Tác giả: Data Old

  • Giai đoạn 1986 – 2005: Cùng đất nước đổi mới

    Giai đoạn 1986 – 2005: Cùng đất nước đổi mới

    Vào những năm 80 của thế kỷ XX, đất nước ta trải qua những khó khăn. Các trường đại học kỹ thuật gặp khó khăn trong công tác tuyển sinh. Số thí sinh đăng ký thi vào Trường Đại học Thủy lợi rất thấp, có năm chỉ tuyển được khoảng 100 sinh viên. Nhà trường đứng trước nguy cơ phải sáp nhập hoặc giải thể theo tinh thần Nghị quyết 73/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Trong hoàn cảnh đó, Đảng ủy, Ban Giám hiệu và toàn thể cán bộ, giảng viên của Trường đã từng bước khắc phục khó khăn đưa Nhà trường vững bước đi lên, khẳng định được vị trí của mình trong khối các trường đại học.

    Sự nghiệp giáo dục đào tạo của Trường Đại học Thủy lợi đã đạt được những thành quả to lớn. Những lúng túng ban đầu để thích nghi với nền kinh tế thị trường, những khó khăn về kinh phí hoạt động, khó khăn trong đời sống của cán bộ công nhân và sinh viên đã từng bước được tháo gỡ. Nhờ hướng đi đúng và bằng sự nỗ lực, phấn đấu vươn lên của tập thể cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên, trường có những chuyển biến tích cực cả về quy mô chất lượng, hiệu quả và sớm dành thắng lợi trong việc thực hiện 3 chương trình hành động của ngành Đại học – Trung học chuyên nghiệp giai đoạn 1987-1990, 5 chương trình mục tiêu của kế hoạch 1991 – 1995 và chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết TW2 khóa 8 về “Định hướng chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”.

    Đặc biệt, năm 1995, việc sáp nhập 3 Bộ: Bộ Nông nghiệp, Bộ Lâm nghiệp, Bộ Thủy lợi thành Bộ Nông nghiệp và PTNT đã thúc đẩy sự nghiệp phát triển thủy lợi nước ta lên bước mới: phát triển thủy lợi bền vững trong một môi trường Đất – Nước – Rừng, gắn kết hữu cơ với một nền nông nghiệp sinh thái. Nhạy bén trước tình hình và tận dụng thời cơ mới, nhà trường chủ trương tiến hành cải cách giáo dục lần thứ 2 để tổ chức lại hệ thống các ngành học theo hướng phục vụ phát triển kỹ thuật tài nguyên nước và phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai. Chương trình đào tạo có tính hệ thống, tổng hợp, toàn diện và bền vững thuộc lĩnh vực tài nguyên nước. Năm 2004, Nhà trường đã chủ động xây dựng chiến lược phát triển Trường giai đoạn 2006-2020 và tầm nhìn 2030 phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế. Đây là một bước đi đón đầu Nghị quyết số 14/2005/ NQ-CP của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020. Những thành tựu trong sự đổi mới của trường được thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau.

    1. Công tác đào tạo

    Nhà trường đã xây dựng thành công nhóm ngành học mới trên cơ sở kế thừa các ngành truyền thống. Nhà trường đã trình Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giáo dục và Đào tạo duyệt chương trình đào tạo gồm 9 ngành với 21 chuyên ngành trình độ đại học. Dù là một trường chuyên ngành nhưng việc đào tạo của trường đã và đang bắt đầu mang tính liên ngành, đa lĩnh vực.

    Chương trình học được đổi mới, bổ sung nhiều môn học mới như: Viễn thám, Môi trường, Lý thuyết hệ thống tự động hóa, Tin học ứng dụng, Kinh tế đầu tư, Cấp thoát nước, Xử lý nước thải, Kiến trúc…, tăng cường một số môn Khoa học xã hội nhân văn như: Xã hội học, Pháp luật… Năm 2000, trường mở thêm ngành Kỹ thuật cơ sở hạ tầng, năm 2001 mở ngành Công nghệ thông tin, năm 2003 mở ngành Kỹ thuật Bờ biển.

    Năm 2003 đã hoàn thành chương trình khung với 270 đơn vị học trình cho các ngành; năm 2004 xây dựng xong đề cương chi tiết môn học và bắt đầu thực hiện từ năm học 2004-2005. Quy mô tuyển sinh đại học tăng dần từ 248 sinh viên khóa 28 tuyển năm 1986, tăng lên 472 sinh viên khóa 34 tuyển năm 1992. Năm 1997 tuyển 871 sinh viên khóa 39. Năm 2000 là 1051 sinh viên khóa 42. Đến năm 2005 tuyển sinh được 1394 sinh viên của khóa 47. Đào tạo sau đại học đổi mới chương trình, nâng cao chất lượng, gắn đào tạo với địa chỉ sử dụng. Luận văn tốt nghiệp xuất phát từ yêu cầu thực tế, gắn đề tài khoa học với những vấn đề mang tính cấp thiết phục vụ cho sự nghiệp phát triển của ngành và đất nước. Năm 1992, trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo thạc sĩ với một chuyên ngành đào tạo là Thủy văn. Từ năm 2004, trường đã được Bộ cho phép đào tạo 13 chuyên ngành Tiến sĩ, 07 chuyên ngành Thạc sĩ. Các lớp bồi dưỡng chuyên đề, hội thảo được mở thường xuyên, mỗi năm có hàng trăm cán bộ, kỹ sư tham dự. Quy mô đào tạo ở mức tương đối ổn định ở tất cả các trình độ: Cao đẳng, Đại học, trên Đại học (Thạc sĩ, Tiến sĩ) và ở các địa bàn trong toàn quốc. Song song với việc đổi mới chương trình là đổi mới giáo trình, khuyến khích sinh viên nghiên cứu khoa học và thi Olympic các môn học. Một dấu mốc quan trọng là ngày 25/2/1997, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có quyết định số 288NN-TCCB/QĐ đổi tên “Trung tâm kết hợp đào tạo, nghiên cứu và thực hành khoa học kỹ thuật thủy lợi tại Nam Bộ” (Trung tâm ĐH1) thành “Cơ sở 2 – Trường Đại học Thủy lợi”. Đây là cột mốc đánh dấu một bước phát triển mới trong công tác đào tạo phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội các tỉnh phía Nam, đáp ứng nhu cầu về đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong lĩnh vực tài nguyên nước.

    2. Công tác khoa học công nghệ

    Thực hiện Nghị quyết số 26/NQTW của Bộ Chính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới, Nghị định 35HĐBT về công tác quản lý khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Trường đã xây dựng chiến lược phát triển khoa học công nghệ đến năm 2000, có nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học. Điều đó tạo nên bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng trong công tác nghiên cứu khoa học, góp phần tích cực cho sự phát triển của ngành phục vụ trực tiếp sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nông nghiệp – Nông thôn. Hầu hết các đề tài nghiên cứu đều tập trung vào những chương trình trọng điểm của Quốc gia, của ngành, những dự án quan trọng có tính chất lâu dài như vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng sông Hồng, khu vực miền Trung, vùng Tây Nguyên, các dự án của WB, ADB đầu tư tại Việt Nam. Song song với công tác nghiên cứu khoa học, nhà trường tiếp tục mở rộng hoạt động sản xuất ở các địa bàn trong toàn quốc; Củng cố, ổn định các cơ sở sản xuất đã có, thành lập đơn vị mới. Các Trung tâm nghiên cứu khoa học, các Viện lần lượt ra đời: Trung tâm Khoa học và triển khai kỹ thuật thủy lợi (năm 1990), Trung tâm Thủy văn ứng dụng và kỹ thuật môi trường (năm 1993), Trung tâm Khoa học và Công nghệ cơ học máy thủy lợi (năm 1994), Văn phòng Tư vấn thẩm định thiết kế và giám định chất lượng công trình (năm 1998), Công ty Tư vấn và chuyển giao công nghệ (năm 2000); Đã ký kết và thực hiện hàng trăm công trình phục vụ sản xuất. Số đề tài tăng nhanh, đa dạng và phong phú, đặc biệt là các đề tài cấp Nhà nước và đề tài trọng điểm cấp Bộ. Khoa học công nghệ phục vụ sản xuất đã tạo nên sự gắn kết trực tiếp giữa đào tạo với thực tiễn sản xuất, nâng cao năng lực của thầy và trò, đồng thời tạo ra nguồn thu bổ sung để đầu tư cho cơ sở vật chất, các điều kiện làm việc và mang lại phúc lợi tập thể để cải thiện một phần đời sống của giáo viên, công nhân viên và sinh viên. Công tác nghiên cứu khoa học sinh viên được tổ chức hàng năm, số báo cáo khoa học từ 100 đến 150 báo cáo, trong đó có 10 đến 15 đề tài được xếp loại giỏi và được khen thưởng. Trường còn là một trong những cơ sở đào tạo sáng lập phong trào thi Olympic Cơ học sinh viên, đưa phong trào này trở thành truyền thống hàng năm trong khối các trường đại học kỹ thuật. Các đội tuyển Olympic của trường như: Cơ lý thuyết, Sức bền vật liệu, Cơ học đất, Thủy lực, Cơ kết cấu, Toán, Tin học… đạt nhiều giải cao trong các kỳ thi Olympic Quốc gia. Nhiều đồ án tốt nghiệp của sinh viên dự thi đã đạt giải Loa thành. Để đáp ứng kịp thời sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, nhà trường đã nâng cấp Nội san khoa học của Trường Đại học Thủy lợi thành Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thuỷ lợi và Môi Trường. Tạp chí được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) cấp giấy phép số 158/GP-BVHTT ngày 08 tháng 5 năm 2003. Tạp chí là kênh hội tụ và lan tỏa thành quả khoa học công nghệ trong các lĩnh vực thủy lợi, năng lượng, thủy văn, tài nguyên, môi trường, tin học, cơ khí, kinh tế; là tiếng nói của lãnh đạo và các thế hệ thầy giáo, cô giáo, cán bộ, nhân viên và sinh viên Trường Đại học Thủy lợi; là diễn đàn khoa học, công nghệ của bạn đọc trong và ngoài nước.

    3. Công tác hợp tác quốc tế

    Trong bối cảnh sự hợp tác đào tạo với các nước truyền thống như Liên Xô, Đông Âu bị gián đoạn, nhà trường đã chủ động mở rộng quan hệ hợp tác KHCN đa phương và song phương với một số cơ quan, tổ chức quốc tế thuộc Liên Hiệp Quốc, khối các nước Châu Á, Tây Âu và Bắc Mỹ, đồng thời nối lại quan hệ truyền thống với Trung Quốc, từ đó thúc đẩy sự phát triển chung của trường về mặt đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy, quản lý và tiếp nhận nhiều tiến bộ KHCN thuộc nhiều chuyên môn khác nhau trong trường, đồng thời nâng cao vị thế của trường trên trường quốc tế và trong nước.

    Tháng 8/1988, Trường Đại học Thủy lợi được kết nạp trở thành thành viên thứ 16 của ESCAP (Tổ chức giáo dục của các nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương), cũng từ đó nhà trường đã tạo lập được mối quan hệ với Ấn Độ, Hà Lan, Úc và Thái Lan. Từ năm 1989 – 1994, Dự án VIE 88/007 “Nâng cao năng lực đào tạo của Trường Đại học Thủy lợi” do UNDP tài trợ được triển khai đạt kết quả tốt, tạo thế và lực cho nhà trường mở rộng quan hệ hợp tác về đào tạo và khoa học công nghệ với nhiều trường đại học trên thế giới.

    Tháng 4/1995, trường thiết lập lại quan hệ với một số trường đại học, cơ quan thủy lợi của Trung Quốc, từ đó đến nay đã có nhiều cuộc trao đổi, học tập lẫn nhau giữa Trường Đại học Thủy lợi và các trường đại học, cơ quan của Trung Quốc, trong đó Đại học Vũ Hán đã nhận đào tạo cán bộ giảng dạy cho Nhà trường, nhiều giảng viên của trường được đào tạo trình độ tiến sĩ, thạc sĩ. Năm 1996, nhà trường xây dựng và ban hành thực hiện “Quy định quản lý hoạt động đối ngoại”, nhờ vậy công tác đối ngoại đã đi vào nề nếp. Trường đã ký biên bản ghi nhớ thiết lập quan hệ với nhiều trường đại học có uy tín của Nhật Bản, Mỹ, Pháp, Singapore, Lào, Ấn Độ, Australia, và Italia. Dự án “Xây dựng năng lực Quản lý nguồn nước” (Chính phủ Đan Mạch tài trợ, 2001-2007) và Dự án “Xây dựng năng lực Kỹ thuật bờ biển tại Trường Đại học Thủy lợi” (Chính phủ Hà Lan tài trợ, 2000–2009) được xây dựng và bắt đầu triển khai. Nhờ đó, Trường Đại học Thủy lợi đã tiếp nhận được những tiến bộ khoa học công nghệ và cử hàng trăm cán bộ giảng dạy, quản lý đi học tập, tham dự hội nghị khoa học, hội thảo ở các nước để nâng cao trình độ về chuyên môn, tầm nhìn, giao tiếp quốc tế và ngoại ngữ. Dự án Hà Lan đã giúp trường xây dựng và đưa vào hoạt động Phòng thí nghiệm Thủy lực tổng hợp và thành lập Khoa Kỹ thuật Bờ biển vào năm 2003 (nay là Khoa Kỹ thuật Biển).

    4. Công tác tổ chức cán bộ

    Giai đoạn 1986 đến 2005 là thời kỳ tổ chức lại bộ máy quản lý của trường đáp ứng mục tiêu mở rộng quy mô đào tạo, đa dạng các loại hình đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Năm 1986, Khoa Thủy điện – Máy Thủy lợi được tách thành hai khoa là Khoa Cơ khí Thủy lợi và Khoa Thủy điện. Năm 1990, đổi tên Khoa Thủy Nông thành Khoa Thủy nông cải tạo đất. Năm 1992, thành lập Trung tâm Thủy văn Ứng dụng và Kỹ thuật Môi trường. Năm 1993 đổi tên Khoa Thủy văn và Quy hoạch nguồn nước thành Khoa Thủy văn – Môi trường. Năm 2001, thành lập Khoa Công nghệ thông tin. Năm 2002, đổi tên Khoa Thủy nông cải tạo đất thành Khoa Quy hoạch và quản lý hệ thống công trình. Trong khoảng 10 năm đầu của giai đoạn này, Trường tuyển dụng giảng viên thông qua việc tiếp nhận sinh viên mới tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, giỏi và tiếp tục cử đi đào tạo, bồi dưỡng để bổ nhiệm vào ngạnh giảng viên. Từ năm 1996, công tác tuyển dụng của đã trường mang tính hệ thống hơn. Hàng năm, nhà trường đều tổ chức tối thiểu 1 đợt tuyển dụng chính thức, với khoảng trên dưới 40 chỉ tiêu. Qua việc thông báo rộng rãi tiêu chuẩn tuyển dụng, trường đã tuyển được nhiều giảng viên đã qua đào tạo cơ bản, đáp ứng được ngay yêu cầu công tác giảng dạy. Bước vào thiên niên kỷ mới, đội ngũ cán bộ giảng dạy gồm hơn 300 giảng viên. Số giảng viên có trình độ sau đại học là 145 người chiếm tỉ lệ 46% , trong đó có 48 Giáo sư, Phó Giáo sư. Cùng với yêu cầu hội nhập và sự phát triển của nền kinh tế thị trường, ngoài yêu cầu về chuyên môn ngày càng cao, nhà trường khuyến khích giáo viên học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh. Với quan điểm, nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của nhà trường, trong công tác xây dựng và phát triển đội ngũ, trường luôn chú trọng toàn diện cả 3 khâu tuyển dụng, đào tạo và sử dụng. Nhờ đó, đến cuối giai đoạn này, số giảng viên có trình độ tiến sĩ của Trường đã tăng lên rõ rệt, chiếm hơn 20% tổng số giảng viên cơ hữu của trường.

    5. Công tác xây dựng cơ sở vật chất

    Nhà trường đã có những bước đi thích hợp xây dựng và cải tạo, nâng cấp được nhiều khu giảng đường phục vụ đáp ứng công tác giảng dạy theo học chế tín chỉ. Các phòng học được trang bị máy chiếu phục vụ đổi mới phương pháp giảng dạy; cải tạo các dãy nhà ký túc xá của sinh viên, các phòng ở sinh viên thành phòng ở khép kín, đường xá, điện nước được nâng cấp khang trang; cải tạo hội trường lớn T35. Đầu tư xây dựng khu thí nghiệm thủy lực tổng hợp; khu thí nghiệm ngoài trời ngành thủy nông; nhà giảng đường học máy tính C5; nâng cấp Xưởng thực hành cơ khí; phòng thí nghiệm Máy Xây dựng. Các phòng thí nghiệm đã từng bước đạt tiêu chuẩn quốc gia và mang tính đặc thù của một trường đầu ngành về lĩnh vực tài nguyên nước. Khu giáo dục thể chất gồm sân bóng đá, bể bơi, nhà thi đấu đa năng, đường chạy trong sân vận động được nâng cấp, xây mới đáp ứng nhu cầu về rèn luyện thể chất của cán bộ, giáo viên và sinh viên. Thư viện của nhà trường được đầu tư, trang bị khang trang với hàng vạn sách, giáo trình tham khảo và hàng chục máy tính nối mạng phục vụ cho nghiên cứu, học tập. Cơ sở 2 của trường được xây dựng khang trang to đẹp ngay gần trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh gồm: giảng đường, thư viện, khu ký túc xá sinh viên; cơ sở Bình Dương được nâng cấp xây dựng và đưa vào sử dụng khu giảng đường, khu ký túc xá đáp ứng đủ nhu cầu cho sinh viên ăn, ở và học tập.

    6. Công tác thi đua khen thưởng

    Phong trào thi đua lao động giỏi, giảng dạy giỏi duy trì thường xuyên hàng năm. Với những thành tích đã đạt, Trường Đại học Thuỷ lợi đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập Hạng Ba (1989); Hạng Nhì (1994); Hạng Nhất (1999), Huân chương Lao động hạng Ba cho hoạt động Công đoàn 1999; Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới 2000, Huân chương Hồ Chí Minh 2004, Huân chương Lao động hạng Nhất do Chính phủ Lào trao tặng năm 2000… Điều đáng ghi nhận trong thời kỳ này, trường đã xác định rõ ràng, có căn cứ khoa học và thực tiễn con đường phát triển lâu dài trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21, phục vụ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn, hội nhập quốc tế. Những thành tựu đạt được giai đoạn này tạo thế và lực cho nhà trường bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ, thời kỳ thực hiện chiến lược phát triển của nhà trường.

  • Giai đoạn 1976 – 1985: Xây dựng và phát triển gắn với nhiệm vụ kiến thiết đất nước sau chiến tranh

    Giai đoạn 1976 – 1985: Xây dựng và phát triển gắn với nhiệm vụ kiến thiết đất nước sau chiến tranh

    Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh và kiến thiết nước nhà được Đảng và Nhà nước đặt lên hàng đầu. Xác định vai trò quan trọng của công tác thủy lợi, Bộ Thủy lợi, Trường Đại học Thủy lợi đã quyết định thành lập các đoàn công tác kết hợp với các tỉnh ở phía Nam vào khắc phục và xây dựng các công trình thủy lợi.

    Tháng 4/1976, “Đoàn khảo sát thiết kế thủy lợi miền Nam” (sau gọi tắt là Đoàn ĐH1) được thành lập theo Quyết định số 494-QĐ/TC ngày 01/4/1976 của Bộ trưởng Bộ Thủy lợi. Đoàn gồm 16 cán bộ, giảng viên cùng gần 200 tân kỹ sư khóa 12, 13 vào các tỉnh Tây Nguyên và miền Trung. Tháng 11/1976, Trung tâm kết hợp đào tạo, nghiên cứu và thực hành khoa học kỹ thuật thủy lợi tại Trung Bộ (sau gọi tắt là Trung tâm ĐH2) được thành lập theo Quyết định số 1745- QĐ/TC ngày 24/11/1976 của Bộ trưởng Bộ Thủy lợi, là tiền thân của Viện Đào tạo và Khoa học ứng dụng miền Trung hiện nay. Thầy trò có mặt khắp các vùng Tây Nguyên, Trung Bộ, Nam Bộ. Không ngại gian khổ, hy sinh, đoàn đã giúp đỡ các địa phương khảo sát, thiết kế, thi công hàng chục công trình. Có thể kể đến các công trình mang dấu ấn của thầy và trò nhà trường như hồ Tuyền Lâm (Lâm Đồng), Cà Giây (Thuận Hải). Nhờ sự hướng dẫn trực tiếp của đội ngũ giảng viên, nhiều kỹ sư mới ra trường đã nhanh chóng trưởng thành từ thực tiễn. Những năm tiếp theo các sinh viên năm cuối khóa 14, 15 tiếp tục tham gia các đoàn vừa học tập vừa phục vụ sản xuất và làm đồ án tốt nghiệp. Phong trào “Ba kết hợp”: đào tạo, nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất đã thành công ngay từ những ngày đất nước thống nhất, tồn tại và phát triển cho tới ngày nay. Đánh giá sự thành công của mô hình “Ba kết hợp”, năm 1982, cố GS. Nguyễn Đình Tứ, nguyên Bộ trưởng Bộ Đại học và THCN, đã nói: “Đây là mô hình ba kết hợp thành công nhất, nhưng lại là mô hình duy nhất mà chỉ có trường Đại học Thủy lợi thực hiện ngay từ đầu giải phóng, tồn tại và phát triển cho tới tận bây giờ”. Sự sáng tạo độc đáo này đã góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, mở rộng địa bàn đào tạo của Trường trong cả nước và là sợi dây nối liền Nhà trường với các địa phương, là cơ sở để Trường mở rộng địa bàn đào tạo.

    Đây là thời kỳ nhà trường phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu. Bên cạnh việc mở rộng địa bàn trên phạm vi cả nước, Nhà trường bắt đầu thực hiện những cải cách trong đào tạo bậc Đại học.

    Nghị quyết 14/NQ-TW về cải cách giáo dục và Nghị quyết 37/NQ-TW về chính sách khoa học kỹ thuật đã được nhà trường cụ thể hóa và từng bước khẳng định, vai trò của nhà trường không chỉ ở vị trí hàng đầu trong sự nghiệp đào tạo cán bộ kỹ thuật thủy lợi trong phạm vi cả nước mà cả trong lĩnh vực mũi nhọn nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất.

    1. Công tác đào tạo

    Những năm đầu của thập kỷ 80, Trường đã có một bước chuyển hướng đúng đắn trong đào tạo. Nhận thức đầy đủ công tác thủy lợi với ý nghĩa là một lĩnh vực kỹ thuật “tài nguyên nước”, nhà trường đã xây dựng ngành nghề và chương trình đào tạo theo diện rộng phủ kín kỹ thuật tài nguyên nước bao gồm: Công trình Thủy lợi; Thủy văn và Kỹ thuật môi trường; Thủy năng và trạm thủy điện; Thủy nông và Cải tạo đất; Cơ khí thủy lợi; Kinh tế thủy lợi. Nhiều ngành mới đã được Bộ Giáo dục Đại học và Trung học chuyên nghiệp phê duyệt và cho phép đào tạo. Trong giai đoạn này, nhà trường đã tuyển sinh khoảng từ 200 đến 500 sinh viên/năm. Để đáp ứng nhu cầu xây dựng đất nước sau chiến tranh, hệ đào tạo tại chức được quan tâm và tạo điều kiện phát triển. Nhà trường đã xây dựng được chương trình đào tạo tại chức bám sát yêu cầu của thực tiễn sản xuất. Số lượng các lớp tại chức tăng lên nhanh chóng cả về quy mô và số lượng, địa bàn được mở rộng tới nhiều vùng của đất nước. Ngoài ra, trường còn mở các lớp bồi dưỡng sau đại học về cơ học công trình, kỹ thuật và tổ chức thi công, chỉnh trị sông, thủy lực, thủy văn, quản lý kinh tế… ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1979, Trường Đại học Thủy lợi được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ với 06 chuyên ngành: Thủy văn lục địa và nguồn nước; Thủy lực học, thủy văn công trình và thủy lợi; Cải tạo đất và thủy nông; Kết cấu xây dựng; Xây dựng công trình thủy; Cơ học đất, cơ học nền móng, công trình ngầm. Quy mô đào tạo sau đại học được mở rộng, chương trình hệ thống hơn, giai đoạn này chủ yếu đào tạo phó tiến sĩ.

    2. Công tác khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế

    Công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất được nhà trường rất quan tâm, có nhiều đóng góp cho sản xuất. Nhiều đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, chương trình trọng điểm quốc gia như: Một số vấn đề về thủy văn – thủy lực đồng bằng sông Cửu Long; Đánh giá tiềm năng thủy điện các sông suối ở Việt Nam; Đánh giá nguồn nước mặt lãnh thổ Việt Nam và các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng Sông Cửu Long. Về quan hệ quốc tế, ngoài các nước Xã hội chủ nghĩa, nhà trường đã mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức và các nước khác trên thế giới, tạo dựng được mối quan hệ với một số tổ chức quốc tế như ESCAP, với CHND Lào, giúp đỡ nước CHND Lào đào tạo mỗi khóa 30 sinh viên và cử chuyên gia giúp đỡ nước bạn lập quy hoạch và chương trình đào tạo.

    3. Công tác tổ chức cán bộ

    Theo yêu cầu phát triển của công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, trường thành lập Khoa Bồi dưỡng năm 1979, sau đó được đổi tên thành Khoa Kinh tế thủy lợi năm 1984. Năm 1985, Khoa Thi công Thiết bị và Khoa Thủy công Thủy điện được kiện toàn hành hai khoa mới là Khoa Công trình Thủy lợi và Khoa Thủy điện – Máy Thủy lợi. Trong đó, Khoa Công trình Thủy lợi phụ trách chuyên ngành Thi công và chuyên ngành Thủy công, Khoa Thủy điện – Máy Thủy lợi phụ trách chuyên ngành Thủy điện và chuyên ngành Thiết bị. Nhiều giảng viên của Trường đã được cử đi đào tạo về chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ ở cả trong và ngoài nước. Ngoài nhiệm vụ chính là giảng dạy, giảng viên được cử xuống các địa phương, tư vấn, chuyển giao công nghệ, giúp khắc phục nhanh hậu quả sau chiến tranh, sớm đưa cuộc sống người dân vào ổn định. Trong giai đoạn này, có nhiều giảng viên của trường đã bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ kỹ thuật ngay tại trường với sản phẩm là các công trình nghiên cứu và phục vụ sản xuất, góp phần nâng cao rõ rệt chất lượng đội ngũ giảng viên, đồng thời đưa tổng số giảng viên của Nhà trường có trình độ Tiến sĩ, Phó Tiến sĩ lên hơn 50 người. Năm 1980, trong đợt phong hàm đầu tiên, Trường đã có 01 giảng viên được Nhà nước phong tặng chức danh Giáo sư, 05 giảng viên được phong Phó Giáo sư. Đến năm 1984, nhà trường có thêm 20 giảng viên được phong Phó Giáo sư.

    4. Công tác xây dựng cơ sở vật chất

    Sau thời gian sơ tán trở về, nhà trường đã bắt tay vào xây dựng lại cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy, học tập: 30 giảng đường, 11 phòng thí nghiệm, 01 phòng thí nghiệm chuyên đề về địa kỹ thuật, 01 trạm thí nghiệm tưới tiêu, 01 xưởng cơ khí, 01 xưởng in và thư viện (với 15 vạn cuốn giáo trình, sách tham khảo), các cơ sở thực tập, nghiên cứu và thực nghiệm, một số trại sản xuất; cải tạo nâng cấp khu bếp cán bộ giáo viên thành hội trường lớn (Hội trường T20)…; xây dựng thêm nhà cấp 4 để giải quyết tạm thời vấn đề nhà ở cho cán bộ, giảng viên, đặc biệt xây dựng và đưa vào sử dụng khu nhà ở 5 tầng là nhà số 12.

    5. Công tác thi đua, khen thưởng

    Phong trào thi đua dạy tốt, phục vụ tốt và học tốt được duy trì trở thành nề nếp hàng năm. Nhà trường đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì (1978), Huân chương Lao động hạng Nhất (1984); 9 Bộ môn đã được trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba; nhiều cá nhân được tặng Bằng khen của Chính phủ, các Tỉnh, Bộ trưởng các Bộ, Tổng Công đoàn, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Nhiều tập thể giảng viên và sinh viên được công nhận là Tổ đội lao động Xã hội chủ nghĩa. Những nỗ lực đó đã tạo nên sự chuyển biến về chất trong đào tạo, góp phần định hướng vững chắc cho việc đào tạo về lĩnh vực kỹ thuật phát triển tài nguyên nước.

  • Giai đoạn 1965 – 1975: Vươn lên trong điều kiện chiến tranh ác liệt

    Giai đoạn 1965 – 1975: Vươn lên trong điều kiện chiến tranh ác liệt

    Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 88 về chuyển hướng công tác giáo dục từ điều kiện thời bình sang thời chiến, từ tập trung đào tạo ở Hà Nội và các thành phố lớn sang sơ tán về các địa phương. Tháng 6/1965, Trường tổ chức một cuộc di chuyển lớn mang tính lịch sử lên vùng núi xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang). Thầy, trò và cán bộ công nhân viên vận chuyển hàng trăm tấn thiết bị, tài liệu thư viện, bàn ghế máy móc thí nghiệm đến nơi sơ tán; tự khai thác tranh, tre, nứa, bạt núi làm nhà ở, giảng đường, phòng thí nghiệm. Cơ sở làm việc và học tập nằm rải rác trong rừng sâu từ Mương Làng, Đồng Man, Ba Gò, Suối Mỡ, Đá Vách, Dùm đến Bắc Máng, Bãi Viện, Ao Sen…địa bàn trải dài hàng chục cây số. Tại những nơi sinh viên sơ tán, được sự đùm bọc của nhân dân địa phương, toàn thể cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên đã nhanh chóng ổn định học tập, công tác. Trong điều kiện khó khăn, bom đạn chiến tranh ác liệt, tình bạn bè, tình thầy trò gần gũi, thấm đượm tình người với phong trào “Ba cùng” (thầy và trò cùng ăn, cùng ở, cùng học). Công việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu và phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu không lúc nào gián đoạn. Những năm tháng chiến tranh với bao vất vả, gian khó nhưng thầy và trò luôn tràn đầy lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng. Những buổi học diễn ra dưới tiếng súng, tiếng gầm rú của máy bay, những đợt đi thực tập qua những con đường khói bom của giặc, những đêm luyện tập hành quân “Ba sẵn sàng”.

    Tại nơi sơ tán, Nhà trường đã chiêu sinh các khóa 8, 9, 10, 11 và làm lễ tốt nghiệp Đại học cho các khóa 5, 6, 7 với gần 1000 sinh viên. Những kỹ sư thủy lợi tốt nghiệp tại đây đã có mặt trên khắp mọi miền của Tổ quốc, đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng ngành thủy lợi nói riêng, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước nói chung. Rất nhiều trong số họ sau này đã trở thành nhà khoa học, nhà giáo, nhà quản lý giỏi của ngành. Họ đã trưởng thành từ những ngày gian khó này. Năm 1969, 1970 các lớp lần lượt trở về Hà Nội.

    Năm 1970, 1971 theo tiếng gọi của Tổ quốc “Xếp bút nghiên lên đường chiến đấu”, hàng trăm cán bộ, giảng viên và sinh viên đã lên đường nhập ngũ; hầu hết nam sinh viên có đủ sức khỏe ở các khóa 8, 9, 10, 11 đã lên đường chiến đấu trên mọi chiến trường. Số sinh viên còn lại được dồn lớp tiếp tục học tập.

    Ổn định học tập được một thời gian ngắn, năm 1972 Đế quốc Mỹ ném bom trở lại miền Bắc, trường lại một lần nữa sơ tán về vùng nông thôn Hiệp Hòa, Việt Yên, Hà Bắc lần thứ hai. Mười năm khó khăn đó lại chính là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nhà trường.

    1. Công tác đào tạo

    Bắt đầu từ năm 1965, số lượng sinh viên được tuyển tăng 300–400 sinh viên mỗi khóa. Ngoài 3 ngành đã mở, năm 1965 trường mở ngành Thủy điện (khoá 7), năm 1966 mở ngành Cơ khí thủy lợi (khoá 8), năm 1967 mở ngành Thi công (khoá 9). Hình thức đào tạo tại chức được mở rộng, mỗi khóa đào tạo khoảng 100 sinh viên. Năm 1968, lớp sau đại học đầu tiên về chuyên đề kết cấu được mở với khoảng 60 học viên.

    2. Công tác khoa học công nghệ

    Sau hơn ba năm học tập, sinh viên tỏa về các địa phương, vừa học kỹ thuật chuyên ngành, vừa lập quy hoạch, thiết kế thi công các công trình theo tinh thần Nghị quyết 142 của Bộ Chính trị và Chỉ thị 222/TTg của Thủ tướng chính phủ “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tế”. Công tác nghiên cứu khoa học dần đi vào nề nếp. Giai đoạn này, trường đã tổ chức được 3 Hội nghị khoa học. Tháng 10/1966, Hội nghị tổng kết khoa học lần thứ nhất được tổ chức có 46 báo cáo. Các vấn đề nghiên cứu tập trung gắn với phục vụ sản xuất và đào tạo. Từ đó, hội nghị khoa học được tổ chức thường xuyên 2 năm một lần. Năm 1968, do nhận thức được vai trò của công tác khoa học – công nghệ đối với đào tạo và sản xuất Phòng Quản lý Khoa học được chính thức thành lập theo Quyết định số 304/TL ngày 17/05/1968.

    3. Công tác tổ chức cán bộ

    Để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, nhà trường đã chú trọng việc xây dựng và thành lập các khoa, bộ môn. Năm 1996 thành lập hai khoa đầu tiên là Khoa Thủy công Thủy điện và Khoa Thủy nông. Năm 1969, thành lập Khoa Thủy Văn và chuyên ngành Thi công từ Khoa Thủy công Thủy điện được tách ra thành một khoa mới gọi tên là Khoa Thi công Thiết bị. Nhiều giảng viên được tuyển dụng và các giảng viên trẻ được cử đi học tập ở nước ngoài. Số lượng giảng viên từ thời kỳ đầu chưa tới 100 người thì giai đoạn này liên tục bổ sung đạt tới 200 giảng viên trong đó có 30 tiến sĩ, phó tiến sĩ.

    Nhiều cán bộ, giảng viên được tôi luyện trong điều kiện khó khăn của chiến tranh đã trưởng thành, khẳng định được năng lực chuyên môn và năng lực quản lý, được Nhà trường tin tưởng giao trách nhiệm lãnh đạo các khoa, bộ môn và các phòng chức năng.

    4. Xây dựng cơ sở vật chất

    Trong hoàn cảnh khó khăn do chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, nhà trường đã tập trung xây dựng cơ sở ở nơi sơ tán cho cán bộ và sinh viên. Khi trở về Hà Nội, nhà trường đã biết tự phát huy nội lực, tập trung khôi phục, sửa chữa nâng cấp và xây dựng thêm cơ sở vật chất như giảng đường cấp 4, nhà ở cấp 4 cho sinh viên tại chức, xây dựng nhà ở cấp 4 cho cán bộ giảng viên và nhà trẻ mẫu giáo phục vụ con em cán bộ giáo viên nhà trường; sửa chữa nâng cấp khu nhà ăn sinh viên; cải tạo nâng cấp đường nội bộ.

    5. Công tác tham gia chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc

    Cùng với nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất, trường còn tích cực tham gia cuộc chống Mỹ cứu nước. Trong không khí sôi động, hào hùng của cả nước, gần 500 cán bộ, giảng viên, sinh viên thực hiện phong trào “Ba sẵn sàng”, “Gác bút nghiên lên đường nhập ngũ” với quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Năm 1972, cán bộ giảng viên của Trường tham gia trực chiến bắn máy bay tầm thấp trên sân thượng nhà hành chính của trường. Nhiều chiến sĩ xuất thân từ Trường Đại học Thủy lợi lập công xuất sắc, đã trở thành anh hùng, chiến sĩ thi đua, dũng sĩ diệt Mỹ và nêu tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng như anh hùng Trần Văn Xuân lớp 8Đ. Nhiều người đã hy sinh hoặc để lại một phần xương máu nơi chiến trường vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tổng kết thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cán bộ, giảng viên và sinh viên Trường Đại học Thuỷ lợi đã được Nhà nước trao tặng 200 Huân chương kháng chiến các hạng (gồm 27 hạng Nhất, 65 hạng Nhì, 108 hạng Ba); 181 Huy chương kháng chiến các hạng (26 hạng Nhất, 155 hạng Nhì); 18 Huân chương chiến công, 5 Huân chương Quân kỳ quyết thắng, 35 Huân chương Giải phóng và hàng trăm Huân chương Chiến sĩ vẻ vang các hạng.

  • Giai đoạn 1959 – 1964: Sự ra đời của Nhà trường và những bước đi ban đầu

    Giai đoạn 1959 – 1964: Sự ra đời của Nhà trường và những bước đi ban đầu

    Tiền thân của Trường Đại học Thủy lợi là Trường Cao đẳng Giao thông công chính, được thành lập trong hoàn cảnh kháng chiến chống Pháp năm 1947. Thời điểm này, để đáp ứng yêu cầu phục vụ cho sản xuất tự túc trong vùng chiến khu, lớp học đầu tiên về thủy nông đã được mở ra. Ban đầu chỉ có 20 học sinh và một số giáo viên. Nơi ăn, ở, học tập đều do nhân dân các vùng tự do như Liên khu IV, Liên khu III Việt Bắc giúp đỡ. Cho đến ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, Trường Cao đẳng Giao thông công chính đã đào tạo đến khóa 6 về thủy lợi. Số học sinh đang học thủy lợi tại trường lúc này khoảng 200 người. Tháng 5/1956, Trường Cao đẳng Giao thông công chính tách ra làm 2: (1) Trường Cao đẳng Giao thông và (2) Trường Trung cấp Kiến trúc Thủy lợi. Số học sinh thủy lợi của trường Trung cấp khoảng 200 người được 2 chuyên gia Trung Quốc và một số cán bộ của ta trực tiếp giảng dạy. Đến tháng 8/1958, do nhu cầu phát triển của ngành thủy lợi và kiến trúc, Trường Trung cấp Thủy lợi tách ra khỏi Trường Trung cấp Kiến trúc thủy lợi. Lúc này trường có trên 300 học sinh, 80 cán bộ, giáo viên và một số chuyên gia Trung Quốc giúp đỡ.

    Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và ngành thủy lợi nói riêng, Bộ Thủy lợi chủ trương thành lập Học viện Thủy lợi trên cơ sở Trường Trung cấp Thủy lợi. Tháng 1/1959, Bộ Thủy lợi trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ “Quy hoạch xây dựng Học viện Thủy lợi”. Tháng 7/1959, Ban Bí thư Trung ương Đảng thông qua Quy hoạch xây dựng Học viện Thuỷ lợi trên khu đất rộng 26ha thuộc thôn Khương Thượng và thôn Thái Hà, Hà Nội.

    Học viện Thủy lợi được thành lập đã mở một thời kỳ mới của Nhà trường. Trong quá trình xây dựng, Học viện lấy Trường Trung cấp Thủy lợi làm cơ sở và bắt đầu chuyển về khu vực Đống Đa, vừa học vừa tham gia xây dựng.

    Năm 1959, lớp chuyên tu đại học khóa 1 của nhà trường được chiêu sinh và khai giảng với 40 sinh viên. Khóa 1 chính quy của trường được tuyển và đào tạo 2 năm đầu tại trường Đại học Bách khoa. Sau đó, chuyển 80 sinh viên từ trường Đại học Bách khoa sang đào tạo tại trường.

    Cuối năm 1960, công tác đào tạo bắt đầu được tiến hành tại cơ sở chính của nhà trường, tuy nhiên trong điều kiện cơ sở vật chất tạm thời. Trong hoàn cảnh đó, Đảng ủy, Ban Giám hiệu đề ra chủ trương nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất và phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên. Năm 1961, dù mới được thành lập nhưng ngay sau khi Đảng và Nhà nước có chủ trương đào tạo hệ đại học tại chức, nhà trường đã quyết tâm xây dựng chương trình đào tạo hệ tại chức và mở được hai khóa đại học tại chức ban đêm.

    Từ khóa 1 đến khóa 4, đào tạo chủ yếu theo chương trình của Trung Quốc và Liên Xô (cũ) với thời gian đào tạo là 4 năm.

    Năm học 1961-1962, nhà trường chiêu sinh lớp Trung cấp Điện và cũng từ thời gian này nhà trường có tên gọi “Học viện Thủy lợi và Điện lực”.

    Tháng 6/1961, lớp Đại học chuyên tu khóa 1 tốt nghiệp; tháng 7/1963, lớp đại học chính quy khóa 1 (80 sinh viên Trường Đại học Bách khoa chuyển sang) tốt nghiệp, đây là những kỹ sư thủy lợi đầu tiên của nhà trường. Kể từ đó, hàng năm, những lớp kỹ sư được đào tạo dưới mái Trường Đại học Thủy lợi kế tiếp nhau toả đi khắp mọi miền Tổ quốc.

    Đầu năm 1963, do nhu cầu nghiên cứu khoa học, Bộ Thủy lợi ra quyết định số 296 TLQĐ ngày 9/5/1963 tách Học viện Thủy lợi – Điện lực thành hai đơn vị: (1) Trường Đại học và Trung cấp Thuỷ lợi; (2) Viện nghiên cứu khoa học Thủy Lợi. Cũng trong năm này, lớp trung cấp Điện chuyển về Bộ Công nghiệp quản lý. Do đó, Trường chỉ đào tạo đại học và trung cấp thủy lợi.

    Năm 1964, Bộ Thủy lợi đã ra quyết định số 351/TL/QĐ ngày 28/4/1964 tách Trường Đại học và Trung cấp Thủy lợi thành hai đơn vị: (1) Trường Đại học Thủy lợi và (2) Trường Trung cấp Thủy lợi.

    Thời kỳ đầu phát triển, nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường là xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, xây dựng cơ sở vật chất. Những năm đầu, trước chủ trương của Đảng và Nhà nước yêu cầu là phải “rút ngắn thời gian, bảo đảm chất lượng” để đào tạo nhân lực kịp thời phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Chương trình đào tạo được xây dựng rút ngắn thời gian với các hệ đào tạo. Từ khóa 5 trở đi, nhà trường mới bắt đầu chương trình đào tạo 5 năm với đại học chính quy. Quy mô tuyển sinh cũng tăng dần, từ 40 sinh viên thủy lợi chuyên tu đại học năm 1959, đến năm 1964, trường đã tuyển 300 sinh viên thủy lợi hệ chính quy khóa 6. Chuyên ngành đào tạo được mở rộng, từ lúc ban đầu chỉ đào tạo cán bộ thủy nông tổng hợp, sau đã đào tạo cán bộ thủy lợi trong các ngành Thủy nông, Thủy công, Địa chất, Trắc địa, Thi công và Thủy văn của đại học và trung cấp.

    Đội ngũ giảng viên những ngày đầu chỉ có 20 người, trong đó có 10 giảng viên là các kỹ sư mới tốt nghiệp Trường Đại học Bách khoa, 07 giảng viên được Nhà nước cử đi đào tạo ở Trung Quốc trở về và 03 giảng viên các môn khoa học cơ bản là những cử nhân tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm. Trong giai đoạn này, thường xuyên có từ 6 đến 8 chuyên gia do nước bạn Trung Quốc cử sang giúp đỡ về chuyên môn cho các giảng viên của nhà trường. Từ đội ngũ giảng viên rất hạn chế ban đầu, với sự quan tâm xây dựng đội ngũ của tập thể lãnh đạo Nhà trường, sau 5 năm thành lập, Trường đã có khoảng 70 giảng viên được biên chế ở 13 bộ môn. Mỗi bộ môn phụ trách nhiều môn học. Hầu hết các bộ môn có nề nếp quản lý tốt và tích cực tham gia phong trào thi đua dạy tốt, học tốt.

    Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, với mục tiêu đào tạo phải gắn liền với nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất, nhà trường đã thành lập các phòng thí nghiệm Sức bền vật liệu, Thuỷ công, Thuỷ lực, Thuỷ điện, Cơ đất. Trang thiết bị thí nghiệm của Liên Xô và Trung Quốc được lắp đặt và đưa vào sử dụng, kịp thời phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học. Cũng từ đây, các giảng viên của Nhà trường đã có những đề tài nghiên cứu khoa học thiết thực, phục vụ giảng dạy và ứng dụng vào thực tế sản xuất.

    Năm 1962, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cũng như sự giúp đỡ của Chính phủ và nhân dân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cơ sở của Trường Đại học Thủy lợi được khánh thành gồm khu làm việc, giảng đường, ký túc xá, phòng thí nghiệm trên nền đất hiện nay tại số 175 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội. Từ một bộ phận của Học viện Thủy lợi tách ra, trường đã mang vóc dáng trường đại học chuyên ngành đầu tiên của nước ta. Tuy kinh nghiệm còn non trẻ, nhưng nhờ sự tâm huyết, yêu ngành, yêu nghề, và trên hết là ý chí vượt khó vươn lên mạnh mẽ, thầy và trò cùng toàn thể đội ngũ cán bộ, công nhân viên nhà trường đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của trường giai đoạn sau này.

    Với nỗ lực trong việc đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy và sự đóng góp hiệu quả cho phục vụ sản xuất, năm 1961, nhà trường đã được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

  • Tân sinh viên K63 với tuần sinh hoạt công dân – sinh viên đầu khóa học

    Tân sinh viên K63 với tuần sinh hoạt công dân – sinh viên đầu khóa học

    Hôm nay (4/10), tại Trường Đại học Thủy lợi diễn ra buổi Khai mạc tuần sinh hoạt công dân – sinh viên đầu khóa với sự tham dự của khoảng 4.000 tân sinh viên K63.

    Năm nay, tuần đầu khóa của sinh viên diễn ra đặc biệt hơn do lần đầu tiên được tổ chức thông qua hình thức trực tuyến trên Zoom Cloud Meetings.

    GS. TS Nguyễn Trung Việt – Phó Hiệu trưởng phát biểu khai mạc trực tuyến cùng tân sinh viên

    Phát biểu khai mạc và giảng bài đầu tiên trong tuần đầu khóa, GS.TS Nguyễn Trung Việt – Phó hiệu trưởng đã giới thiệu đến các tân sinh viên K63 về truyền thống và các chiến lược phát triển của Nhà trường trong chặng đường 62 năm  xây dựng – phát triển.

    GS.TS Nguyễn Trung Việt giảng bài đầu tiên cho tân sinh viên

    Trường Đại học Thuỷ lợi là trường đại học công lập có sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ tiên tiến trong các ngành khoa học, kỹ thuật, kinh tế và quản lý, đặc biệt trong lĩnh vực thuỷ lợi, môi trường, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai; góp phần thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững Tổ quốc.

    Trường Đại học Thủy lợi cơ bản đã trở thành một trường đại học đa ngành, trong đó có nhiều ngành đào tạo mới, bắt kịp nhu cầu xã hội như: Trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu; Thương mại điện tử; Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng; Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành…

    Môi trường học tập hiện đại

    Cũng tại tuần lễ này, sinh viên K63 còn được đại diện các đơn vị chức năng trong trường giới thiệu Luật giáo dục đại học; Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Hướng dẫn cách thức đăng ký môn học; Giới thiệu quy chế đào tạo, công tác sinh viên; Giới thiệu ngành nghề, cơ hội việc làm trong và ngoài nước; Công tác thư viện; Một số quy định về an ninh, an toàn trên không gian mạng…  

    Đây cũng là dịp để các em sinh viên khóa mới tìm hiểu về các Câu lạc bộ sinh viên, các hoạt động thường niên của tổ chức Đoàn; bồi đắp thêm truyền thống và lý tưởng cho các em.

    Đại diện PA03 – Công an TP Hà Nội chia sẻ một số quy định về an ninh, an toàn trên không gian mạng

    2021 cũng là năm thứ 5 liên tiếp Nhà trường duy trì tổ chức cho tân sinh viên tham quan các khu vực trong trường như các đơn vị hành chính, khu giảng đường, phòng thí nghiệm, khu giáo dục thể chất… Tuy nhiên, điểm đặc biệt là “tour” tham quan năm nay sẽ diễn ra online qua sự dẫn dắt của Th.S Đặng Hương Giang – Trưởng Phòng Chính trị và Công tác sinh viên; Th.S Vũ Văn Trung – Phó Giám đốc Trung tâm GDQP và AN và sinh viên Nguyễn Phương Trinh – lớp 59CTN, Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước.

    Tân sinh viên được hướng dẫn tham quan trường “online”

    Lễ khai giảng năm học mới 2021-2022 sẽ được tổ chức long trọng vào ngày 11/10/2021 và truyền trực tiếp trên các nền tảng số như Zoom, Youtube, Facebook…

    Xem kế hoạch tuần đầu khóa: TẠI ĐÂY

    Bích Việt

  • Lộ diện nhà vô địch cuộc thi “Sinh viên Thủy lợi với ý tưởng khởi nghiệp” năm 2021

    Lộ diện nhà vô địch cuộc thi “Sinh viên Thủy lợi với ý tưởng khởi nghiệp” năm 2021

    Nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và trang bị các kiến thức, kỹ năng về khởi nghiệp cho sinh viên trong thời gian học tập tại trường; khuyến khích sinh viên sáng tạo, hình thành và hiện thực hóa các ý tưởng, các dự án khởi nghiệp góp phần tạo việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp, mùa 2 của Cuộc thi “Sinh viên Thủy lợi với ý tưởng khởi nghiệp” đã diễn ra thành công tốt đẹp.

    Phát động từ đầu năm 2021, dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, cuộc thi đã chọn được 5 ý tưởng bước vào vòng Chung kết hôm nay. Đó là:

    (1) – MS04: Nhà rửa xe máy Flash Wash của nhóm sinh viên Khoa Điện – Điện tử

    (2) – MS07: Hệ thống PFE của Khoa Điện – Điện tử

    (3) – MS09: Phần mềm Vergate của sinh viên Khoa Công trình

    (4) – MS17: Máy rửa tay sát khuẩn tự động Trytech của nhóm sinh viên Khoa Cơ khí

    (5) – MS21: Hệ thống kiểm soát xe ô tô vào/ra công nghệ RFDI của nhóm sinh viên Khoa CNTT

    Tham dự vòng Chung kết có đồng chí Trần Quang Hưng, Phó Bí thư Thành đoàn Hà Nội. Về phía doanh nghiệp có Ông Steve Bùi, Tổng giám đốc Delta E&C, Chủ tịch quỹ Steve Bùi và những người bạn; Ông Nguyễn Đăng – Tổng thư ký Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội; Bà Đinh Thị Thúy – Tổng giám đốc công ty MISA; Ông Đỗ Mạnh Hùng, Giám đốc Công ty Novaedu; Ông Nguyễn Thành Chung, Giám đốc công ty CP AZ. Về phía khách mời có Ông Nguyễn Minh Đức – Tổng biên tập báo Kinh tế và Đô thi; Nhà báo Bùi Thị Lan Anh – Phó trưởng phòng Văn hoá – Giải trí, Báo Điện tử VOV, Đài Tiếng nói Việt Nam.

    Về phía Trường Đại học Thủy lợi có GS.TS Nguyễn Trung Việt – Phó Hiệu trưởng, Trưởng ban tổ chức cuộc thi cùng đại diện các đơn vị trong trường. Đặc biệt là sự hiện diện của Ban cố vấn cuộc thi, các thầy cô hướng dẫn sinh viên dự thi khởi nghiệp và các nhóm sinh viên dự thi vòng chung  kết trực tuyến trên Zoom Cloud Meetings.

    Vòng Chung kết trực tiếp tại P225/A2 và trực tuyến qua Zoom Cloud Meetings

    Phát biểu tại cuộc thi, GS.TS Nguyễn Trung Việt – Phó Hiệu trưởng Nhà trường – Trưởng ban tổ chức cuộc thi bày tỏ vui mừng khi thấy được sự nỗ lực và cố gắng hoàn thiện mình của chính các em sinh viên trong suốt hành trình của cuộc thi.

    Giáo sư cũng gửi lời cảm ơn đến các Mentor, các doanh nghiệp, các thầy cô hướng dẫn đã luôn đồng hành cùng với Nhà trường, quan tâm, hỗ trợ các em sinh viên hình thành các ý tưởng khởi nghiệp.

    GS.TS Nguyễn Trung Việt – Phó Hiệu trưởng phát biểu

    Phát biểu chia sẻ, Ông Steve Bùi – Tổng giám đốc Delta E&C – Chủ tịch quỹ Steve Bùi và những người bạn, Phó trưởng ban Giám khảo thể hiện bất ngờ trước sự đa dạng và sáng tạo đến từ ý tưởng của các nhóm dự thi. Dù có những khó khăn nhất định, song các em đã làm rất tốt và mang đến những sản phẩm khởi nghiệp có tính tác động xã hội cao và đậm màu sắc của Nhà trường.

    Ông Steve Bùi phát biểu

    Sau hơn 3 giờ làm việc nghiêm túc, vòng Chung kết đã chọn ra nhà vô địch mùa 2, đó là đề tài “Nhà rửa xe máy Flash Wash” – MS04 của nhóm sinh viên Khoa Điện – Điện tử. Giải Nhì thuộc về nhóm sinh viên Khoa Công trình với đề tài “Phần mềm Vergate” – MS09 của sinh viên Khoa Công trình. Ba nhóm còn lại đồng hạng Giải Ba chung cuộc.

    Đặc biệt, hai đề tài xuất sắc nhất hôm nay sẽ được Nhà trường cử tham gia Cuộc thi  sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp cấp Bộ.

    Theo đánh giá từ phía Ban giám khảo, các dự án bước tiếp vào vòng thi cấp Bộ cần hoàn thiện và nghiên cứu kỹ hơn về tính khả thi của giải pháp, ước lượng số khách hàng tiềm năng thông qua khảo sát và dự kiến kế hoạch, lộ trình chiếm lĩnh thị trường trong từng giai đoạn cụ thể. Cùng với đó là chi tiết các hạng mục như doanh thu, chi phí, lợi nhuận nhằm nâng cao tính cạnh tranh.

    Xin chúc mừng các nhóm sinh viên đến từ Khoa Điện – Điện tử, Khoa Công trình tiếp tục tranh tài tại sân chơi lớn hơn – vòng thi cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    Một số hình ảnh vòng Chung kết:

    Các thành viên Ban giám khảo tại Chung kết cuộc thi

    Các nhóm sinh viên báo cáo ý tưởng

    Xem thêm video chung kết: https://m.kinhtedothi.vn/sinh-vien-thuy-loi-voi-y-tuong-khoi-nghiep-2021-436785.html?fbclid=IwAR2fEeUL-PlFRhAn6S_bFbxMH2McerEDT_MRvQFlkCp_1s6-zPQ8b2iNTas

    Bích Việt

  • Trực tiếp lễ khai giảng năm học 2021-2022

    Trực tiếp lễ khai giảng năm học 2021-2022

    Trực tiếp tại Hội trường T45 và online (tường thuật trực tiếp trên YouTube, Facebook, Webinar và Zoom) 

    XEM TRỰC TIẾP TẠI ĐÂY (nhấp vào ảnh)

    ​

  • Thông báo tuyển sinh đợt bổ sung

    Thông báo tuyển sinh đợt bổ sung

    ăn cứ Thông tư số 09/2020/TT-BGDĐT ngày 7 tháng 5 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tuyển sinh trình độ đại học, tuyển sinh trình độ cao đẳng ngành giáo dục mầm non;

    Căn cứ Công văn số 3190/BGDĐT-GDĐH ngày 30 tháng 7 năm 2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác tuyển sinh năm 2021 trong tình hình dịch COVID-19;

    Căn cứ Đề án số 306/ĐA-ĐHTL ngày 09 tháng 04 năm 2021 của Trường Đại học Thủy lợi về Đề án tuyển sinh đại học 2021 – TLA;

    Trường Đại học Thủy lợi thông báo xét tuyển Đại học hệ chính quy đợt 2 năm 2021. Đối tượng xét tuyển: Những thí sinh có đủ điều kiện tham gia xét tuyển theo điều 6 của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hiện hành.

    Chi tiết thông báo: TẠI ĐÂY

  • Cuộc thi “Sinh viên Thủy lợi với ý tưởng khởi nghiệp” lần đầu tiên có sự góp mặt của tân sinh viên Khóa 63

    Cuộc thi “Sinh viên Thủy lợi với ý tưởng khởi nghiệp” lần đầu tiên có sự góp mặt của tân sinh viên Khóa 63

    Đến từ thành phố Yên Bái, từng là cựu học sinh Trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành, Khánh Linh trở thành tân sinh viên Khóa 63 của Trường Đại học Thủy lợi theo diện xét tuyển thẳng.

    Khánh Linh cho biết, gia đình luôn ủng hộ những quyết định của em trong học tập cũng như trong cuộc sống và bản thân em cũng có những định hướng nhất định cho chính mình. “Em thích học kinh tế và muốn trở thành một nữ doanh nhân trong tương lai nên đã chọn theo học ngành quản trị kinh doanh của Trường Đại học Thủy lợi.” – Linh nói.

    Có thể nói, tuyển thẳng là cơ hội “vàng” để tân sinh viên K63 đến với cuộc thi Sinh viên Thủy lợi với ý tưởng khởi nghiệp” năm 2021.

    Theo TS Nguyễn Thị Thế Nguyên – Giảng viên hướng dẫn nhóm Green Generation – MS22 với đề tài “Văn phòng phẩm và quà tặng từ nông nghiệp”: lần đầu tiên nhóm có sự kết hợp đa dạng của sinh viên Khoa Hóa và Môi trường và tân sinh viên Khoa Kinh tế và Quản lý.

    Cô Nguyên cũng cho biết: việc đa dạng thành phần nhóm sinh viên tham dự khởi nghiệp giúp các em phát huy được năng lực chuyên môn trong lĩnh vực mình học. Cụ thể như Linh – là một tân sinh viên trẻ và nhiều ý tưởng được giao phụ trách thiết kế mẫu sản phẩm, marketing cho dự án…

    Dù chỉ dừng lại tại Vòng Bán kết, song với Khánh Linh đó là thời gian thực sự ý nghĩa khi được trải nghiệm và hiểu rõ hơn về ngành mình học. “Điều mà em có được sau khi tham dự Cuộc thi Sinh viên Thủy lợi với ý tưởng khởi nghiệp năm 2021 là sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô và anh chị khóa trên, là sự thấu hiểu với ngành học của mình để định hướng nghề nghiệp trong tương lai” – Linh nói.

    ​

    Hiện tại do ảnh hưởng của dịch COVID 19 nên sinh viên vẫn tiếp tục học tập bằng hình thức online. Khánh Linh chia sẻ mong muốn sẽ sớm được trở lại trường, bước vào một hành trình mới nơi giảng đường đại học và để tiếp tục lưu giữ những kỷ niệm đẹp về quãng thời gian sinh viên tại Trường Đại học Thủy lợi.

    Bích Việt

  • Tìm lời đáp cho câu hỏi “ Liệu một cô gái có phù hợp với ngôi trường Thuỷ Lợi hay không?”

    Tìm lời đáp cho câu hỏi “ Liệu một cô gái có phù hợp với ngôi trường Thuỷ Lợi hay không?”

    Sinh ra và lớn lên tại Hưng Yên trong một gia đình có nền móng về nông nghiệp, bố và mẹ là thành viên của một Hợp tác xã rau củ quả an toàn thuộc huyện Văn Giang – những người cung cấp thực phẩm sạch, rau củ quả đạt chuẩn Vietgap. Cẩm Ly cho biết, hơn ai hết em hiểu rõ Thuỷ lợi góp phần quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Chính vì vậy, em đã tự định hướng cho bản thân để có thể phát triển theo định hướng gia đình cũng như là sở thích của mình.

    Cẩm Ly với nụ cười tỏa nắng

    Ly chia sẻ, sau khi biết mình được tuyển thẳng vào trường em đã có nhiều suy nghĩ, rằng: “ Liệu một cô gái có phù hợp với ngôi trường Thuỷ Lợi hay không?”… Nhưng từ những ngày đầu nhập học em đã biết sự lựa chọn của mình là đúng đắn!

    Bản thân là một cô gái năng động, nên ngay khi còn là học sinh trung học phổ thông Ly đã tham gia rất nhiều hoạt động ngoại khoá, cũng như những cuộc thi. Đặc biệt, Cẩm Ly là cô gái duy nhất của ngôi Trường cấp 3 Nguyễn Công Hoan (tỉnh Hưng Yên) tham gia cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp tỉnh dành cho học sinh THPT. Và may mắn em đã đạt giải trong cuộc thi. Đây cũng chính là bước đệm giúp em là học sinh được tuyển thẳng vào Trường Đại học Thủy lợi.

    Chia sẻ về học tập, nữ sinh cho biết, là một người trẻ, em luôn mong muốn tìm hiểu và khám phá những điều mới lạ để trau dồi vốn kiến thức, đặt ra những mục tiêu lớn cho bản thân để không bị bỏ lại phía sau.

    Ngay từ khi nhập học các tân sinh viên đã được giới thiệu đến những câu lạc bộ phù hợp với sở thích, cũng như là năng khiếu của mình.

    “Mọi người giúp đỡ và đưa ra kinh nghiệm rất nhiều nên em đã lựa chọn được câu lạc bộ thích hợp với tính cách của mình đó là Câu lạc bộ Truyền thông. Và nếu còn có cô gái hay chàng trai nào phân vân về việc có nên chọn Trường Đại học Thủy lợi hay không, thì tin mình đi sự lựa chọn của các bạn là chính xác! ” – Cẩm Ly tâm sự.

    ​

    Tân sinh viên khóa 63 ngành Quản trị kinh doanh cũng bày tỏ mong muốn trong thời gian tới sẽ học tập được nhiều điều bổ ích, có thêm nhiều kỹ năng và trở thành sinh viên ưu tú tại ngôi trường giàu truyền thống – Đại học Thủy lợi.

    Tin liên quan: https://svvn.tienphong.vn/nu-sinh-que-hung-yen-duoc-tuyen-thang-vao-truong-dai-hoc-thuy-loi-post1380799.tpo

    Bích Việt