS.TS Nguyễn Trung Việt, Phó Hiệu trưởng Nhà trường nhấn mạnh ý nghĩa của Tháng Thanh niên, khẳng định vai trò của sinh viên trong các hoạt động tình nguyện, sáng tạo và nghiên cứu khoa học. Giáo sư bày tỏ niềm vui khi thấy kế hoạch hoạt động phong phú, đa dạng mà Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên Nhà trường triển khai, đồng thời khuyến khích sinh viên tận dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), để học tập và phát triển bản thân.
Nhân dịp này, thầy Phó Hiệu trưởng cũng cập nhật thông tin về việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Môi trường – một thay đổi quan trọng trong bộ máy nhà nước, có tác động trực tiếp đến lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu của Trường Đại học Thủy lợi.
Trong khuôn khổ Tháng Thanh niên, Đoàn Trường Đại học Thủy lợi triển khai nhiều hoạt động hấp dẫn và ý nghĩa:
– Phong trào thi đua: “Mỗi ngày một tin tốt – Mỗi tuần một câu chuyện đẹp”, tôn vinh đoàn viên ưu tú, thanh niên tiêu biểu. – Hoạt động văn hóa – thể thao: Tham quan Tòa nhà Quốc hội, Giải bóng đá tân sinh viên K66, Giải bóng đá nữ, Nhạc hội SS66. – Phong trào học tập – nghiên cứu khoa học: Thi đua “Học tập tốt – Rèn luyện tốt”, tham gia nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng đoàn viên ưu tú kết nạp Đảng. – Hoạt động vì môi trường: Chương trình “Xanh – Sạch – Đẹp” trong khuôn viên trường và trên địa bàn thành phố. – Sân chơi bổ ích: Cuộc thi nhảy Flashmob, cuộc thi Mr & Miss TLU 2025.
Đại diện Thành đoàn Hà Nội, đ/c Vũ Thị Minh Hằng – Ủy viên Ban chấp hành, Trưởng ban Thanh niên Trường học Thành đoàn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Sinh viên Việt Nam TP. Hà Nội đánh giá cao kế hoạch Tháng Thanh niên của Đoàn Trường, nhận xét đây là chương trình toàn diện, bám sát chỉ đạo của Thành đoàn, đặc biệt chú trọng các đội hình xung kích, công trình thanh niên và phần việc trọng tâm kết hợp với các hoạt động của Nhà trường.
Bên cạnh đó, đồng chí cũng gửi lời cảm ơn tới Đảng ủy, Ban Giám hiệu và các thầy cô đã luôn đồng hành, hỗ trợ công tác Đoàn – Hội. Với niềm tin vào truyền thống năng động, sáng tạo của sinh viên Thủy lợi, đồng chí kỳ vọng các hoạt động trong 30 ngày của Tháng Thanh niên sẽ thành công rực rỡ.
Lễ phát động kết thúc với khí thế hào hứng khi toàn thể đoàn viên cùng hô vang khẩu hiệu hành động và ra quân dọn vệ sinh khuôn viên trường trong Ngày Chủ nhật Xanh. Đây không chỉ là hoạt động mở màn mà còn thể hiện tinh thần trách nhiệm của tuổi trẻ với môi trường sống.
Tháng Thanh niên 2025 đã chính thức bắt đầu, hứa hẹn mang đến nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa, góp phần khẳng định sức trẻ của sinh viên Trường Đại học Thủy lợi trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Trường Đại học Thủy lợi ban hành Quyết định số 2872 /QĐ-ĐHTL ngày 5/9/2024 về Công nhận danh sách Giáo viên chủ nhiệm kiêm Cố vấn học tập các lớp năm học 2024-2025.
Sáng 12/9/2024, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm dự Lễ khai giảng năm học 2024-2025 của Học viện Quốc phòng. Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN.
Cách mạng khoa học công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, tạo nên sự biến cách to lớn trong đời sống xã hội, đặt ra những yêu cầu mới, nhu cầu mới, nhiệm vụ mới, suy nghĩ mới, hành động mới với mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhất là tận dụng tối đa thời cơ, vận hội, đi tắt đón đầu, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu.
Để thực hiện thắng lợi yêu cầu, nhiệm vụ, trọng trách trong giai đoạn mới, học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành những người hữu dụng đang là đòi hỏi cấp thiết đối với từng cá nhân, mỗi công dân, đặc biệt là những cán bộ, nhân viên trong hệ thống chính trị.
Học tập suốt đời không phải là vấn đề mới. Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào toàn dân, toàn quân xóa nạn mù chữ, Người căn dặn: “Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”; “Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”.
Trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong những năm đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng cả nước thành xã hội học tập.
Chủ trương học tập suốt đời được đề cập trong nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, Kết luận số 14-KL/TW, ngày 26/7/2002, Hội nghị Trung ương 6 khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, XI, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định “Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời” bởi “Người Cách mạng phải học suốt đời, học trong sách vở, học lẫn nhau và học từ nhân dân; “bể học” mênh mông, không bao giờ cạn.
Trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong những năm đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng cả nước thành xã hội học tập. Ảnh: TTXVN.
Thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng, việc xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời đã trở thành phong trào, thành nhu cầu, thành nếp văn hóa và đạt nhiều kết quả quan trọng. Theo đó, đã hình thành hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất từ giáo dục mầm non đến đào tạo sau đại học; các loại hình trường, lớp, loại hình đào tạo được đa dạng hóa, mang lại cơ hội học tập cho người dân ở mọi lứa tuổi.
Phương thức cung ứng, kết nối giữa các trình độ đào tạo được cải thiện; mạng lưới, quy mô giáo dục mở rộng khắp các vùng, miền của đất nước; các phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài từng bước đi vào chiều sâu, thực chất hơn ở hầu khắp các địa phương; môi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với hành, gắn với cuộc vận động xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa, gia đình văn hóa.
Trong nhiều dòng họ, làng, xã, thôn, bản phong trào thi đua học tập phát triển mạnh. Ý thức học tập suốt đời đã và đang thấm sâu vào từng gia đình, từng khu dân cư, từng cơ sở đào tạo, từng vùng, miền…
Đã có nhiều tấm gương tiêu biểu là nông dân, người lao động, cán bộ, giáo viên tích cực tự học, sáng tạo trong lao động, công tác, có nhiều đóng góp cho cộng đồng; nhiều tấm gương tiêu biểu trong áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, có nhiều nghiên cứu, sáng kiến giải pháp hiệu quả mang tính ứng dụng cao trong thực tiễn, trong sản xuất và đời sống; nhiều người lớn tuổi nhờ tự học, tự nghiên cứu áp dụng kiến thức, kinh nghiệm để sản xuất đã giúp gia đình thoát nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới và đóng góp cho kinh tế-xã hội ở địa phương.
Những mô hình mới, những tấm gương sáng về tinh thần học không bao giờ muộn, có nhiều người ở tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng vẫn theo học cao học, làm luận án tiến sỹ chỉ với mục đích học để làm gương cho con cháu noi theo và khuyên con cháu “học, học nữa, học mãi”; “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại,” góp phần để đất nước ta đạt được những thành tựu vĩ đại sau gần 40 năm đổi mới.
Bên cạnh kết quả, thực hiện chủ trương học tập suốt đời vẫn còn một số tồn tại, hạn chế.
Đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số lượng mà chưa thực sự chú trọng tới chất lượng; việc tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt kết quả như mong muốn; còn tình trạng học theo phong trào, sính bằng cấp mà chưa thực sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn, ngại khó, ngại khổ trong học tập, không đào sâu suy nghĩ để vươn lên chinh phục những đỉnh cao trong khoa học.
Tình trạng hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chủ nghĩa cá nhân, bệnh kinh nghiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên ảnh hưởng đến chất lượng thực thi công vụ, chất lượng phục vụ nhân dân; ảnh hưởng đến tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; triệt tiêu động lực đổi mới, sáng tạo, không đủ nền tảng kiến thức và tự tin về năng lực đề xuất và thực hiện những sáng kiến, giải pháp đột phá.
Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thỏa mãn với kiến thức đã học trong các trường lớp, cơ sở đào tạo, hoặc chạy theo việc học để hoàn thiện bằng cấp đủ điều kiện thăng tiến, không chịu nghiên cứu, học hỏi thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, kiến thức, kỹ năng hội nhập và khả năng thích ứng…
Một bộ phận biểu hiện ngại học, không có khái niệm học thường xuyên, học suốt đời nên trở thành lạc hậu, bảo thủ, không thích nghi và bắt nhịp với “guồng quay” hối hả của nhịp sống “vũ bão” thời khoa học và công nghệ 4.0 và X.0.
Buổi học đầu tiên sau lễ khai giảng ở một trường học trên huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa. Ảnh: TTXVN.
Đất nước đang đứng trước thời cơ, vận hội mới để vươn mình, để “sánh vai” với thế giới như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của toàn dân tộc.
Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài đưa đất nước, dân tộc bước vào xã hội giàu mạnh, người dân ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển; hơn lúc nào hết, chúng ta cần có những cán bộ có tư duy, tầm nhìn, việc làm đột phá, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, đặc biệt trong thực hiện các cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh-gọn-mạnh; hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả và thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Cách mạng 4.0 đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số khiến một phần nội dung giảng dạy tại nhà trường hôm nay có thể thành lạc hậu, lỗi thời sau vài năm; hơn thế, những điều phổ biến hiện nay thì 10 năm trước còn chưa xuất hiện và có 65% những công việc hiện nay sẽ bị thay thế bởi công nghệ trong những năm tới.
Với thế giới phức tạp, không ổn định và biến đổi khôn lường, tri thức phải không ngừng được bổ sung, tuổi thọ con người dài hơn, thời gian về hưu đủ dài, buộc người cao tuổi phải học và hoạt động để không bị lạc hậu với xã hội hiện đại.
Trong bối cảnh đó, học tập suốt đời trở thành một quy luật sống; không chỉ giúp mỗi cá nhân nhận biết, thích nghi, không tụt hậu trước sự biến đổi từng ngày của thế giới hiện tại, làm giàu trí tuệ, hoàn thiện nhân cách, vượt qua khó khăn, thử thách để ngày càng tiến bộ và định vị bản thân trong xã hội hiện đại; cao hơn, đây là chìa khoá quan trọng để nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, là con đường duy nhất, hướng đi tất yếu của mọi quốc gia để đảm bảo sự phát triển thịnh vượng, bền vững.
Học tập suốt đời giúp mỗi thành viên trong xã hội có đủ điều kiện và cơ hội tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng cuộc sống của chính mình, của gia đình, họ tộc, thôn, xóm, phường, xã và cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường trở thành nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và xã hội chủ nghĩa.
Chỉ khi đẩy mạnh thực chất học tập suốt đời, chúng ta mới giàu có những ý tưởng, giải pháp, sáng kiến để giải quyết những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, những vấn đề mới, chưa có tiền lệ; khắc phục triệt để những “điểm nghẽn” trong cơ chế, chính sách, biểu hiện hình thức trong tự phê bình và phê bình; xóa bỏ tình trạng trì trệ, lúng túng trong giải quyết công việc tại các địa phương, cơ quan, đơn vị; tạo ra được đội ngũ cán bộ dũng cảm, nhận thức đúng quy luật khách quan, chủ động suy nghĩ và làm chủ suy nghĩ, dám nói những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, từ cuộc sống sinh động, từ đòi hỏi của đổi mới và yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; có quyết tâm, dám chịu trách nhiệm về kết quả công việc, lĩnh vực, ngành mà mình đảm trách, dám nhận lỗi, sửa sai, chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng, biết làm chủ bản thân và công việc; dám chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng và nếu cần, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì Đảng, vì Tổ quốc và nhân dân.
Khi đó, chúng ta sẽ xây dựng thành công đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, có khát vọng vươn lên, khát vọng phát triển, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm về những quyết định của mình để hiện thực hóa nhiệm vụ cách mạng, tạo ra đột phá vì lợi ích của nhân dân, vì sự phát triển của đất nước.
Xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời chỉ thành công khi mỗi công dân ý thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với việc tự học tập suốt đời; mỗi cán bộ, đảng viên luôn ý thức rõ học tập suốt đời là nhiệm vụ cách mạng với thái độ nghiêm túc và ý thức tự giác cao.
Qua học tập suốt đời để nhận thức được trách nhiệm đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn, thời điểm cụ thể; có năng lực làm chủ, năng lực tổ chức cuộc sống; để không ngừng tiến bộ, có sức khoẻ, có chất lượng sống tốt hơn; hiểu biết, giữ gìn và góp phần xây dựng truyền thống văn hóa dân tộc; tin tưởng vào tương lai đất nước, vào đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời chỉ thành công khi mỗi công dân ý thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với việc tự học tập suốt đời. Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN.
Mỗi công dân cần không ngừng học tập về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp, kinh nghiệm làm việc và khả năng phối hợp trong tập thể để nâng cao tính kỷ luật của tổ chức, năng suất lao động và phát huy sức mạnh tổng hợp; mỗi cán bộ, đảng viên cần học về tư cách người cán bộ cách mạng, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân; không ngừng tự học tập, tự cập nhật kiến thức mới, tham gia tích cực phong trào “học tập số”, phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học công nghệ, kiến thức số; tích cực tuyên truyền, vận động người thân, gia đình, dòng họ tự học tập suốt đời. Qua học tập suốt đời để hoàn thành được mọi nhiệm vụ mà Đảng, cách mạng và nhân dân giao phó.
Mỗi cấp ủy, tổ chức chính trị-xã hội, hội nghề nghiệp cần nhận thức rõ mục tiêu chính của học tập suốt đời là phát triển con người xã hội chủ nghĩa, từ đó xác định các nội dung học tập suốt đời cho cán bộ, đảng viên, thành viên gắn với phát động thi đua, đánh giá, biểu dương, khen thưởng.
Đảng, Nhà nước sẽ sớm tổng kết, đánh giá, nghiên cứu ban hành quy định, quy trình, đổi mới quan điểm đánh giá, sàng lọc, quy hoạch đội ngũ cán bộ, nhằm xây dựng hoàn chỉnh bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; bảo vệ cán bộ sẵn sàng đi tiên phong, sẵn sàng “vượt rào” đột phá vì lợi ích chung.
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục theo định hướng mở, linh hoạt, liên thông, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi công dân và thực hiện đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động.
Có các giải pháp cụ thể nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò, ý nghĩa của học tập suốt đời và sự đóng góp của học tập suốt đời đối với nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của nguồn nhân lực quốc gia.
Theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện thí điểm các đề xuất đổi mới, sáng tạo; chủ động phát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời động viên, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hoặc xem xét, điều chỉnh, có quyết định phù hợp với tình hình thực tế; có chính sách miễn trừ trách nhiệm đối với cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại do nguyên nhân khách quan.
Chúng ta đang sống trong thời đại mà tri thức, kiến thức, hiểu biết sẽ giúp con người phát huy cao độ tiềm năng để tận dụng tốt các cơ hội, ứng phó hiệu quả với những thách thức để phát triển bền vững; cũng là thời đại mà khối lượng kiến thức của nhân loại tăng lên hàng ngày theo cấp số nhân.
Ảnh minh họa: Thanh Tùng/TTXVN.
Chỉ khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhà nhà, người người thực hiện hiệu quả học tập suốt đời, xây dựng được đội ngũ cán bộ dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, chúng ta mới vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Hiệu trưởng Trường Đại học Patras, GS. Christos I. Bouras chủ trì buổi họp cùng GS. Dionissios Mantzavinos, Phó Hiệu trưởng và đại diện lãnh đạo các Khoa và đơn vị của ĐH Patras. Về phía Trường Đại học Thủy lợi, có sự tham dự của GS.TS. Trịnh Minh Thụ, Hiệu trưởng, trưởng đoàn công tác cùng đại diện các phòng ban của nhà trường.
Toàn cảnh buổi làm việc với lãnh đạo Trường Đại học Patras
Mở đầu cuộc họp, GS. Christos I. Bouras đã gửi lời chào mừng đến đoàn công tác Việt Nam và bày tỏ mong muốn hai trường có thể xúc tiến các chương trình hợp tác trong thời gian tới.
Bà Phạm Thị Thu Hương khẳng định rằng Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đồng thời khẳng định Đại sứ quán Việt Nam tại Hy Lạp sẽ là cầu nối quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai trường.
Đáp lời phía Hy Lạp, GS.TS. Trịnh Minh Thụ bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đối với sự đón tiếp nồng hậu của Trường Đại học Patras. GS đã giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển 65 năm của Trường Đại học Thủy lợi, đồng thời nhấn mạnh thế mạnh trong đào tạo và nghiên cứu về tài nguyên nước, phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu. Đồng thời, Hiệu trưởng cũng chia sẻ về kinh nghiệm hợp tác quốc tế của Nhà trường với nhiều đối tác tại Mỹ, châu Âu, châu Á và các tổ chức quốc tế.
Đoàn công tác của Trường Đại học Thủy lợi và Đại sứ quán Việt Nam tại Hy Lạp chụp ảnh lưu niệm tại ĐH Patras
Thông qua buổi họp, hai bên đã thảo luận và đạt được sự thống nhất về các hướng hợp tác trọng tâm, bao gồm hợp tác đào tạo với việc xây dựng các chương trình liên kết như 2+2, 3+1, triển khai đồng hướng dẫn sinh viên cao học và tổ chức các chương trình thực tập dành cho sinh viên. Về hợp tác nghiên cứu, hai trường sẽ phối hợp thực hiện các đề tài nghiên cứu chung trong các lĩnh vực tài nguyên nước, môi trường, biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai. Ngoài ra, hai bên cũng nhất trí mở rộng cơ hội trao đổi giảng viên và sinh viên nhằm thúc đẩy các chương trình trao đổi học thuật. Đặc biệt, trong lĩnh vực hợp tác dự án quốc tế, hai trường sẽ phối hợp tìm kiếm tài trợ và triển khai các dự án nghiên cứu song phương từ các quỹ như Erasmus+, Horizon Europe.
Hai Hiệu trưởng tiến hành thủ tục ký kết Biên bản ghi nhớ
Đoàn công tác chụp ảnh lưu niệm với Lãnh đạo ĐH Patras sau lễ ký kết MOU
Nhằm tăng cường hợp tác giữa hai bên, GS.TS. Trịnh Minh Thụ đã trân trọng mời lãnh đạo Trường Đại học Patras sang thăm và làm việc tại Việt Nam trong thời gian tới. Đáp lại lời mời, GS. Dionissios Mantzavinos, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Patras, bày tỏ mong muốn sớm đến Việt Nam để tìm hiểu, trao đổi và xây dựng các chương trình hợp tác với Trường Đại học Thủy lợi, đặc biệt trong các lĩnh vực kỹ thuật, kinh tế, đào tạo nguồn nhân lực và các ngành khoa học, văn hóa. Đại diện các Khoa của Trường Patras, bao gồm Kinh tế, Kỹ thuật, Văn hóa quốc tế, Lịch sử và Khảo cổ học, đều bày tỏ sự quan tâm và nhận định rằng hai trường có nhiều điểm tương đồng trong đào tạo và nghiên cứu, tạo nền tảng vững chắc cho mối quan hệ hợp tác lâu dài.
Đoàn công tác thăm một số cơ sở hạ tầng của ĐH Patras, trong đó có Thư viện và trung Tâm Hội nghị
Cuộc họp đã diễn ra thành công tốt đẹp, mở ra nhiều cơ hội hợp tác giữa Trường Đại học Thủy lợi và Trường Đại học Patras trong tương lai, hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả hai bên.
Tham dự tọa đàm có các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các cơ quan, đơn vị liên quan, bao gồm: GS.TS. Nguyễn Hồng Thao – Phó Chủ tịch Ủy ban Luật pháp quốc tế – Liên hợp quốc; TS. Nguyễn Huy Hoàng – Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra – Thanh tra Chính phủ; TS. Nguyễn Quỳnh Liên – Trưởng Ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội – Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Đồng chí Lê Đình Quảng – Phó trưởng Ban Chính sách pháp luật và Quan hệ lao động, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; ThS.NCS. Trần Hà Thu – Văn phòng Quốc hội; TS. Nguyễn Huy Khoa – Phó Trưởng Khoa Luật, Trường Đại học Công đoàn; TS. Lê Thị Thúy Ngà – Phó Trưởng Khoa Công tác xã hội, Trường Đại học Công đoàn; Đồng chí Bùi Thị Sèn – Phó Chủ tịch Công đoàn Trường Đại học Thủy lợi; Các nhà khoa học, thành viên nhóm nghiên cứu đề tài, cán bộ, giảng viên Trường Đại học Công đoàn và Trường Đại học Thủy lợi.
Phát biểu khai mạc tọa đàm, đồng chí Bùi Thị Sèn – Phó Chủ tịch Công đoàn Trường Đại học Thủy lợi – nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của đề tài. Đây là lần đầu tiên Công đoàn Trường Đại học Thủy lợi được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tin tưởng giao chủ trì một đề tài khoa học cấp Tổng Liên đoàn, thể hiện sự tín nhiệm và trách nhiệm to lớn của Công đoàn Trường trong việc góp phần nâng cao chất lượng hoạt động phản biện xã hội. Đồng chí bày tỏ sự trân trọng đối với các đại biểu và chuyên gia đã tham dự, đóng góp ý kiến quý báu nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu và thúc đẩy ứng dụng thực tiễn trong hoạt động phản biện của tổ chức Công đoàn.
Đồng chí Bùi Thị Sèn – Phó Chủ tịch Công đoàn Trường Đại học Thủy lợi phát biểu khai mạc
Trình bày báo cáo tại Toạ đàm, TS. Phan Thị Thanh Huyền nêu rõ các căn cứ pháp lý và thực tiễn, mục tiêu nghiên cứu, nội dung bộ công cụ khảo sát, phương pháp đo lường và phân tích số liệu. Bộ công cụ khảo sát gồm 05 biểu mẫu, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính, ứng dụng công nghệ thông tin để đảm bảo tính khoa học, minh bạch và khách quan trong đánh giá thực trạng hoạt động phản biện xã hội của Công đoàn Việt Nam.
TS. Phan Thị Thanh Huyền – Chủ nhiệm đề tài trình bày báo cáo
Các chuyên gia đã thảo luận về đối tượng nghiên cứu, tiêu chí khảo sát, phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu. Đa số ý kiến đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của nhóm nghiên cứu, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của đề tài trong việc nâng cao chất lượng phản biện xã hội của tổ chức Công đoàn. Nhiều góp ý thiết thực được đưa ra nhằm làm rõ phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận, tiêu chí đo lường và hướng phát triển bộ công cụ khảo sát.
Tọa đàm đã diễn ra thành công, góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện bộ công cụ khảo sát, nâng cao tính chính xác và hiệu quả trong đánh giá thực tiễn, đồng thời định hướng cho các bước nghiên cứu tiếp theo của đề tài.
Các đại biểu bỏ phiếu bầu tại Kỳ họp thứ 27, Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XVIII. Ảnh: TL.
Sáng 25/2, tại Kỳ họp thứ 27, Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XVIII đã bầu chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2021-2026 đối với ông Phùng Thành Vinh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT và ông Hoàng Phú Hiền, Giám đốc Sở Giao thông vận tải.
Với 100% đại biểu dự họp tán thành bằng hình thức bỏ phiếu kín, ông Hoàng Phú Hiền và ông Phùng Thành Vinh đã được bầu giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2021-2026.
Ông Phùng Thành Vinh (thứ hai từ trái qua) và ông Hoàng Phú Hiền (thứ 2 từ phải qua) được bầu chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2021 – 2026. Ảnh: THNA.
Ông Phùng Thành Vinh, sinh ngày 8/4/1974, quê quán xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Trước khi được bầu làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh, ông Vinh từng giữ các chức vụ như Giám đốc Dự án phát triển nông thôn miền Tây Nghệ An (Dự án Luxembourg VIE/028); Trưởng ban Quản lý dự án ngành Nông nghiệp và PTNT Nghệ An; Chủ tịch UBND huyện Đô Lương; Bí thư Huyện ủy Đô Lương; Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Nghệ An.
Ông Vinh từng học ngành Công trình Thủy lợi, Trường Đại học Thủy lợi; là cựu học viên cao học lớp 23QLXD13 – ngành Quản lý xây dựng, trường Đại học Thủy lợi.
Ông Phùng Thành Vinh có nhiều dấu ấn tích cực trong thời gian giữ chức Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Nghệ An. Ảnh: TL.
Như vậy, hiện UBND tỉnh Nghệ An có 5 Phó Chủ tịch, gồm các ông Bùi Thanh An, Bùi Đình Long, Nguyễn Văn Đệ, Hoàng Phú Hiền và Phùng Thành Vinh.
NCS Lương Thị Thanh Hương bảo vệ LATS trước hội đồng
Thiệt hại kinh tế do thiên tai khoảng 520 tỷ USD mỗi năm trên toàn cầu, trong đó thiệt hại do lũ lụt chiếm khoảng 80%; và hàng chục ngàn người chết do lũ lụt Thiệt hại về nhà ở và công trình xây dựng là yếu tố được quan tâm hàng đầu do ảnh hưởng đến người dân và an sinh xã hội. Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc, khoảng 23 triệu người bị ảnh hưởng bởi lũ lụt trong năm 2019, trong đó trên 10 triệu người mất . Tại Việt Nam, thiệt hại kinh tế từ lũ lụt tại Việt Nam ước tính hàng tỷ USD mỗi năm, đặc biệt trong mùa mưa bão. Cùng với sự phát triển kinh tế, vùng hạ du của các hồ chứa nước vừa và lớn trở thành nơi tập trung đông dân cư và các hoạt động kinh tế, tạo ra những thách thức nghiêm trọng về an toàn và khả năng ứng phó với ngập lụt. Theo quan điểm hiện đại về an toàn đập, an toàn đập không chỉ được hiểu đơn thuần là sự an toàn của công trình đập, mà còn phải xem xét an toàn trong mối quan hệ với các yếu tố thượng và hạ lưu, trong đó định lượng rủi ro của lũ lụt do xả lũ và sự cố đập từ hồ chứa tác động đối với hạ du không chỉ cung cấp cơ sở cho các biện pháp công trình nâng cao an toàn đập mà còn cho biện pháp quản lý nhằm giảm thiểu rủi ro lũ lụt.
Nguy cơ vỡ đập tiềm ẩn trong mỗi đợt mưa bão tại Việt Nam cũng là yếu tố cần được xem xét tới, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng hiện nay. Các tình huống xả lũ lớn, vỡ đập có thể dẫn đến hiện tượng lũ lụt đột ngột; dòng chảy từ hồ chứa có lưu lượng và lưu tốc lớn, tàn phá các công trình hạ tầng, đặc biệt là của người dân, đe dọa an toàn của cộng đồng hạ du. Do đó, việc đánh giá rủi ro do hồ chứa xả lũ lớn và vỡ đập, trong đó có xét đến tác động của vận tốc dòng chảy, là cần thiết để định lượng rủi ro, từ đó giảm thiểu các tác động tiêu cực và bảo vệ tài sản và người, ở hạ du các hồ chứa vừa và lớn.
Vì vậy, đề tài nghiên cứu của luận án: “Nghiên cứu đánh giá rủi ro lũ lụt vùng hạ du hồ chứa do xả lũ lớn, vỡ đập – Ứng dụng cho hồ chứa nước Ngàn Trươi, tỉnh Hà Tĩnh” là rất cần thiết, có tính thời sự, khoa học và thực tiễn. Cụ thể: Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học và thực tiễn trong đánh giá thiệt hại kinh tế do hồ chứa xả lũ lớn và vỡ đập gây ra cho khu vực hạ du hồ chứa. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị cho các đơn vị quản lý hồ đập, các cấp chính quyền trong việc xây dựng các giải pháp ứng phó nhằm giảm thiểu thiệt hại kinh tế khu vực hạ du khi hồ chứa xả lũ lớn và do sự cố hồ đập gây ra.
Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ của NCS
Tóm tắt những đóng góp mới của luận án:
(1) Xác lập được cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng đường cong thiệt hại cho các loại nhà ở khu vực hạ du hồ chứa có xét đến độ sâu ngập và vận tốc dòng chảy phù hợp với các tiêu chuẩn xây dựng và đặc điểm nhà cửa ở Việt Nam.
(2) Xây dựng được đường cong thiệt hại cho các loại nhà ở khu vực hạ du hồ chứa có xét đến độ sâu ngập và vận tốc dòng chảy.
(3) Phát triển mã nguồn mở modun tích hợp các hàm thiệt hại với phần mềm Riskscape để lập bản đồ thiệt hại các đối tượng trong khu vực nghiên cứu và đánh giá được thiệt hại kinh tế do ngập lụt tại hạ du hồ chứa Ngàn Trươi khi hồ xả lũ lớn và do sự cố đập gây ra.
GS.TS Trịnh Minh Thụ – Hiệu trưởng, Chủ tịch Hội đồng đánh giá LATS của NCS
PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng ghi nhận những nỗ lực, cố gắng của NCS trong quá trình học tập, công tác
Tại buổi bảo vệ, Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ của NCS Lương Thị Thanh Hương đánh giá cao luận án tiến sĩ của NCS và nhất trí đề xuất Trường Đại học Thủy lợi công nhận và cấp bằng cho NCS.
Trường Đại học Thủy lợi chúc mừng NCS Lương Thị Thanh Hương bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp trường
Đồng nghiệp chúc mừng NCS Lương Thị Thanh Hương
NCS Lương Thị Thanh Hương là cựu sinh viên xuất sắc của Trường Đại học Thủy lợi; học tập ở cả 3 bậc Đại học, Thạc sĩ và Tiến sĩ của Nhà trường; hiện là Giảng viên bộ môn Thủy công, Khoa Công trình kiêm nhiệm chức vụ Phó trưởng Phòng Hành chính – Tổng hợp, Trường Đại học Thủy lợi.
Trong quá trình học tập, nghiên cứu, NCS Lương Thị Thanh Hương đã công bố được nhiều bài báo khoa học trên các tạp chí trong và ngoài nước; tham gia với vai trò là Thư ký, Thành viên của nhiều đề tài NCKH cấp Bộ, cấp Nhà nước…
Công nghệ xây dựng từ cây tre kết hợp với bê tông và thép: Với công nghệ này, vữa bê tông tính năng cao đã được trộn đều sau đó rót vào thân cây tre (sau khi đã khoét màng mắt tre). Trước khi đổ bê tông vào trong lõi tre cần định vị cây thép vào đúng vị trí tâm của cây tre bằng hệ khung định vị tim thép trong lõi tre. Sau khi tạo ra được các sản phẩm cọc tre có lõi thép thì việc ứng dụng sẽ được nhân rộng trong cuộc sống như: Cọc tre gia cố nền đường (ở những vùng đất ẩm thấp), cột tre bê tông lõi thép làm cột nhà, làm dầm đỡ mái nhà, làm thành hệ khung cho các công trình dân dụng và công nghiệp.
Ngoài ra, đến nay song song với bằng độc quyền sáng chế này chính tác giả đang nộp đăng ký bảo hộ thêm được một số sáng chế mới, đã được chấp nhận đơn hình thức. Trên cơ sở đó, ngày 11/01/2025 Hội sáng chế Việt Nam phối hợp với các tổ chức đã trao giải thưởng Ngôi sao sáng chế cho các tổ chức, cá nhân có thành tích tiêu biểu. Trong đó chính tác giả Lê Trung Phong đã được cấp giấy chứng nhận về “Sản phẩm công nghệ có tiềm năng thương mại hóa”. Đây là dấu ấn về sự đóng góp không ngừng nghỉ của đội ngũ khoa học của Trường Đại học Thủy lợi, bên cạnh công tác giảng dạy còn tiên phong trong khám phá, phát minh những tri thức mới nhằm áp dụng cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.